Đế hệ thi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đế hệ thi (chữ Hán: 帝係詩) là một bài thơ do Minh Mạng Đế định để đặt tên cho con cháu của mình. Ngoài ra, ông còn định luôn 10 bài Phiên hệ thi (藩系詩) để đặt tên cho con cháu các thế hệ của các anh em mình (tức con trai của Gia Long Đế).

Về nguồn gốc của quyết định này, tương truyền vào năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Minh Mạng Đế dựa vào thuyết Chính danh của Khổng Mạnh, đã sai ông Đinh Nguyễn Phiên làm ra 2 bộ thơ này, tuy nhiên vẫn chưa được khảo chứng chính xác thông tin này[1] .

Đế hệ thi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài Đế Hệ Thi gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ từ Minh Mạng Đế trở về sau.

Nguyên văn
...
綿洪膺寶永
保貴定隆長
賢能堪繼述
世瑞國嘉昌
Phiên âm
...
MIÊN HƯỜNG[2] ƯNG BỬU VĨNH
BẢO QUÝ ĐỊNH LONG TRƯỜNG
HIỀN NĂNG KHAM KẾ THUẬT
THẾ THOẠI[3] QUỐC GIA XƯƠNG
Tạm dịch
...
Huân nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng,
Gắng giữ gìn cho xứng ân sau.
Phồn vinh thịnh đạt dài lâu,
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn.
Đời đời nối nghiệp tiền nhân,
Nước nhà hưng vượng muôn phần phát huy.

Giải nghĩa:

  • MIÊN: Trường cửu, phước duyên trên hết
  • HƯỜNG (HỒNG): Oai hùng, đúc kết thế gia
  • ƯNG: Nên danh, xây dựng sơn hà
  • BỬU: Bối báu, lợi tha quần chúng
  • VĨNH: Bền chí, hùng anh ca tụng
  • BẢO: Ôm lòng, khí dũng bình sanh
  • QUÝ: Cao sang, vinh hạnh công thành
  • ĐỊNH: Tiền quyết, thi hành oanh liệt
  • LONG: Vương tướng, rồng tiên nối nghiệp
  • TRƯỜNG: Vĩnh cửu, nối tiếp giống nòi
  • HIỀN: Tài đức, phúc ấm sáng soi
  • NĂNG: Gương nơi khuôn phép bờ cõi
  • KHAM: Đảm đương, mọi cơ cấu giỏi
  • KẾ: Hoạch sách, mây khói cân phân
  • THUẬT: Biên chép, lời đúng ý dân
  • THẾ: Mãi thọ, cận thân gia tộc
  • THOẠI (THỤY): Ngọc quý, tha hồ phước lộc
  • QUỐC: Dân phục, nằm gốc giang san
  • GIA: Muôn nhà, Nguyễn vẫn huy hoàng
  • XƯƠNG: Phồn thịnh, bình an thiên hạ

Tuy nhiên, chưa dừng lại đó, trong Ngự chế mạng danh thi còn quy định đi kèm với mỗi chữ trong bài Đế hệ thi là một bộ chữ riêng:

Miên + (宀; miên), Hường + (亻; nhân), Ưng + (礻; thị), Bửu + (山; sơn), Vĩnh + (玉; ngọc)
Bảo + (阜; phụ), Quý + (亻; nhân), Định + (言; ngôn), Long + (扌; thủ), Trường + (禾; hòa)
Hiền + (貝; bối), Năng + (力; lực), Kham + (扌; thủ), Kế + (言; ngôn), Thuật + (心; tâm)
Thế + (玉; ngọc), Thoại + (石; thạch), Quốc + (大; đại), Gia + (禾; hòa), Xương + (小; tiểu)

Tên đặt cho các hoàng tử lúc chưa làm Hoàng đế, bắt buộc phải dùng một chữ có bộ đó, ví dụ:

  • Thiệu Trị Đế, tên thật Miên Tông (綿宗): có chữ lót là [Miên; 綿], và tên là [Tông; 宗 thuộc bộ miên 宀], và tất cả các anh em của Thiệu Trị cũng đều phải có tên có chữ bộ Miên cả. Sau khi Thiệu Trị Đế lên ngôi, con của các vị hoàng tử anh em của nhà vua phải đặt tên không được có bộ [nhân; 亻], trừ các con của Thiệu Trị Đế.
  • Tự Đức Đế không có con, nên lấy cháu làm Thái tử. Người cháu được chọn kế vị tên là Nguyễn Phúc Ưng Ái, chữ lót thì đúng, nhưng tên không có bộ [thị; 礻], xét ra trên hoàng phổ không phải dòng họ chính của Hoàng đế, nên để được lập, Ưng Ái được đổi tên thành Ưng Chân (膺禛), chữ Chân này có bộ thị.

Với bài [Đế hệ thi], Minh Mạng Đế mong muốn sau mình, vương triều Nguyễn sẽ truyền nối tới 20 đời, 500 năm. Nhưng cuối cùng chỉ dừng lại ở chữ Vĩnh - đời thứ 5, do 11 Hoàng đế nối tiếp thuộc cả chi khác và thế hệ trước.

