Bren

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bren
Bren wog.jpg
Súng trung liên Bren Mk II với băng đạn cong 30 viên và giá chống 2 chân.
LoạiSúng máy hạng nhẹ
Quốc gia chế tạo Anh Quốc
Lược sử hoạt động
Phục vụ19382006
Sử dụng bởiXem phần Các quốc gia sử dụng  Anh Quốc
 Israel
 Ấn Độ
 Pháp
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Đài Loan
 Hồng Kông
 Trung Quốc
 Malaysia
 Singapore
 Indonesia
 New Zealand
Cuộc chiến tranhChiến tranh Trung-Nhật
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Trung Quốc
Khủng hoảng Kênh đào Suez
Chiến tranh Trung-Ấn
Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan
Và nhiều cuộc chiến khác.
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế1935
Nhà sản xuấtRoyal Small Arms Factory
Enfield
Long Branch Factory
John Inglish and Company
Ishapore Rifle Factory
Giai đoạn sản xuất1935-1971
Các biến thểMk I, II, III, IV
Thông số
Khối lượngBren Mk1:22.83 lb(khoảng 10.35 kg)
Bren Mk2:25 lb(khoảng 11.25 kg)
Bren Mk3:19.15 lb(khoảng 8.68 kg)
Bren Mk4:21.6 lb(khoảng 9.75 kg).
Chiều dài42,9 in

Đạn.303 British
7.92x57mm Mauser
7.62x51mm NATO(sau Thế Chiến thứ 2 thì Quân đội Anh nhận thấy Bren vẫn còn dùng tốt nên họ đã tiến hành chuyển đổi cỡ đạn cho nó để nó phù hợp với cỡ đạn chung của NATO)
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Tốc độ bắn500-520 viên/phút
Vận tốc mũi2440 foot/giây (743,7 m/giây)
Tầm bắn hiệu quả550 mét
Tầm bắn xa nhất1691 m
Chế độ nạpBăng đạn cong 30 viên
Băng đạn thẳng 20 viên
Ổ đạn 100 viên (giống súng máy Lewis)
Ngắm bắnĐiểm ruồi

Súng máy Bren, thường được biết với tên gọi Bren Gun, đây là một loại súng máy hạng nhẹ, súng trung liên được quân đội Anh sử dụng trong suốt thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiênchiến tranh Đông Dương. Nó được thiết kế vào năm 1935 bởi Royal Small Arms Factory và Enfield, hai nhà máy sản xuất vũ khí nổi tiếng của nước Anh.

Trước và sau khi thế chiến thứ hai diễn ra, có nhiều nước trên thế giới đã mua rất nhiều súng Bren để trang bị cho quân đội của họ, nhưng chủ yếu là những nước "bạn thân" của nước Anh. Súng Bren cũng phục vụ một thời gian dài trong chiến tranh Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam dùng nó làm nhiều vai trò khác nhau, quân ta tịch thu súng này từ quân đội Pháp và Quân đội Anh trong Chiến tranh Đông Dương, họ gọi nó là trung liên đầu bạc bởi vì nó có cái nòng màu bạc khác hẳn các trung liên khác. Đến những năm 1960, khi quân đội Mỹ xâm lược nước ta, nó được quân ta dùng làm súng phòng không, súng bắn chặn,...

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1918, Quân đội Anh được trang bị hai vũ khí tự động chính: súng máy hạng trung Vickers (MMG) và súng máy hạng nhẹ Lewis (LMG). Vickers rất nặng và cần một lượng nước để duy trì hoạt động, điều này có xu hướng đưa nó trở lại phòng thủ thụ động và hỗ trợ hỏa lực gián tiếp. Lewis, mặc dù nhẹ hơn, nhưng vẫn nặng và dễ bị ngừng bắn thường xuyên, nòng súng của nó không thể thay thế trên thực địa, điều đó có nghĩa là việc bắn liên tục dẫn đến nóng nòng cho đến khi nó dừng hẳn.

Năm 1922, Ủy ban vũ khí cầm tay của Quân đội Anh đã tiến hành các thử nghiệm để tìm súng thay thế cho Lewis, giữa Madsen, Súng trường tự động Browning (BAR), Hotchkiss, Beardmore-Farquhar và chính Lewis. Mặc dù BAR được khuyến nghị, số lượng súng Lewis lại có sẵn và điều kiện tài chính khó khăn có nghĩa là không có gì được thực hiện. Nhiều mẫu súng máy hạng nhẹ mới đã được thử nghiệm khi chúng trở nên phổ biến, và vào năm 1930, một loạt các thử nghiệm mở rộng khác đã được bắt đầu, được giám sát bởi Frederick Hubert Vinden. Lần này các vũ khí được thử nghiệm bao gồm SIG Neuhausen KE7, Vickers-Berthier và ZB vz.26 của Tiệp Khắc. Vickers-Berthier sau đó đã được Quân đội Ấn Độ sử dụng vì nó có thể được sản xuất ngay lập tức, thay vì chờ quá trình sản xuất Lewis của Anh kết thúc. Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong Thế chiến II.

