Chuyên chế quốc Ipeiros

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chuyên chế quốc Ipeiros
Ipeiros
Nhiều chư hầu của đế quốc Latin, đế quốc NicaeaPalaiologan đế quốc Byzantine, Angevin, và đế quốc Ottoman

khoảng 1205 – 1337/40a
1356–1479b

 

Quốc kỳ Quốc huy
Đế quốc Latin, đế quốc of Nicaea, đế quốc Trebizond, và Chuyên chế Epirus, khoảng 1204
Thủ đô Arta (1205–1337/40, 1430–49),
Ioannina (1356–1430), Angelokastron (1449–60)[1] · [2]
Ngôn ngữ Tiếng Hy Lạp,[3]
Tôn giáo Giáo hội Chính thống Hy Lạp
Chính quyền Quân chủ chuyên chế quốc
Chuyên chế quốc Epirus
 •  1205–1214 Michael I Komnenos Doukas
 •  1448–1479 Leonardo III Tocco
Giai đoạn lịch sử Cao Trung cổ
 •  Thiết lập 1205
 •  Byzantine chinh phục 1337/40
 •  Tái thiết lập bởi Nikephoros II Orsini 1356
 •  Ottoman chinh phục Vonitsa 1479
Hiện nay là một phần của  Albania
 Greece
a. ^ Bị thôn tín vào Đế quốc Thessalonica, 1224–30; chinh phục Nicaean tạm thời, 1259–60 [4]
b. ^ Liên minh với County palatine of Cephalonia and Zakynthos after 1416

Chuyên chế quốc Ipeiros (tiếng Hy Lạp: Δεσποτάτο της Ηπείρου) là một trong các quốc gia kế tục đế quốc Byzantine được thiết lập sau Thập tự chinh thứ tư năm 1204 bởi một nhánh triều đại Angelos. Chuyên chế quốc này này tuyên bố là thực thể thừa kế hợp pháp của Đế chế Byzantine, cùng với Đế chế NicaeaĐế chế Trebizond, các vị vua của chuyên chế quốc này đã tuyên bố ngắn gọn là Hoàng đế trong năm 1225 / 1227-1242 (trong thời gian đó thường được gọi là Đế chế Thessalonica). Thuật ngữ "Chuyên chế quốc Epirus", giống như "Đế chế Byzantine", một quy ước thuật chép sử hiện đại và không phải là tên được sử dụng vào thời điểm đó.[5][6] Chuyên chế quốc này tập trung ở vùng Epirus, cũng bao gồm Albania và và phần phía tây Macedonia thuộc Hy Lạp và cũng bao gồm Thessaly và miền tây Hy Lạp ở phía viễn nam Nafpaktos. Thông qua một chính sách mở rộng tích cực dưới Theodore Komnenos Doukas Chuyên chế quốc Epirus cũng nhanh chóng kết hợp trung tâm Macedonia với việc thành lập đế quốc Thessalonica năm 1224, và Thrace về phía đông đến tận DidymoteichoAdrianopolis, và đang trên đà chiếm lại Constantinople và khôi phục Đế chế Byzantine trước trận Klokotnitsa vào năm 1230,[7] nơi ông bị đánh bại bởi Đế chế Bulgaria. Sau đó, nhà nước Epirote ký thỏa thuận với cốt lõi của nó trong Epirus và Thessaly, và bị buộc phải tham gia vào các lực lượng khu vực khác. Nó vẫn quản lý để giữ lại quyền tự chủ của nó cho đến khi bị chinh phục bởi Palaiologan Byzantine Empire đã được phục hồi trong ca. 1337. Trong những năm 1410, Bá tước palatine của Cephalonia và Zakynthos Carlo I Tocco đã tái hợp cốt lõi của nhà nước Epirote, nhưng những người kế nhiệm của ông dần dần đánh mất nó để tiến tới Đế quốc Ottoman, với thành trì cuối cùng, Vonitsa, rơi vào tay Đế quốc Ottoman năm 1479.[8]

Quốc chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Komnenos Doukas[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Orsinio[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Nemanjića[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Buondelmontia[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Tocco[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kazhdan 1991, vol. 2, « Michael I Komnenos Doukas ».
  2. ^ Nicol 2005, tr. 28-30.
  3. ^ Dana Facaros, Linda Theodorou. Greece. New Holland Publishers, ngày 1 tháng 5 năm 2003, p. 412.
  4. ^ Treadgold 1997, tr. 712 et 717.
  5. ^ Fine 1994, tr. 68.
  6. ^ Veikou 2012, tr. 20–21.
  7. ^ Fine, The Late Medieval Balkans. S. 68 f.
  8. ^ Brendan Osswald: Citizenship in Medieval Ioannina. In: Citizenship in Historical Perspective, hrsg. v. St.G. Ellis, G. Hálfdanarson u. A.K. Isaacs. Pisa 2006, ISBN 88-8492-406-5, S. 97–105. pdf-DateiBản mẫu:Toter Link