  • Thế hệ đầu theo Đế hệ thi là Hoàng đế thứ 3 Thiệu Trị Đế - Nguyễn Phúc MIÊN Tông.
  • Thế hệ thứ 2 có 2 vị vua là Hoàng đế thứ 4 Tự Đức Đế - Nguyễn Phúc HỒNG Nhậm và Hoàng đế thứ 6 Hiệp Hòa Đế - Nguyễn Phúc HỒNG Dật.
  • Thế hệ thứ 3 gồm 4 vị vua:
  • Thế hệ thứ 4 có Hoàng đế thứ 10 Thành Thái Đế - Nguyễn Phúc BỬU Lân và Hoàng đế thứ 12 Khải Định Đế - Nguyễn Phúc BỬU Đảo.
  • Hai vị vua thuộc thế hệ thứ 5 là Hoàng đế thứ 11 Duy Tân Đế - Nguyễn Phúc VĨNH San và vị Hoàng đế cuối cùng (Hoàng đế thứ 13) Bảo Đại Đế - Nguyễn Phúc VĨNH Thụy.

Các quy định trên dành cho Hoàng tử, còn đối với Hoàng nữ thì việc đặt chữ lót khác hẳn:

  • Các Hoàng nữ (thế hệ 1) đặt tên thời Gia Long còn theo chữ Ngọc (玉), nhưng về sau đều theo ý nghĩa mà đặt. Khi đến tuổi trưởng thành, các Hoàng nữ sẽ nhận danh hiệu Công chúa. Như Hoàng nữ Vĩnh Trinh, có phong hiệu Quy Đức công chúa (歸德公主) vậy.
  • Cháu gái của Hoàng đế (thế hệ 2), tức là con gái của những Công chúa và các Hoàng tử, được gọi là Công Nữ (公女); chắt gái (thế hệ 3) được gọi là Công Tôn Nữ (公孫女); chắt gái (thế hệ 4) là Công Tằng Tôn Nữ (公曾孫女)... để cho gọn, họ thường được rút ngắn lại thành Tôn Nữ với ý nghĩa là cháu gái của các Hoàng đế. Các Tôn Nữ không có phong hiệu.

Bài Đế hệ thi được khắc trong một cuốn sách bằng vàng (kim sách)[4], cất trong hòm vàng (kim quỹ) để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, các bài Phiên hệ thi cũng được khắc trong các cuốn sách bằng bạc. Hiện nay, kim sách Đế hệ thi đang được lưu giữ tại [Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam]. Sách làm theo khổ chữ nhật đứng, gồm 13 tờ vàng, gồm bìa trước và sau chạm hình rồng bay trong mây và 11 tờ ruột khắc sách văn, gáy đóng 4 khuyên tròn.

Ngày 31 tháng 3, năm 2016, sau nhiều thăng trầm lịch sử, lần đầu tiên kim sách Đế hệ thi đã được Bảo tàng Lịch sử quốc gia đưa ra giới thiệu tới quảng đại công chúng trong cuộc trưng bày chuyên đề "Bảo vật hoàng cung - Kim sách Triều Nguyễn (1802 - 1945)"

Phiên hệ thi[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Mạng Đế ban cho dòng họ của các con của Gia Long Đế 10 bài phiên hệ thi[5]:

1. Anh Duệ hệ[6]
Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
Liên Huy Phát Bội Hương
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang
2. Kiến An hệ (hoàng tử thứ 5)
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật
Du Hành Suất Nghĩa Phương
Dưỡng Di Tương Thực Hảo
Cao Túc Thể Vi Tường
3. Định Viễn hệ (hoàng tử thứ 6)
Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha
Nghiễm Khác Do Trung Đạt
Liên Trung Tập Cát Đa
4. Diên Khánh hệ (hoàng tử thứ 7)
Diên Hội Phong Hanh Hiệp
Trùng Phùng Tuấn Lãng Nghi
Hậu Lưu Thành Tú Diệu
Diễn Khánh Thích Phương Huy
5. Điện Bàn hệ (hoàng tử thứ 8)
Tín Diện Tư Duy Chánh
Thành Tôn Lợi Thỏa Trinh
Túc Cung Thừa Hữu Nghị
Vinh Hiển Tập Khanh Danh
6. Thiệu Hóa hệ (hoàng tử thứ 9)
Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lý
Văn Tri Tại Mẫn Du
Ngưng Lân Tài Chí Lạc
Địch Đạo Doãn Phu Hưu
7. Quảng Oai hệ (hoàng tử thứ 10)
Phụng Phù Trưng Khải Quảng
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ
Điển Học Kỳ Gia Chí
Đôn Di Khắc Tự Trì
8. Thường Tín hệ (hoàng tử thứ 11)
Thường Cát Tuân Gia Huấn
Lâm Trang Túy Thạnh Cung
Thận Tu Dy Tấn Đức
Thọ Ích Mậu Tân Công
9. An Khánh hệ (hoàng tử thứ 12)
Khâm Tùng Xưng Ý Phạm
Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy
Khải Dễ Đang Cần Dự
Quyên Ninh Cộng Tráp Hy
10. Từ Sơn hệ (hoàng tử thứ 13)
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
Phu Văn Ái Diệu Dương
Bách Chi Quân Phụ Dực
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương

Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ, nhưng tên ở mỗi đời thì phải dùng một bộ trong ngũ hành theo thứ tự: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa và trở lại, vì thế tên của tất cả đời thứ nhất dùng bộ thổ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1989, tác giả ?, trang ?. Xem thêm [1]
  2. ^ HƯỜNG - kỵ húy HỒNG
  3. ^ THOẠI - kỵ húy THỤY
  4. ^ Năm 1945, khi Bảo Đại Đế thoái vị đã nộp lại cho Chính phủ Việt Minh ấn kiếm và kim sách này, nên hiện nay không rõ số phận kim sách ra sao
  5. ^ một số hoàng thân mất sớm, không có con nên không được ban
  6. ^ con Hoàng Tử Cảnh

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]