Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ
Chính phủ bù nhìn trong Liên hiệp Pháp

 

1946–1948


Quốc kỳ

Khẩu hiệu
Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ
Thủ đô Sài Gòn
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Tôn giáo Công giáo
Phật giáo
Cao Đài
Hòa Hảo
Chính quyền Cộng hòa lập hiến
Ủy viên Cộng hòa
 •  1946 Jean Marie Arsène Cédile
 •  1948 Nguyễn Văn Xuân (cuối cùng)
Giai đoạn lịch sử Chiến tranh lạnh
 •  Tuyên bố độc lập 1 tháng 6 1946
 •  Được công nhận 1946
 •  Bãi bỏ 2 tháng 6 1948
Tiền tệ Đồng

Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (tiếng Pháp: République autonome de Cochinchine) hay các tên gọi khác: Nam Kỳ Cộng hòa quốc, Nam Kỳ quốc, Cộng hòa Nam Kỳ, Nam Kỳ Tự trị là một chính quyền tồn tại từ 1946 đến 1948, về danh nghĩa quản lý lãnh thổ Nam Kỳ (Nam Bộ) Việt Nam.

Đây là một chính thể không được ngành sử học chính thống tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại hiện nay nhắc đến nhiều.

Một số đặc điểm của Nam Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Kỳ là vùng đất mới được khai hoang có những đặc điểm lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý, phong tục, tập quán,... khác với Bắc KỳTrung Kỳ.

Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp khác hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của Triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ.

Về mặt kinh tế, Nam Kỳ hình thành một tầng lớp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của Chính quyền thuộc địa, nhiều người trong tầng lớp này mang quốc tịch Pháp. Thương mại tại Nam Kỳ đặc biệt là ngoại thương (xuất khẩu nông sản) khá phát triển. Do kinh tế phát triển nên mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền khác.

Nam Kỳ có nền báo chí hình thành sớm nhất tại Việt Nam và phát triển tương đối tự do vì người Pháp áp dụng quy chế thuộc địa chứ không phải quy chế bảo hộ như tại Bắc và Trung Kỳ. Hơn nữa Nam Kỳ còn có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp.

Chính vì thế mức độ Âu hoá về kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, luật pháp, tập quán, lối sống... ở Nam Kỳ khá cao. Ngoài ra còn phải kể đến những khác biệt do điều kiện địa lý, đặc điểm dân cư, cấu trúc xã hội và lịch sử chia cắt nhiều thế kỷ với miền Bắc (Trịnh-Nguyễn phân tranh) tạo ra.

Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền khác là những xứ sở xa lạ. Tâm lý này có thể được một số chính trị gia khai thác vì mục đích chính trị.

Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn còn tồn tại.[cần dẫn nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trước khi giải phóng được nước Pháp, Tướng De Gaulle nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp đã tuyên bố chính sách của Pháp với Đông Dương vào ngày 24 tháng 3, 1945. De Gaulle cho rằng "Năm quốc gia tạo nên Liên bang Đông Dương được phân biệt bằng văn minh, chủng tộc và truyền thống, sẽ vẫn duy trì những đặc điểm riêng của họ trong Liên bang."[1][2]. Như vậy, cho đến cuối Thế chiến thứ II, người Pháp vẫn xem Bắc, Trung, và Nam Kỳ của Việt Nam là ba quốc gia khác nhau, cùng với Lào và Cao Miên, tạo thành năm xứ Đông Dương. Việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ sau đó cũng nằm trong kế hoạch tái lập Liên bang Đông Dương cũ của Pháp.

Viễn Đông, khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và Đế quốc Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh ngày 15 tháng 8, 1945 thì lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống do Quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Douglas Gracey nhân danh lực lượng Đồng Minh tiếp quản.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945 người Pháp tái vũ trang và sẵn sàng tiếp thu Sài Gòn nhưng phải đợi đến tháng 10 khi quân Anh chính thức trao chủ quyền lại cho Pháp thì Quân đội Pháp mới ồ ạt đổ bộ[3] rồi mở rộng đánh chiếm toàn Nam Bộ.

