Bảy Viễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lê Văn Viễn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Văn Viễn
Bảy Viễn.jpg
Tướng Lê Văn Viễn
Tiểu sử
Biệt danh Bảy Viễn
Sinh 1904
Sài Gòn, Việt Nam
Mất 1972 (67–68 tuổi)
Paris, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
Thuộc Flag of Binh Xuyen Army.svg Lực lượng Bình Xuyên
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Năm tại ngũ 1948-1955
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Flag of Binh Xuyen Army.svg Bộ đội Bình Xuyên

Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn (1904-1972), nguyên là một tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp của Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng, được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy lực lượng này chống lại chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.

Thân thế và cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại Chợ Lớn (Sau thuộc Đô thành Sài Gòn) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa.

Tuy sinh ra trong một gia đình điền chủ khá giả, nhưng đến năm 16 tuổi, do mâu thuẫn gia đình và cảm thấy thiệt thòi trong việc chia gia tài, Bảy Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh, rồi thụ giáo ở nhiều võ đường khác nhau, nên ông rất giỏi võ. Sau này, tuy trở thành nhân vật quyền lực nhất nhì Nam Kỳ và đã ngoại tứ tuần, nhưng người ta vẫn nể phục ông Bảy về tài năng võ thuật.

Về hình thể, Bảy Viễn cao trên một mét bảy, dáng to và vạm vỡ, trên khắp cơ thể đều có hình xăm (Nguyên một con rồng đỏ chiếm trọn cả tấm lưng, đầu rồng trên cổ, đuôi rồng tận hậu môn, hai vai xăm hình Đầm trần truồng, bùa và đầu rắn xăm ở đầu dương vật, phía trên cổ tay trái một chút thì xăm cả một con đại bàng). Vì xăm hình cùng mình và là dân anh chị nên khi đạt đến những vị thế cao trong xã hội, Bảy Viễn luôn thận trọng vận đồ chỉnh trang, vừa để thay đổi vẻ ngoài cho lịch lãm và uy nghiêm, vừa để che đi một cách tối đa những hình xăm của mình. Về diện mạo, Bảy Viễn mặt chữ điền, góc cạnh, trán vuông và cân đối, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được cắt ngắn gọn gàng. Tuy nét mặt khá dữ dằn nhưng ông Bảy rất điển trai và lịch thiệp nên luôn nhận được sự ngưỡng mộ từ các quý bà và lúc còn trẻ nghe bảo cũng khiến nhiều cô say mê.

Tung hoành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp (Thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình ông, nhưng sau vì bà mẹ đem bán cho nhà bà con nào đấy mà ông không hề hay biết, đến khi phát hiện chiếc xe đạp của gia đình đang nằm ở nhà người ta thì ông mang đem về, rốt bị hàm oan). Ban đầu Bảy Viễn làm bảo kê ở chợ Phạm Thế Hiển, sau chuyển sang chợ Bình Đông, cuối cùng mới vào trung tâm thành phố Chợ Lớn. Đến năm 1927 thì Bảy Viễn phạm tội hành hung người khác, rồi bị bắt khi đang tá túc tại nhà tình nhân và bị phạt giam 2 tháng tù (Lúc ấy ông Bảy đương làm việc cho một ông chủ sòng bạc người Tàu ở Chợ Lớn, nhưng vì mâu thuẫn mà nện cho tên chủ ấy một trận).

Năm 1936, Bảy Viễn bị chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang ở trung tâm thành phố Sài Gòn, tuy nhiên, đến năm 1940, ông vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn cưa đổ cô vợ của một tên Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mến mộ tánh anh hùng đào hoa của Bảy Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông, vì thế nên ông Bảy có những lợi thế nhất định so với những tù nhân khác.

Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí, một người bạn mới quen, trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu (Mười Trí, tức Huỳnh Văn Trí cũng là "Dân giang hồ", giỏi võ, vì bất mãn xã hội mà lập nên một nhóm cướp gây chấn động cả một vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, nhờ thế cả hai mới có cơ duyên gặp nhau và kết thân). Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây là 20 năm, sau đó ông lại vượt ngục thành công. Nhưng máu "Đi hát" (Tức đi cướp) vẫn còn âm ỉ nên Bảy Viễn và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo lần thứ 3. Sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng. Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ tầm 10 cuộc vượt ngục thành công mà Bảy Viễn đã chiếm đến 3, âu cũng là số mệnh.

Tham gia kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1945, Bảy Viễn tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên bản doanh đặt tại Phú Lâm, Chợ Lớn do Ba Dương (Tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy. Đơn vị của Bảy Viễn tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng luôn từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống[1]. Tháng 10 năm này, Bảy Viễn đưa đơn vị rời Phú Lâm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11 cùng năm, ông được Uỷ ban Hành chính lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn (Kiêm Chỉ huy trưởng Khu Sài Gòn-Chợ Lớn). Đồng thời ông Bảy cũng là sáng lập viên của Mặt trận Quốc gia thống nhất.

Ngày 4 tháng 3 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên đã không tán thành.

Ngày 12 tháng 4 năm 1946, tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nam bộ ký quyết định phong cho Năm Hà (Tức Dương Văn Hà, em cùng cha khác mẹ với Dương Văn Dương) làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong Bảy Viễn làm Khu bộ phó chiến khu 7 với ý định tách ông Bảy ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, Bảy Viễn chính thức được giữ chức vụ Tư lệnh phó Khu 7. Đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani (Thuộc Phòng nhì Pháp, một cơ quan tình báo quốc phòng hải ngoại của Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với ông Bảy để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác.

