Nguyễn Phúc Đài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kiến An Vương
建安王
Hoàng tử Việt Nam (chi tiết...)
Thông tin chung
Thê thiếp Trương thị
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Đài
Thụy hiệu Kiến An Cung Thuận Vương
建安恭慎王
Triều đại Nhà Nguyễn
Thân phụ Gia Long
Thân mẫu Hoàng hậu Thuận Thiên
Sinh 5 tháng 10 năm 1795[1]
Mất 14 tháng 11, 1849 (54 tuổi)[1]
Phú Xuân, Đại Nam

Nguyễn Phúc Đài (chữ Hán: 阮福旲; 5 tháng 10 năm 1795 - 14 tháng 11 năm 1849), tước hiệu Kiến An vương (建安王), là hoàng tử thứ năm của vua Gia Long.

Kiến An vương nổi tiếng là người giỏi thơ văn, biết dùng tính độ lượng đãi ngộ sĩ phu, tin yêu sách vở, để lại các tập Dưỡng mông, Bảo quang, là một trong những người có học thức nổi tiếng trong tôn thất nhà Nguyễn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến An vương Nguyễn Phúc Đài sinh vào ngày 5 tháng 10, năm 1795, khi Gia Long vẫn còn là Nguyễn Vương, liên tục phải giằng co với quân Tây Sơn. Mẹ ông là Vương phi Trần Thị Đang, cũng là của vua Minh Mạng sau này. Năm 1817, được phong là Kiến An công (建安公).

Đầu thời Minh Mạng, Kiến An công là người tiêu pha nhiều, đến nỗi bổng lộc không đủ. Vua Minh Mạng khi đến thăm, biết được, cho 20 quan tiền, răn rằng: Em phải nghĩ dấy, bổng lộc của người là mỡ béo của dân tất phải kính sẻn, để nối nghiệp nhà, chớ hoang phí để hại đức. Ta vì thiên hạ giữ của, há có thể thưởng dùng của công để làm ơn riêng được ư?.

Năm 1833, Kiến An công sai thuộc viên trong phủ là Lê Văn Quát (黎文适) đi Hà Nội mua ngựa, Quát đi tắt lên Cao Bằng, yêu sách của dân, tuần phủ Lạng SơnHoàng Văn Quyền đem việc ấy tâu cho vua Minh Mạng biết, Quát phải tội xử tử, Kiến An công bị phạt bổng một năm. Năm ấy, Lê Văn Khôi nổi dậy, Kiến An công lấy cớ người vợ lẽ là cháu gọi Khôi bằng cậu, xin truất làm tì. Minh Mạng bảo rằng: "Cháu gọi bằng cậu là bên ngoại, luật cũng không khép tội nay đã truất làm tì, chuẩn cho được đoàn tụ. Và về việc ấy em không can hệ gì, bất tất phải suy sợ quá làm gì nên cứ chiếu lệ thưởng chầu hầu".

Năm 1842, thời vua Thiệu Trị, Kiến An công lúc này đã già yếu, bởi biểu hiện tốt nên được ưu đãi miễn quỳ lạy chỉ cần làm lễ một vái. Năm thứ 3 quốc tang đã hết, lại được miễn bưng chén dâng rượu chúc thọ, liệt vào ngồi trên để bồi hầu, mỗi khi có tiệc yến ở đại đình. Lại cấp cho một chiếc thuyền Trường bồng sam bản để phòng khi theo hầu. Năm thứ 4, Kiến An công lên tuổi thọ 50, thưởng trước cho 2000 quan tiền, lại sai hoàng tử mang tờ dụ và các vật hạng ban cho để làm đồ dùng mừng thọ. Kiến An công được yêu quý, trọng vọng phần nhiều như thế.

Năm 1849, thời Tự Đức, mùa thu, Kiến An công mất, thọ 55 tuổi. Tự Đức vô cùng thương tiếc, nghỉ coi chầu 5 ngày, truy tặng là Kiến An vương (建安王), tên thụy là Cung Thuận (恭慎); hậu cấp của công, sai quan sửa việc tang, ngày an táng sai quan đến tế một đàn.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Lương Kỳ (阮福良圻), chết năm Minh Mạng thứ 9 (1829), tặng là Phụng Quốc khanh (奉國卿).
  2. Nguyễn Phúc Lương Viên (阮福良垣), năm Thiệu Trị thứ 3 (1844) phong là Phúc Trạch đình hầu (福澤亭侯); năm Tự Đức thứ 8 (1855) tập phong Kiến An quận công (建安郡公).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Nam Liệt Truyện, quyển 2: truyện của các hoàng tử.