Tháng 2 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ (Commissaire République, tức chức vụ mới lập để gọi người Pháp cầm đầu hành chánh ở Nam Kỳ) Jean Cédile cho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên, trên danh nghĩa giúp người bản xứ tự quyết định tương lai xứ sở, nhưng cũng có thâm ý tách dần chính trị Nam Kỳ khỏi những biến động và thương thuyết ở BắcTrung Kỳ. Thành phần Hội đồng gồm 4 người Pháp và 8 người Việt nhưng tất cả đều có quốc tịch Pháp.[4]

Chính Hội đồng này sang tháng 3 đã đệ trình một kiến nghị với chữ ký của 8 ủy viên người Việt lên Cao ủy Đông Dương (tương đương với chức Toàn quyền Đông Dương cũ) là đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu xin lập một xứ Nam Kỳ tự trị.[5] Cédile tỏ rõ ý định ủng hộ ý đồ "Nam Kỳ tự trị" và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như Đảng Nam Kỳ của Béziat để vận động công chúng. Những nhóm khác như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị" của Pháp. Cùng lúc đó thì Đảng Tân Dân chủ của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tuy tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ vẫn cố gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng không Việt Minh.

Ngày 31 Tháng 5, 1946 Hội đồng tư vấn Nam Kỳ lấy tên mới là Hội đồng Nam Kỳ (Conseil de Cochinchine) và tăng số ủy viên lên 42 người.

Trong khi Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra ở Pháp thì Cao ủy Đông Dương là d'Argenlieu đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ngày 27 tháng 5 năm 1946 và ra tuyên cáo ngày 1 tháng 6 trước đám đông tụ tập ở Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 5 tháng 6, tổng trưởng Pháp Marius Moutet chấp thuận hành xử của d'Argenlieu để "bảo vệ quyền lợi của dân tộc Nam Kỳ".[6] Cũng vào đầu tháng 6, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị. Ủy viên Cédile liền ký với tân Thủ tướng một hiệp ước nhìn nhận xứ Nam Kỳ là một xứ tự do, riêng biệt trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương.

Sau đó, báo Cứu quốc (Việt Minh) phản hồi: "Chúng tôi mong đô đốc Đác giăng li ơ ra lệnh hạ màn cái trò hề vô vị "Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ" đó đi. Nếu người Pháp cần phải thử xem Nam bộ có phải là đất Việt Nam không? Thì cứ mở cuộc trưng cầu dân ý cho công bằng. Tại sao lại một chính phủ tự trị rồi mới trưng cầu dân ý? Phải chăng người ta muốn đặt dân Việt Nam vào một việc dĩ nhiên? việc lập một chính phủ tự trị ở giữa nơi quân Pháp đóng trước khi mở cuộc trưng cầu dân ý để lộ ra một cách vụng về cái ý muốn chia sẻ nước Việt Nam. Việc lập chính phủ bù nhìn ấy làm cho người ta cảm thấy người Pháp muốn dùng bọn bù nhìn uy hiếp dân chúng trong cuộc trưng cầu dân ý[7]. Ban Thường trực Quốc hội ra phản đối chính thức. Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau phản đối. Báo Độc lập ngày 18 tháng Bảy năm 1946 bình luận "Ở Cà Mâu, bọn Abalain, Guillemet chẳng đếm xỉa gì đến chính phủ bù nhìn Quisling Nguyễn Văn Thinh cả... Đồng thời ở khắp tỉnh, quận, tổng, làng ở Nam Bộ, Pháp thâu dụng một bọn cướp khác. Bọn này giả danh lập Mặt trận bình dân..."

Giải thể[sửa | sửa mã nguồn]

Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng nhưng chỉ được ít lâu thì ông tự sát. Thay ông là bác sĩ Lê Văn Hoạch rồi Nguyễn Văn Xuân. Trong thời gian này, để thu hút sự ủng hộ của dân chúng đối với nhà nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mới thành lập, một số người cổ động cho khẩu hiệu "Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ".

