Bae Yong-jun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bae Yong Joon
배용준
Bae Yong Joon.jpg
Tên khai sinh Bae Yong-jun
Sinh 29 tháng 8, 1972 (43 tuổi)
Seoul,  Hàn Quốc
Tên khác Yon-sama
Nghề nghiệp Diễn viên, người mẫu, doanh nhân
Hoạt động 1994 (1994)–đến nay
Hôn nhân Park Soo-jin
Trang web Official site
Bae Yong-jun
Hanja 裵勇浚
Romaja quốc ngữ Bae Yong-jun
McCune–Reischauer Pae Yong-chun

Bae Yong-jun (sinh ngày 29 tháng 8 năm 1972) là một nam diễn viên Hàn Quốc được đông đảo các khán giả hâm mộ biết đến với tên Yon-sama (ヨン様) tại Nhật Bản. Bae Yong Joon là người tạo nên làn sóng Hàn Quốc (Hallyu) kể từ bộ phim Bản tình ca mùa Đông. Năm 2006 anh thành lập công ty Keyeast.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bae Yong-jun sinh tại Mapo-gu, Seoul, từng học Mẫu giáo Il-Mun, Tiểu học Myung-Il, Trung học Baejae, Cao trung Hanyoung, Tốt nghiệp khoa Nghệ thuật Đại học Sungkyunkwan vào năm 1999.[1]

Sở thích: Chơi golf, chơi game trên vi tính, cử tạ, câu cá, đọc sách, xem phim điện ảnh, và chơi piano, chụp ảnh. Sở trường: Chơi golf, bơi lội, đua thuyền, trượt tuyết, chơi bowling, 2 môn võ hopkido và kendo.

Bạn thân trong nghề: Kim Tae Woo, Kim Seung Woo, Kwon Oh Joong

Tháng 12 năm 2003, Bae Yong Joon chính thức công khai trên trang web cá nhân rằng anh đang hẹn hò với một nữ sinh viên cùng trường tên là Lee Sa Gang sinh năm 1980, lúc đó đang là sinh viên khoa đạo diễn của trường SungKungKwan.[2] Tại Nhật BảnHàn Quốc, Lee Sa Gang nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Tuy nhiên, chuyện tình của họ nhanh chóng kết thúc mà không đưa ra bất kỳ lời giải thích chính thức nào (Có thể do áp lực từ fans quá lớn).[3]

Tháng 12 năm 2013, ae Yong Joon chính thức công khai rằng anh đang hẹn hò với 1 cô gái tên Goo Soo Hee sinh năm 1986 là cháu gái của người thành lập tập đoàn LG. Cô đang là nghiên cứu sinh 1 trường DH ở Seoul. Nhưng gia đình cô gái phản đối vì xuất thân diễn viên của Bae Yong Joon nên đến tháng 1 năm 2015 Bae YongJoon tuyên bố hai người đã chính thức chia tay.

Ngày 14 tháng 5 năm 2015 Bae Yong Joon tuyên bố trne6 trang web của Keyeast rằng anh và nữ diễn viên Park Soo Jin cũng thuộc công ty KE sẽ kết hôn vào mùa thu năm nay. Hai người bắt đầu hẹn hò từ tháng 2. Tuy mối quan hệ mới bắt đầu nhưng Bae Yong Joon đã bị thu hút bởi tính cách tươi sáng và cách cư xử của Park Soo Jin, trong khi Park Soo Jin thích sự ấm áp và nhạy cảm của Bae Yong Joon. Cả hai gia đình đều đã chấp thuận, còn chi tiết cụ thể cho đám cưới thì vẫn chưa được quyết định

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phim đầu tiên anh tham gia là "Ppilku" vào năm 1994. Sau đóng vai chính trong Salut D'Amour, "Six steps to separation" vào cuối năm 1994 và 1995. Và bắt đầu được chú ý sau vai phụ trong phim "Sunny place of the young". Trong phim, anh vào vai người thừa kế của 1 tập đoàn mỹ phẩm và là bạn thân của nhân vật chính Lee Jong Won đóng. Qua vai diễn này, anh bắt đầu tạo nên ấn tượng về một hình ảnh "quý tộc". Vai diễn được trông đợi tiếp theo của anh là Chan woo trong Mối tình đầu. Nhân vật "Chan-woo" la 1 chàng trai trẻ, thông minh nhưng có quá khứ phức tạp, đã bỏ trường Luật để tham gia vào một băng xã hội đen nhằm trả thù cho gia đình mình.

