Barbra Banda

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Barbra Banda
Barbra Banda thi đấu cho Zambia vào năm 2023
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 20 tháng 3, 2000 (23 tuổi)[1]
Nơi sinh Lusaka, Zambia
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin đội
Đội hiện nay
Shanghai Shengli
Số áo 11
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2016–2018 Green Buffaloes
2018–2020 Logroño 28 (16)
2020– Shanghai Shengli 13 (18)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2014 U-17 Zambia 3 (0)
2016– Zambia 56 (49)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 31 tháng 7 năm 2023
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 5 tháng 12 năm 2023

Barbra Banda (sinh ngày 20 tháng 3 năm 2000 tại Lusaka, Zambia) là một cựu vận động viên boxing kiêm cầu thủ bóng đá hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo[2] cho câu lạc bộ Trung Quốc Shanghai Shengli và là đội trưởng của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Zambia.[3] Tính đến tháng 7 năm 2021, cô là nữ cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho bóng đá châu Phi trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè. Năm 2021, cô lập kỷ lục khi ghi 2 cú hat-trick liên tiếp vào lưới của Hà LanTrung Quốc tại môn bóng đá nữ của Thế vận hội Mùa hè 2020 diễn ra trên đất Nhật Bản.[4][5] Vào năm 2020, cô là vua phá lưới tại Giải bóng đá nữ Ngoại hạng Trung Quốc.

Vào tháng 9 năm 2022, cô cùng tuyển Zambia giành chức vô địch tại Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2022, một giải đấu bóng đá nữ dành cho các đội tuyển quốc gia đến từ khu vực Nam Phi. 10 bàn thắng tại giải đấu đã giúp cô mang về danh hiệu Vua phá lưới.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Barbra Banda sinh ngày 20 tháng 3 năm 2000 tại Lusaka, Zambia. Cô bắt đầu nên duyên với bóng đá vào năm 7 tuổi khi cô chơi môn thể thao này ở trên đường phố.[6][7] Banda được truyền cảm hứng từ người cha của cô, người đã dạy cô cách chơi bóng và khuyến khích cô tập luyện.[8] Cô thi đấu cùng đội nam vì học viện nơi cô đang theo học không có đội nữ.[9]

Video
Zambia's Barbra Banda: The striker who is also a boxer lưu trữ vào ngày 7 tháng 7 năm 2023

Sau khi được truyền cảm hứng từ vận động viên boxing chuyên nghiệp người Zambia Catherine Phiri, cô bén duyên với boxing từ năm 14 tuổi.[6][8][10] Cô đã thi đấu boxing chuyên nghiệp 5 trận và toàn thắng cả 5 trước khi trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp.[11]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

EDF Logroño, 2018–2019[sửa | sửa mã nguồn]

Banda đã ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng nhất của Tây Ban Nha EDF Logroño vào tháng 10 năm 2018, qua đó trở thành nữ cầu thủ đầu tiên Zambia thi đấu ở châu Âu.[8] Cô đã ghi được 16 bàn thắng sau 28 trận thi đấu cho câu lạc bộ này.[8]

Shanghai Shengli, 2020–nay[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2020, cô đã ký hợp đồng với câu lạc bộ đang thi đấu tại Giải bóng đá nữ Ngoại hạng Trung Quốc Shanghai Shengli.[12] Cô ghi bàn ở phút thứ 23 ngay trong trận ra mắt đội bóng mới vào ngày 23 tháng 8 năm 2020.[9] Banda tiếp tục ghi 18 bàn sau 13 trận đấu tại giải đấu và giúp cô nhận được danh hiệu Chiếc giày vàng với nhiều bàn thắng nhất giải đấu.[13][14]

Sự nghiệp thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp độ trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Banda đại diện cho U-17 nữ Zambia tham dự Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới 2014 diễn ra tại Costa Rica. Cô tham dự giải đấu này khi mới bước sang tuổi 14.[8]

Cấp độ đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Video
Barbra Banda scores historic hat trick for Zambia lưu trữ vào ngày 7 tháng 7 năm 2023

Vào ngày 6 tháng 3 năm 2016, cô ra mắt cho đội tuyển quốc gia bằng trận đấu với Namibia tại Vòng loại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2016.