Tình hình chính trị tại Nam Kỳ thời điểm này rất phức tạp. Có nhiều phe nhóm khác nhau cùng tồn tại. Các phe phái cố gắng củng cố quyền lực riêng như Trần Văn Soái (Năm Lửa) chiếm đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao Lãnh (Kiến Phong), Cao Đài cát cứ ở Tây NinhBình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt, v.v. Người Pháp thì không thực lòng tái thiết trật tự hay xây dựng một xứ Nam Kỳ chân chính mà còn có dụng ý võ trang mỗi nhóm riêng, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh. Những nhóm này thường xung đột, tranh giành quyền lực khiến tình hình thêm hỗn loạn.[8]

Theo ông Nguyễn Kỳ Nam, Mặt trận Quốc gia liên hiệp, một ủy ban liên hiệp kháng chiến chống Pháp của các tổ chức cách mạng miền Nam, chủ trương chấp nhận cho bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập chính phủ lâm thời Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ vì "nếu không có một Chính phủ ở Nam Kỳ, Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp, theo công pháp quốc tế, nước Pháp vẫn còn ở duyên hải Thái Bình Dương. Tiền đồ tổ quốc sẽ bị xô vào hai ngả hoặc bị đô hộ lại bởi thực dân, hoặc bị đô hộ lại bởi cộng sản quốc tế. Hai viễn tượng đều tai hại cho giống nòi.[9]". Nhưng người cộng sản, Việt Minh, đã tách ra sau sự kiện này, Hội Liên hiệp quốc dân ra đời trong hoàn cảnh đó. Theo kế hoạch của Mặt trận Quốc gia liên hiệp, họ sẽ đưa bác sĩ Lê Văn Hoạch, người của Mặt trận, chính thức thành lập chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thay thế chính phủ của bác sĩ Thinh. Cuối cùng Mặt trận sẽ ủng hộ Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam làm tâm điểm hoạt động chính trị cho các đảng phái quốc gia để đi đến thống nhất dân tộc. Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam do Nguyễn Văn Xuân lãnh đạo sẽ tạo ra thế cân bằng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chính phủ này sẽ được thay thế bằng chính phủ Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo. Đây là một giai đoạn để đi đến sự đoàn kết cuối cùng của dân tộc đúng với lập trường của Mặt trận. Mặt trận ủng hộ việc thành lập Cộng hòa Vệ binh Việt Nam thuộc Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Quân đội Cao Đài là thành viên của Mặt trận được phép nhận khí giới của Pháp để lập quân đội làm nền tảng cho quân đội quốc gia sau này.[10]

Ngày 19 Tháng Chạp năm 1947 Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại và xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam và mời cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình tìm một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Việc giải thể Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mãi đến ngày 8 Tháng Ba năm 1949 mới bắt đầu theo Hiệp ước Élysées giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại. Theo đó thì Pháp công nhận nước Việt Nam thống nhất.[11] Tháng Tư năm 1949 Nam Kỳ mở cuộc bầu cử Quốc hội chọn 16 dân biểu Pháp và 48 dân biểu người Việt. Quốc hội này đã biểu quyết chấm dứt "nước Nam Kỳ" và hiệp nhất vào nước Việt Nam,[11] để sau đó lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam.

Phản ứng trước sự thành lập Quốc gia Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố với thế giới chỉ có Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Tuyên bố trên nhanh chóng nhận được sự ủng hộ khi vào ngày 18-1-1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tiếp sau đó là Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[12]

Quốc kỳ và Quốc ca[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 1 tháng 6, quốc gia này dùng quốc kỳ nền vàng, với 3 sọc xanh vắt ngang ở giữa. Ý nghĩa của lá cờ là tượng trưng ba con sông Đồng Nai, Tiền GiangHậu Giang (màu xanh lam) trên đất Nam Kỳ.[13] Dư luận bấy giờ không ưa lá cờ này vì cho rằng màu sắc không hợp nhãn quan nên biếm gọi là "cờ sốt rét".[14]

Lá cờ này tồn tại được 2 năm cho đến khi chính quyền Cộng hòa tự trị Nam Kỳ giải thể và sát nhập vào Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu ngày 2 tháng 6 năm 1948.

