Công quốc Naxos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Công quốc Naxos
1207–1579
Quốc kỳ Naxos
Quốc kỳ
Quốc huy Naxos
Quốc huy
Tổng quan
Công quốc Naxos, 1450, được tô màu đậm trong Biển Aegea
Công quốc Naxos, 1450, được tô màu đậm trong Biển Aegea
Vị thếCông quốc
Thủ đôNaxos
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Venezia chính thức,
tiếng Hy Lạp phổ biến
Tôn giáo chính
Công giáo
Chính Thống giáo
Do Thái giáo
Chính trị
Chính phủPhong kiến
Công tước
Bá tước
 
• 1207–27
Marco I Sanudo
• 1383–97
Francesco I Crispo
• 1564–66
Giacomo IV Crispo
• 1566–79
Joseph Nasi
Lịch sử
Thời kỳTrung đại
1201–03
• Thành lập Công quốc
1207
• Crispo đảo chính
1383
• Bá chủ Ottoman
1537
• Chinh phục bởi Selim II
1579
Tiền thân
Kế tục
Đế quốc Byzantine
Sanjak of Nakşa Berre
* Lãnh địa này là một nước phụ thuộc, theo thứ tự, Hoàng đế Latinh tại Constantinople, triều đại Villehardouin của hoàng tử Achaea Angevin của Vương quốc Napoli và (sau 1418) Cộng hòa Venezia. Từ năm 1566-1979, công tước được cai trị như một phần của Đế chế Ottoman trước khi bị thôn tín.

Công quốc Naxos (tiếng Ý: Ducato di Nasso, tiếng Hy Lạp: Δουκάτο της Νάξου) được thành lập sau cuộc Đệ tứ chinh để liên kết các hải đảo án ngữ cửa biển Aegea và tồn tại như một quốc gia độc lập trong 4 thế kỷ. Sau khi bị Đế quốc Ottoman chinh phục, lĩnh thổ này được phép giữ quyền tự trị trong hai thập kỷ trước khi trở thành một phần phía Đông của xứ Hi Lạp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

The Duchy of Naxos and states in the Morea, carved from the Byzantine Empire, as they were in 1265 (William R. Shepherd, Historical Atlas, 1911).

Sau cuộc Thập tự chinh lần thứ tư, Đế quốc Latin dưới sự ảnh hưởng của người Venezia được thành lập tại Constantinopolis, một người VeneziaMarco Sanudo đã chinh phục hòn đảo và nhanh chóng chiếm được các đảo còn lại của Cyclades, tự lập mình làm Công tước của Naxia, Hay Công tước của Quần đảo.[1] 21 công tước thuộc hai triều đại đã cai trị Quần đảo cho đến năm 1566;[2] Quyền cai trị của người Venezia tiếp tục tại các hòn đảo rải rác trên biển Aegea cho đến năm 1714. Trong giai đoạn này, hòn đảo được gọi với tên tiếng Ý của nó, là Nasso.[3]

Ngày nay, Naxos là địa điểm duy nhất tại Hy Lạp duy trì tiếng Ý như một ngôn ngữ chính thức, bên cạnh tiếng Hy Lạp là quốc ngữ.[cần dẫn nguồn]

Quốc chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp Sanudo, Chora Naxos.

Dòng Sanudo[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Crispo[sửa | sửa mã nguồn]

(interregnum)

(interregnum)

Ottoman ủy trị[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peter Lock, Οι Φράγκοι στο Αιγαίο, Ενάλιος 1998, σελ.91. Zacour, N. P.; Hazard, H. W. (ed.), The impact of the Crusades on the Near East, σελ. 416 κ.εξ. (στο συλλογικό έργο: Setton, Kenneth M (Ed.), A History of the Crusades, volume V, Madison, Wisconsin: University of Wisconsin Press, 1985)
  2. ^ Marco Sanudo, Diarii.
  3. ^ Wolff, R. L.; Hazard, H. W. (ed.), The later Crusades, 1189-1311 σελ. 191-192