Sau những thử nghiệm này, Quân đội Anh đã sử dụng súng máy hạng nhẹ ZB vz.26 của Tiệp Khắc được sản xuất tại Brno vào năm 1935, mặc dù là một mẫu được sửa đổi một chút là ZB vz.27, thay vì ZB vz.26 đã được đệ trình cho các thử nghiệm. Thiết kế đã được sửa đổi theo yêu cầu của Anh theo chỉ định mới là súng máy ZGB 33, sau đó được cấp phép cho sản xuất của Anh dưới tên Bren. Những thay đổi chính là ở hộp tiếp đạn và nòng súng và cụm kẹp súng phía dưới đi từ khung kẹp xoay ở mặt trước của bộ phận bảo vệ cò súng sang khung kẹp trượt bao gồm giá đỡ ba chân phía trước và chốt an toàn. Băng đạn đã được uốn cong để cung cấp đạn .303 SAA ("Đạn dược vũ khí cầm tay"), một sự thay đổi từ các hộp mực thiết kế không có vành khác nhau như đạn Mauser 8 mm trước đây được sử dụng bởi các thiết kế của Tiệp Khắc. Những sửa đổi này đã được phân loại trong các biến thể được đánh số khác nhau gồm ZB vz.27, ZB vz.30, ZB vz.32, và cuối cùng là ZGB 33, được cấp phép sản xuất dưới tên Bren.

Bren dùng băng đạn rời, làm giảm tốc độ bắn và yêu cầu nạp lại thường xuyên hơn so với súng máy dùng dây đạn của Anh như súng máy .303 Vickers có tầm bắn lớn hơn. Tốc độ bắn chậm hơn ngăn chặn nóng quá nhanh của nòng làm mát bằng không khí của Bren, và Bren nhẹ hơn nhiều so với súng máy dây đạn, thường có ngăn làm mát, thường chứa đầy chất lỏng. Các băng đạn cũng ngăn không cho đạn bị bẩn, đó là vấn đề với Vickers với dây đạn vải 250 viên. Các điểm ngắm được đặt lệch về bên trái, để tránh băng đạn trên đỉnh của súng. Vị trí của các điểm ngắm có nghĩa là Bren chỉ có thể bị bắn từ vai phải.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến thứ II[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

- Mark 1: Được giới thiệu vào tháng 9/1937; bản nguyên mẫu của Bren, dựa trên mẫu súng của Tiệp Khắc. Tổng chiều dài 45.5 inch, cỡ nòng 25 inch. Nặng 22lb, 2oz.

- Mark 2: Được giới thiệu vào năm 1941. Một phiên bản đơn giản hóa của Mk1 phù hợp hơn với điều kiện sản xuất thời chiến với các tính năng thiết kế ban đầu sau đó bị phát hiện là không cần thiết. Chiều dài tổng thể 45,5 inch, chiều dài thùng 25 inch. Trọng lượng 23lb, 3oz.

- Mark 3: Một khẩu Bren ngắn hơn và nhẹ hơn do Enfield sản xuất từ ​​năm 1944 cho mặt trận phía Đông và cho Lực lượng Nhảy dù. Súng này tương tự với Mk2 nhưng với các tính năng trọng lượng nhẹ của Mk1 đời đầu. Với đặc điểm phân biệt chính là nòng ngắn hơn và có răng cưa ở phía đầu nòng. Chiều dài tổng thể 42,9 inch, chiều dài thùng 22,25 inch. Trọng lượng 19lb, 5oz.

- Mark 4: Giống với Mk3 nhưng đây là một biến thể của Mk2. Chiều dài tổng thể 42,9 inch, chiều dài nòng 22,25 inch. Trọng lượng 19lb, 2oz.

- L4: Biến thể được thiết kế năm 1958 sử dụng đạn 7.62mm NATO

- Taden: Biến thể sử dụng đạn .280 British

- Biến thể bán tự động được chế tạo ở Hoa Kỳ

Thông số kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khối lượng: Tùy từng biến thể
  • Chiều dài: 42,9 inch
  • Đạn: .303 British, 7.92x57mm Mauser, 7.62x51mm NATO
  • Cơ cấu hoạt động: Trích khí,Khóa nòng chèn nghiêng
  • Tốc độ bắn: 500-520 viên/phút
  • Vận tốc mũi: 2440 foot/giây (743,7 m/giây)
  • Tầm bắn xa nhất: 1691 m
  • Chế độ nạp: Băng đạn cong 30 viên, Băng đạn thẳng 20 viên, Ổ đạn 100 viên (giống súng máy Lewis)
  • Ngắm bắn: Điểm ruồi

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]