Về quốc ca, bản nhạc này lấy tám câu đầu của Chinh phụ ngâm làm lời ca, bị công luận cười chê vì nội dung lấy lời than khóc của một người vợ nhớ chồng mà lại đem làm lời ca.[15] Tác giả của bài này là Võ Văn Lúa.[16]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ hay còn gọi tên khác là "Nam Kỳ tự trị", về danh nghĩa được Hội đồng Nam Kỳ thành lập ngày 27 tháng 5 năm 1946, dưới sự "sắp đặt" của Jean Marie Arsène Cédile[17] (Ủy viên cộng hòa Pháp tại Nam Bộ) và Georges Thierry d'Argenlieu[18] (Cao ủy Pháp tại Đông Dương). Đây được xem là một chiêu bài chủ đạo của Pháp nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam.[17] Tuy nhiên, chính quyền này bị công luận cho là "bù nhìn" và ly khai, phá hoại việc đất nước thống nhất, nên chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi bị giải thể.

Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ là một Chính phủ lâm thời thân Pháp có quyền lực nhỏ bé. Cộng hòa tự trị Nam Kỳ không được công luận ủng hộ. Người Pháp cũng không tin tưởng giao thực quyền cho Chính phủ này. Vì những lý do đó Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ có thể được xem là một thất bại.[19]

Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng do Hội đồng Cố vấn Nam Kỳ bầu lên. Hội đồng này do Ủy viên Cộng hòa Pháp, chức danh mới của Thống đốc Nam Kỳ, tuyển chọn. Người đó là Jean Marie Arsène Cédile, nắm quyền an ninh bên trong và bên ngoài nước Cộng hòa.[20] Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương (chức danh mới của Toàn quyền Đông Dương) còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng.[21]

Khi Chính phủ tự trị Nam Kỳ được thành lập, ngoài các cuộc xung đột vũ trang ở Nam Bộ, Pháp đã nhiều lần gây hấn với Chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng việc tố cáo Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ là bất hợp pháp. Cao ủy Pháp tại Đông Dương thông báo với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Nam Bộ là thuộc địa của Pháp do đó chỉ Quốc hội Pháp mới có thể quyết định sự thay đổi chính thể tại Nam Kỳ dựa trên kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân tại Nam Kỳ. Đáp lại những tuyên bố gây hấn của Pháp về tính hợp pháp của Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời cao ủy Pháp d'Argenlieu rằng ủy ban này được thành lập từ tháng 8/1945 dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương, ủy ban này được Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 công nhận.[20]

Chính phủ Nam Kỳ trải qua cải tổ nhiều lần:

Ngày 27 tháng 5 năm 1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trở thành thủ tướng của Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam (Provisional Central Government of Vietnam).

Thủ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tên Từ Đến Chức vụ
Nguyễn Văn Thinh 26 tháng 3, 1946 31 tháng 5, 1946 Thủ tướng lâm thời
1 Nguyễn Văn Thinh 1 tháng 6, 1946 10 tháng 11, 1946 Thủ tướng
2 Lê Văn Hoạch 29 tháng 11, 1946 29 tháng 9, 1947 Thủ tướng
3 Nguyễn Văn Xuân 8 tháng 10, 1947 27 tháng 5, 1948 Thủ tướng

Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận giải pháp lập một Chính phủ chung cho Bắc và Trung Kỳ, còn vấn đề Nam Kỳ sẽ giải quyết bằng một cách trưng cầu dân ý tuy nhiên do sự đàn áp của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ với những người kháng chiến ủng hộ chính phủ Trung ương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối giải pháp này. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong cuộc phỏng vấn với ông Vaxiđép Rao, thông tín viên hãng Reuter vào tháng 5-1947 rằng: "Trước kia, chúng tôi đã bằng lòng nhận phương sách đó. Ngày nay, chúng tôi không thể nhận được nữa, đồng bào chúng tôi ở Nam Kỳ đã chịu sự hy sinh to lớn để được ở trong Tổ quốc Việt Nam. Chúng tôi không thể phản bội họ được." Cũng theo chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thống nhất nghĩa là một Chính phủ Trung ương, một Nghị viện Trung ương cho toàn quốc, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ sẽ có cơ quan hành chính tự trị riêng, do nhân dân mỗi kỳ bầu lên theo chế độ dân chủ và dưới sự kiểm soát của Chính phủ Trung ương[22].

