Đô sát viện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đô sát viện nhà Nguyễn)
Jump to navigation Jump to search

Đô sát viện (都察院, Censorate) là cơ quan tối cao trong các triều đại Trung QuốcViệt Nam xưa, với trọng trách thay mặt vua giám sát, đàn hặc và kiến nghị mọi hoạt động của quan lại các cấp, lẫn trọng trách giám sát việc thi hành luật pháp và thực hiện nghiêm chỉnh các quy tắc triều đình ban hành từ trung ương đến địa phương. Đô sát viện là cơ quan độc lập tại trung ương, trực thuộc sự điều hành của vua, và không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nào trong hoạt động giám sát của mình. Đô sát viện đã tạo nên một hệ thống giám sát hiệu lực và góp phần làm trong sạch hệ thống quan lại trong các triều đại quân chủ xưa

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đô sát viện nguyên đã được lập vào đời Tần Trung Quốc và tại Việt Nam, được áp dụng vào thời Nguyễn.

Năm Gia Long 3 (1804), nhà Nguyễn khảo quan chế thời Minh Thanh Trung Quốc, đặt các chức quan phụ trách công tác giám sát tối cao là Đô ngự sử và Phó Đô ngự sử phụ trách Ngự sử đài, tiền thân của Đô sát viện.

Năm Minh Mạng 8 (1827), đặt thêm các Cấp sự trung lục khoaGiám sát ngự sử tại các đạo. Năm Minh Mạng 13 (1832), Đô sát viện được chính thức thành lập là một viện và trở thành một cơ quan giám sát tối cao với đầy đủ các quy chế kiểm sát các cơ quan hành chính trung ương với Lục khoa và kiểm sát các cơ quan hành chính địa phương, với Giám sát ngự sử các đạo. Bắt đầu từ thời này, Đô sát viện, là một cơ quan hội đồng, cùng với Đại lý tự (cơ quan xét xử tối cao) và bộ Hình nằm trong Tam pháp ty, tức là hệ thống tư pháp của triều đình nhà Nguyễn.

Thời Nguyễn, quan Thông chính sứ, Đại lý tự khanh, Đô sát viện Hữu đô ngự sử, và 6 vị Thượng thư Lục Bộ, hợp thành Cửu khanh của triều đình nhà Nguyễn.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng đầu Đô sát viện là 4 vị đại thần giữ các chức vụ sau:

  • Tả Đô ngự sử và Hữu Đô ngự sử (tức là Trưởng quan Đô sát viện), hàm ngang với chức Thượng thư các bộ, trật Chánh nhị phẩm. Tả Đô ngự sử không chuyên đặt.
  • Tả phó Đô ngự sử và Hữu phó Đô ngự sử, hàm ngang với Tham tri các bộ, trật Tòng nhị phẩm

Bên dưới bốn vị đại thần trên là Lục khoa và 16 vị Giám sát ngự sử 16 đạo.

Tại kinh thành, Lục khoa là các cơ quan Đô sát viện giám sát tất cả các bộ, nha cấp trung ương. Lục khoa, được điều hành bởi 1 quan Cấp sự trung tại mỗi khoa, trật Chánh ngũ phẩm năm 1827, Tòng tứ phẩm năm 1837, gồm:

Tại địa phương, Giám sát đạo là các cơ quan Đô sát viện giám sát tất cả các nha cấp địa phương. Giám sát đạo, được điều hành bởi 1 quan giám sát ngự sử tại mỗi đạo. Về trật phẩm, các Giám sát ngự sử tại các đạo (với chức danh như Kinh kỳ đạo Ngự sử hoặc An Tỉnh đạo Ngự sử) đồng trật Chánh ngũ phẩm. Toàn quốc được chia ra gồm các Giám sát đạo như sau:

  • Đạo Kinh kỳ, giám sát kinh đô Thừa Thiên Huế;
  • Đạo Sơn Hưng Tuyên, giám sát ba tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang;
  • Đạo Lạng Bình, giám sát hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng;
  • Đạo Ninh Thái, giám sát hai tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên;
  • Đạo Hải An, giám sát hai tỉnh Hải Dương, Quảng Yên;
  • Đạo Định Yên, giám sát hai tỉnh Nam Định, Hưng Yên;
  • Đạo Hà Ninh, giám sát hai tỉnh Hà Nội, Ninh Bình;
  • Đạo Thanh Hóa, giám sát tỉnh Thanh Hóa;
  • Đạo An Tĩnh, giám sát hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh;
  • Đạo Bình Trị, giám sát hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị;
  • Đạo Nam Ngãi, giám sát hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi;
  • Đạo Bình Phú, giám sát hai tỉnh Bình Định, Phú Yên;
  • Đạo Thuận Khánh, giám sát hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa;
  • Đạo Định Biên, giám sát hai tỉnh Gia Định, Biên Hòa;
  • Đạo Long Tường, giám sát hai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường;
  • Đạo An Hà, giám sát hai tỉnh An Giang, Hà Tiên.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Nam thực lục chính biên, nhiệm vụ các quan ngự sử được giao như sau:

  • Tả Hữu Đô Ngự Sử: "Giữ việc chỉnh đốn chức phận các quan để nghiêm phong hoá cho đúng phép tắc".
  • Tả, Hữu phó Đô Ngự Sử: "Xem xét các việc trong viện và giúp việc cho Tả hữu đô ngự sử, được giao cho việc trình bày điều phải, đàn hặc việc trái".
  • Cấp sự trung phụ trách 6 khoa có nhiệm vụ: "Nếu gặp những việc chậm trễ, trái pháp, lầm lẫn và nhũng tệ quan lại do bọn nha lại gian xảo đổi trắng, thay đen đều phải vạch rõ sự thực mà hặc tấu".
  • Giám sát ngự sử 16 đạo có nhiệm vụ: "Kiểm xét địa phương đạo mình, nếu quan lại có những tệ tham ô, chậm trễ trái pháp, thì tuỳ việc mà vạch ra, tham hặc. Phàm quan viên văn võ ở kinh thấy ai không công bằng, không giữ phép đều được phép hặc tấu".

Dưới triều Nguyễn, Đô sát viện có các nhiệm vụ sau đây:[1]

  • Quyền đàn hạch, nghĩa là quyền vạch rõ các tội lỗi, vi phạm của các quan lại từ bá quan đến các hoàng thân, hoàng tử;
  • Quyền tấu trình trực tiếp với vua;
  • Quyền ghi chép các lời nói, hành động của vua và quan chức trong các ngày hội triều (gồm các phiên đại triều, phiên thường triều, và phiên ngự điện thính), nghe chính sự, tài liệu ghi chép nộp cho Quốc sử quán làm tư liệu;
  • Quyền kiểm tra các bộ, nha trong triều như việc tế tự,thiết triều, ngoại giao, trường thi, kho tàng, v.v.;
  • Quyền phúc duyệt các bản án;

Các quan lại của các khoa, đạo hoạt động độc lập rất cao và ý kiến tấu sớ của họ có thể được gửi thẳng lên vua mà không phải trình qua Trưởng quan phê duyệt. Ví dụ, khi vua Minh Mạng băng hà, để tỏ lòng hiếu nghĩa, vua Thiệu Trị tổ chức việc tang lễ quá dài, gây ảnh hưởng đến hoạt động thường nhật của dân chúng, quan Giám sát ngự sử đạo Lạng Bình lúc đó là Doãn Khuê, dâng sớ trực tiếp can gián.

Ngoài việc giám sát thường xuyên của Đô sát viện, triều đình còn thường cử những đoàn thanh tra xuống các địa phương, tại những điểm nóng về kinh tế (vùng mới khai hoang), hoặc nơi vừa trải qua dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh... giải quyết công việc tại chỗ, gọi là chế độ Kinh lược đại sứ. Nổi tiếng nhất là đoàn Kinh lược sứ của Thượng thư bộ Binh, Cơ mật viện đại thần Trương Đăng Quế, thanh tra toàn bộ 6 tỉnh Nam kỳ vào năm 1836, để lần đầu tiên thiết lập hệ thống sổ sách địa chính của lục tỉnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]