Cô được bầu làm đội trưởng của đội tuyển nữ Zambia tham dự Thế vận hội Mùa hè 2020 diễn ra tại Tokyo, Nhật Bản, và cũng là lần đầu tiên Zambia tham dự một giải đấu quốc tế.[11][15] Trong trận đấu ra quân với Hà Lan, cô đã lập một cú hat-trick trong trận thua đậm với tỷ số 3–10,[4][5] đó cũng là trận thua đậm nhất trong lịch sử bóng đá nữ Zambia, và cũng là tỷ số đậm nhất của bộ môn bóng đá nữ trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè.[16] Ở trận đấu thứ hai với Trung Quốc, một lần nữa cô lập hat-trick trong trận hòa 4–4,[4][5] đồng thời giúp cô trở thành cầu thủ bóng đá nữ đầu tiên lập 2 cú hat-trick trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè.[4][5][17] Cô cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho châu Phi trong lịch sử các kỳ Thế vận hội Mùa hè.[18][19]

Vào ngày 6 tháng 7 năm 2022, Banda cùng ba người đồng đội, trong đó có tiền đạo Racheal Kundananji bị Liên đoàn bóng đá châu Phi ra quyết định không đủ điều kiện để thi đấu cho đội tuyển nữ Zambia trong các trận đấu thuộc vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ thế giớiCúp bóng đá nữ châu Phi, sau một cuộc kiểm tra xác minh giới tính cho thấy, hàm lượng testosterone tự nhiên của họ quá cao.[20][21][22] Quyết định này của CAF đã gây ra nhiều tranh cãi, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã mô tả rằng, đó là một "sự vi phạm rõ ràng" nhân quyền của Banda.[23] Vào tháng 8 năm 2022, sau khi tuyển nữ Zambia giành hạng ba tại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2022 (mặc dù Banda không thi đấu), cô và 7 người đồng đội của mình đã được Quân đội Zambia thăng quân hàm, còn Banda được phong quân hàm Trung sĩ.[24]

Vào tháng 9 năm 2022, cô cùng tuyển Zambia giành chức vô địch tại Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2022, một giải đấu bóng đá nữ dành cho các đội tuyển quốc gia đến từ khu vực Nam Phi. 10 bàn thắng tại giải đấu đã giúp cô mang về danh hiệu Vua phá lưới.[25][26]

Vào tháng 6 năm 2023, cô được điền tên vào danh sách của đội tuyển nữ Zambia tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 diễn ra tại ÚcNew Zealand sau khi được FIFA ra phán quyết đủ điều kiện thi đấu cho đội tuyển này vào tháng 12 năm 2022.[27]

Vào ngày 7 tháng 7 năm 2023, cô lập cú đúp trong trận giao hữu với đội tuyển đang đứng thứ 2 thế giới lúc bấy giờ, Đức và giành chiến thắng gây sốc với tỷ số 3–2 ngay trên đất Đức.[28]

Vào ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023, cô đã giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu khi giúp cho Zambia giành chiến thắng trước Costa Rica với tỷ số 3–1.[29][30]