Bên cạnh đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ chỉ là một chính phủ bù nhìn và chẳng thể giải quyết được vấn đề gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chính phủ bù nhìn ở Nam Bộ, nó đã không giải quyết được gì, mà chỉ làm kéo dài cuộc chiến tranh và ngǎn trở sự thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp"[23]

Theo báo Cứu quốc, Hội nghị của chính phủ Nguyễn Văn Xuân là một hội nghị "của bọn Việt gian", là một "cuộc hội đồng chuột" như Hội nghị 19/12/1947 tại Hồng Kông nhằm lòe bịp nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới. Quyết nghị và thông cáo của hội nghị này là quyết nghị bán nước.[24]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Goodman, Allan E. Politics in War. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1973.
  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sockeel-Richarte: La Problème de la Souveraineté Française sur l'Indochine, in Le Général de Gaulle et l'Indochine 1940–1946, tr.26
  2. ^ Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam 1944-1947, tr. 129, Berghahn Books, 2003, trích:"The five lands which comprise the Indochinese Federation, and which are distinguished by civilisation, race and traditions, will maintain their characters within the Federation."
  3. ^ Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, trang 2026, Nhà xuất bản Nam Á, Paris, 2002
  4. ^ Goodman, Allan E, Politics in War: The Bases of Political Community in South Vietnam, page 20, Harvard University Press, 1973
  5. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2089.
  6. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2102.
  7. ^ Cứu quốc 29-5-1946
  8. ^ Hồi ký về chiến khu An Thành, phần 7: Nam Kỳ Quốc, Website Đại Việt Quốc dân Đảng
  9. ^ Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 346, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964
  10. ^ Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 346-347, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964
  11. ^ a ă 45-54 Chín năm khói lửa, sự thất bại của một chiến lược, Tô Vũ
  12. ^ http://www.baodanang.vn/channel/5434/200907/nhan-55-nam-hoi-nghi-va-hiep-dinh-geneve-20-7-1954-20-7-2009-goc-khuat-trong-hoi-nghi-va-hiep-dinh-geneve-1989493/
  13. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2012.
  14. ^ Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam, Nguyễn Ngọc Huy
  15. ^ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Phần 7: Nam Kỳ Quốc, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991
  16. ^ Âm nhạc Việt Nam cận đại--Quốc ca Việt Nam
  17. ^ a ă Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 279, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội.
  18. ^ Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2010
  19. ^ Stein Tonnesson, Vietnam 1946: How the War Began, University of California Press, 2010, trích: "In Saigon, French authorities established a provisional Cochinchinese governmanet, but inasmuch as an overwhelming majority of southerners favored national unification, the provisional government only represented a tiny, wealthy, pro-French minority. It faced a hostile public opinion and an increasingly powerful guerrilla movement, led by the Vietminh in cooperation with the powerful religious sets. The French never trusted the Cochinchinese government enough to give it real power. The experiment Cochinchinese autonomy thus proved a failure."
  20. ^ a ă Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 335, 336, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội.
  21. ^ Hammer, Ellen. Struggle for Indochina, 1940-1955. Stanford, CA: Stanford University Press, 1955. tr 169
  22. ^ “Những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phần 1)”. Truy cập 14 tháng 11 năm 2015. 
  23. ^ “Những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của Bác Hồ (Phần 2)”. Truy cập 14 tháng 11 năm 2015. 
  24. ^ http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=WNyf19471126.2.1&e=-------vi-20--1--txt-IN------#

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Việt Nam