Sau năm 1999, Bae dự định rời xa nghiệp diễn viên để theo ngành nghiên cứu phim của Đại học Sungkyunkwan. Năm 2001, quay lại với màn ảnh nhỏ trong phim "Người quản lý khách sạn". Lần này, anh định nuôi tóc dài (theo như 1 bức ảnh của anh trên trang web fan lập ra).

Bae trở nên nổi tiếng khắp thế giới qua vai diễn tiếp theo trong 1 bộ phim tâm lý: Bản tình ca mùa đông. Mặc dù đây là phim truyền hình chứ không phải phim điện ảnh nhưng tỷ suất người xem tại Nhật Bản đạt 20% trên toàn quốc. Điều này đưa đến cho cả Bae và diễn viên đóng cặp với anh Choi Ji Woo một cơ hội mở rộng tầm ảnh hưởng của mình từ Hàn Quốc sang Nhật Bản. Sau Bản tình ca mùa đông, những bộ phim truyền hình cũng như điện ảnh của Hàn Quốc cũng trở nên quen thuộc, được biết đến nhiều hơn ở Nhật Bản. Hình ảnh Kang Jun-sang của Bae trong Bản tình ca mùa đông gây được sự chú ý rất lớn trong Làn sóng Hàn Quốc.

Bae giành được 1 địa vị vững chắc hơn tại Nhật BảnChâu Á sau khi tham gia vai chính Jo Won trong phim "Untold Scandal"

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2011:Dream High (KBS)
  • Winter sonata anime (DATV 2009)
  • 2007: Thái vương tứ Thần kí (MBC)
  • Hotelier (TV Asahi, 2007, ep1)
  • 2002: Bản tình ca mùa đông (Winter Love Story, KBS)
  • 2001: Người quản lý khách sạn (MBC)
  • 1999: Thành thật với tình yêu (MBC)
  • 1998: The Barefooted Youth (KBS)
  • 1997: Mối tình đầu (KBS)
  • 1996: Papa (KBS)
  • 1995: A Sunny Place of The Young (KBS)
  • 1995: Sea Breeze (PSB)
  • 1995: Six Steps to Separation (KBS)
  • 1994: Salut D'Amour (KBS)

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2005: April snow (Tuyết tháng tư)
  • 2003: Untold Scandal
  • 1994: Pilku

MV[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2001 Goodbye My Love (Jo Sung Mo)
  • 2002 Ditto and Sympathy 2

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2007 MBC Drama Awards: Best Couple Award (Thái vương tứ Thần kí)
  • 2007 MBC Drama Awards: Daesang (Grand Prize)
  • 2004 40th Baeksang Arts Awards: Best New Actor Award (The Untold Scandal)
  • 2003 24th Blue Dragon Awards: Popularity Award (The Untold Scandal)
  • 2003 24th Blue Dragon Awards: Best New Actor Award (The Untold Scandal)
  • 2002 KBS Drama Awards: Best Actor Award (Bản tình ca mùa đông)
  • 2002 KBS Drama Awards: Popularity Award
  • 2002 38th Baeksang Arts Awards: Popularity Award
  • 1997 33rd Baeksang Arts Awards: Popularity Award
  • 1996 KBS Drama Awards: Valuable Actor Award
  • 1996 KBS Drama Awards: Popularity Award
  • 1995 KBS Drama Awards: Photogenic Award
  • 1995 KBS Drama Awards: Best New Actor Award

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2004: The Image: Volume 1
  • 2005: 100 days of Bae Yong Joon
  • 2007: BYJ family book
  • 100 Days of Bae Yong Joon (Japan Version) 2005
  • Remembrances Photo Album - Korean Superstars' Images
  • After Rain - Utsukushiki Korean Star no Sugao (Japan Version)
  • Star Mondo Korean Star Photo Album (Japan Version)
  • The Man - Korean Top Star Photo Album (Japan Version)
  • 2009 [Book] A Journey in search of Korea Beauty

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]