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Số thứ tự Ngày Địa điểm Đối thủ Ghi bàn Kết quả Giải đấu
1 13 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Barbourfields, Bulawayo, Zimbabwe  Malawi 3–1 6–3 Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2017
2 15 tháng 9 năm 2017  Zimbabwe 1–0 1–1
3 17 tháng 9 năm 2017  Madagascar 2–0 2–1
4 2–1
5 21 tháng 9 năm 2017  Nam Phi 1–0 3–3
6 23 tháng 9 năm 2017  Kenya 1–1 1–1
7 4 tháng 4 năm 2018 Sân vận động Quốc gia, Dar es Salaam, Tanzania  Tanzania 1–2 3–3 Vòng loại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2018
8 3–3
9 10 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Rufaro, Harare, Zimbabwe  Zimbabwe 2–1 2–1
10 13 tháng 9 năm 2018 Wolfson Stadium, Ibhayi, Nam Phi  Lesotho 2–0 2–0 Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2018
11 18 tháng 9 năm 2018  Mozambique 3–0 3–0
12 4 tháng 11 năm 2020  Lesotho 1–0 8–0 Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2020
13 2–0
14 6–0
15 28 tháng 11 năm 2020 Sân vận động San Carlos de Apoquindo, Santiago, Chile  Chile 1–1 2–1 Giao hữu
16 10 tháng 4 năm 2021 Sân vận động Bidvest, Johannesburg, Nam Phi  Nam Phi 1–0 1–3
17 21 tháng 7 năm 2021 Sân vận động Miyagi, Rifu, Nhật Bản  Hà Lan 1–3 3–10 Thế vận hội Mùa hè 2020
18 2–10
19 3–10
20 24 tháng 7 năm 2021  Trung Quốc 1–1 4–4
21 3–3
22 4–3
23 11 tháng 2 năm 2022 Sân vận động Nkoloma, Lusaka, Zambia  Nam Phi 1–0 3–0 Giao hữu
24 3–0
25 1 tháng 9 năm 2022 Sân vận động Nelson Mandela Bay, Gqeberha, Nam Phi  Namibia 1–0 2–0 Giải vô địch bóng đá nữ COSAFA 2022
26 2–0
27 4 tháng 9 năm 2022 Sân vận động NMU, Gqeberha, Nam Phi  Lesotho 1–0 7–0
28 2–0
29 4–0
30 5–0
31 6–0
32 6 tháng 9 năm 2022 Sân vận động Wolfson, Gqeberha, Nam Phi  Eswatini 2–0 2–0
33 9 tháng 9 năm 2022  Tanzania 1–0 2–1
34 11 tháng 9 năm 2022 Sân vận động Nelson Mandela Bay, Gqeberha, Nam Phi  Nam Phi 1–0 1–0 (s.h.p.)
35 21 tháng 2 năm 2023 Miracle Sports Complex, Alanya, Thổ Nhĩ Kỳ  Uzbekistan 4–0 4–0 Cúp Thổ Nhĩ Kỳ 2023
36 7 tháng 4 năm 2023 Sân vận động Suwon World Cup, Suwon, Hàn Quốc  Hàn Quốc 2–1 2–5 Giao hữu
37 30 tháng 6 năm 2023 Tissot Arena, Biel/Bienne, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ 2–1 3–3
38 7 tháng 7 năm 2023 Sportpark Ronhof Thomas Sommer, Fürth, Đức  Đức 1–0 3–2
39 3–2
40 31 tháng 7 năm 2023 Sân vận động Waikato, Hamilton, New Zealand  Costa Rica 2–0 3–1 Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023
41 22 tháng 9 năm 2023 Sân vận động Père Jégo, Casablanca, Maroc  Maroc 1–0 2–0 Giao hữu
42 2–0
43 26 tháng 9 năm 2023 Sân vận động Moulay Hassan, Rabat, Maroc  Maroc 3–1 6–2
44 4–1
45 5–1
46 29 tháng 11 năm 2023 Sân vận động 22 tháng 6, Luanda, Angola  Angola 2–0 6–0 Vòng loại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2024
47 3–0
48 5–0
49 5 tháng 12 năm 2023 Sân vận động Nkoloma, Lusaka, Zambia  Angola 2–0 6–0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Zambia[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Một số công việc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2021, Banda thành lập một quỹ mang tên nhằm hỗ trợ các chương trình thúc đẩy quyền phụ nữ và trẻ em gái để giải quyết các vấn đề bất bình đẳng kinh tế, bạo lực trên cơ sở giới, thiếu khả năng tiếp cận bình đẳng, mang thai ở tuổi vị thành niên và kết hôn sớm do sử dụng sức mạnh của thể thao. Quỹ cũng tổ chức một giải đấu bóng đá hàng năm.[33] Trong dự án này, cô nói rằng:

Cô cũng tham gia vào dự án thiện nguyện Common Goal từ năm 2019 và cam kết dành ít nhất 1% tiền lương của mình cho một quỹ tập thể để hỗ trợ các tổ chức từ thiện bóng đá trên toàn thế giới.[35]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Banda luôn coi Cristiano Ronaldo là cầu thủ mà cô ngưỡng mộ nhất.[8][36]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Barbra Banda – Thành tích thi đấu FIFA
  2. ^ “Barbra Banda – The Copper Queens star forward with the World at her feet”. Zambia Football. Truy cập 18 tháng 7 năm 2023.
  3. ^ Barbra Banda tại Soccerway
  4. ^ a b c d “Barbra Banda lập 2 hat-trick chưa từng có trong lịch sử Olympic”. Web Thể thao. Truy cập 24 tháng 7 năm 2021.
  5. ^ a b c d “Banda Barbra - Cầu thủ đầu tiên lập 2 hat-trick tại 1 kỳ Olympic”. Báo điện tử VTV. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2021. Truy cập 26 tháng 7 năm 2021.
  6. ^ a b “Zambia's Barbra Banda: The striker who is also a boxer”. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  7. ^ “Barbra Banda: "We have something within us". Olympics.org. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2022.
  8. ^ a b c d e f “Ronaldo-inspired Zambian striker Barbra Banda: "I want to leave my mark in women's football.". Ủy ban Olympic quốc tế. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  9. ^ a b “Ex-boxer Banda packing a punch for Shanghai”. China Daily. 1 tháng 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  10. ^ “In Zambia, women are boxing's stars”. Seattle Globalist. 22 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  11. ^ a b “Zambia's Barbra Banda one to watch after stellar Tokyo 2020”. DW. 7 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  12. ^ Watkins, Claire. “Barbra Banda isn't waiting around”. The Equalizer. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2021.
  13. ^ Ahmadu, Samuel (11 tháng 10 năm 2020). “Barbra Banda emerges as Chinese Women's Super League top scorer”. Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2021.
  14. ^ Mubanga Jnr, Aaron (12 tháng 10 năm 2020). “Barbra Banda wins golden boot in her first season in China”. Zambianfootball.co.zm. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2021.
  15. ^ “Barbra Banda: Zambian woman footballer packing a punch in China”. France24. 27 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  16. ^ Young, Ryan (21 tháng 7 năm 2021). “Netherlands women's soccer blows out Zambia in historic win to open Olympics”. Yahoo! News. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  17. ^ “China PR 4–4 Zambia”. Fifa.com. 24 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2023.
  18. ^ “Zambia's Barbra Banda on breaking Olympic record: I aim to become best in world”. ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  19. ^ “Nightmare for Germany! World Cup favourites suffer shock warm-up friendly defeat to 77th-ranked Zambia with Barbra Banda netting stunning 102nd-minute winner”. Goal.com. 7 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  20. ^ “Zambian soccer star Barbra Banda ineligible because of high testosterone”. Washington Post. 6 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2023.
  21. ^ “Zambia's Barbra Banda Out of WAFCON Due to Gender Eligibility Tests, per Report”. Sports Illustrated. 6 tháng 7 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2023.
  22. ^ “Women's World Cup 2023 team guides part 12: Zambia”. The Guardian. 9 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2023.
  23. ^ “Zambian Woman Footballer Sex Tested Because FIFA Allows It”. Hrw.org. 13 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2023.
  24. ^ Omotto, Joel (5 tháng 8 năm 2022). “Zambia military promotes Banda & seven others after World Cup qualification, bronze medal at 2022 Wafcon”. Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2023.
  25. ^ a b “Double delight for Barbra Banda as Copper Queens sweep COSAFA individual awards”. Zambia24. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  26. ^ “Barbra Banda back 'with a bang' for Zambia after eligibility row”. BBC. 8 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  27. ^ “Barbra Banda eligible to play at Women's World Cup, says Fifa”. BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  28. ^ “Banda answers Popp in 112th minute for Zambia to beat Germany 3-2 in Women's World Cup warmup”. Associated Press. 7 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  29. ^ Reuters (31 tháng 7 năm 2023). “Zambia defeat Costa Rica to earn first-ever Women's World Cup points”. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2023.
  30. ^ “Visa Player of the Match: Barbra Banda”. FIFA. 31 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2023.
  31. ^ “Zambia claim maiden HOLLYWOODBETS COSAFA Women's Championship title”. COSAFA. 11 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
  32. ^ “#CWSL | Topscorers of the League”. China Women's Football - 中国女足 (bằng tiếng Anh). 11 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2021.
  33. ^ “Barbra Banda Foundation, Annual Women's Challenge Cup Launched”. Zambian Football. 2 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  34. ^ 'Barbra Banda Foundation to inspire the girl-child'. Lusaka Sun. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  35. ^ “ntroducing our very first Zambian 🇿🇲 #CommonGoal members”. Common Goal. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  36. ^ “Two hat-tricks in two games: Zambia goal machine Banda taking the Olympics by storm”. The Sporting News. 26 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]