Đầu năm 1948, Bảy Viễn đồng ý đi Đồng Tháp gặp Nguyễn Bình (Nguyễn Bình cho mời Huỳnh Văn Nghệ hay còn gọi là Tám Nghệ đi Rừng Sác để thuyết phục vì biết ông Bảy rất nể trọng Tám Nghệ dù ông tướng này không phải dân giang hồ), và để tham gia cuộc họp quan trọng (Do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Bảy Viễn chức Khu trưởng khu 7 đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa bộ đội Bình Xuyên của ông Bảy và bộ đội Nguyễn Bình). Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời khá rắn chắc và đanh thép những chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ, lưỡng lự trong việc nhận chức Khu trưởng khu 7 mà trước đó ông Bảy cho rằng người xứng đáng nhận chức này phải là Huỳnh Văn Nghệ vì chiến công của bộ đội Tám Nghệ vượt xa những chiến công của bộ đội của ông, mặc cho nhiều người có ý bênh vực Bảy Viễn khi cho rằng ông Bảy phù hợp hơn vì dù gì trong giới giang hồ kháng chiến nói riêng và thủ lĩnh gốc dân Nam Kỳ nói chung, Bảy Viễn là một trong số ít người đi tiên phong (Cũng có thể vì họ muốn làm giảm đi những căng thẳng xung đột). Sau vì Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng khu 7 và tỏ vẻ ngoan cố, bất hợp tác nên Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị thuộc Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ Quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng Quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp, mặc cho rất nhiều những lãnh đạo chủ chốt bên phía Lực lượng Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, một trong những thủ lĩnh chính của Lực lượng Bình Xuyên). Bảy Viễn phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát ông nhưng bất thành.[1]

Về thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí luôn trung thành và ở lại phục vụ quân đội kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông Mười ở Đông Thành (Chi đội 4) để tá túc một đêm, nhằm thuyết phục Bảy Viễn suy nghĩ kỹ trước khi quyết định. Đêm ấy, bà vợ Mười Trí đãi hai anh em bữa cơm thịnh soạn, Mười Trí vì tình bạn, tình huynh đệ từng cùng nhau vào sanh ra tử, từ đi cướp, vô tù đến chiến đấu trên mặt trận, đã khuyên Bảy Viễn nên suy nghĩ kỹ càng và nhất là nên ở lại vì còn nước còn tát, nếu có chuyện gì thì ông Mười sẽ đứng ra bảo lãnh và bảo đảm, mặc cho sau đó Mười Trí có phải bị nghi ngờ, tố cáo, kiểm điểm hay thậm chí là bị kiểm soát, ông vẫn cam lòng chấp nhận và chịu đựng. Cảm động trước tấm chân tình của Mười Trí, Bảy Viễn tuy vẫn còn tỏ ý giận dữ, thù hằn nhưng hứa hẹn sẽ suy nghĩ kỹ càng.

Bảy Viễn trước khi đọc diễn văn

Cùng đêm, sau khi Bảy Viễn đang say giấc, Mười Trí cho gọi thuộc cấp đến, và ra mệnh lệnh thông báo rằng các bộ đội Bình Xuyên khác ai ở đâu thì ở yên đấy, không được tự ý rời đi khi không có lệnh của ông Mười, nhằm làm giảm tối đa các thiệt hại cho quân kháng chiến Việt Minh.

Sáng hôm sau, sau khi hai người cùng nhau dùng bữa cơm gia đình thân mật cuối cùng, Bảy Viễn thông báo đã suy nghĩ thấu đáo, ông quyết định dứt áo ra đi, về thành Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là xảo quyệt, bất công. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên dù rất thất vọng về Bảy Viễn và về sự bất lực của mình trong việc thuyết phục, vẫn đồng ý tiễn ông đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long thuộc quận Bình Chánh. Từ đấy hai người trở thành hai con người khác chiến tuyến.

Mười Trí có làm một bài thơ khá cảm động về hoàn cảnh trên, có thể Bảy Viễn biết bài thơ này, điều đặc biệt, bài thơ được lan truyền từ đấy cho đến nay, ở Châu Thành-Đồng Tháp, gần khu Thị trấn Cái Tàu Hạ, còn nhiều người già, nhiều cụ cao niên vẫn thuộc bài thơ ly biệt mà Mười Trí để lại. Theo nhà văn Nguyên Hùng, thì có một người vợ của Bảy Viễn bị kẹt lại nên tá túc nhà Mười Trí và được ông Mười bảo vệ, bảo lãnh tuyệt đối, khi hay tin, Bảy Viễn thầm cảm ơn và đến cuối đời ông vẫn không bao giờ quên tình bạn của hai người.

Bảy Viễn đọc diễn văn

Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani Trưởng phòng nhì Pháp cùng Thiếu úy Cistisni, Bảy Viễn và người cố vấn Lai Hữu Tài của ông đến một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 13 tháng 6, Bảy Viễn mở cuộc hành quân để tái chiếm Rừng Sác nhưng không thành vì tướng Nguyễn Bình đã chiếm vào ngày 19 tháng 5 trước đó và cho củng cố chiến khu này rất chặt chẽ.

Ngày 17 tháng 6, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, cùng mang theo 280 vũ khí đủ loại đặt bản doanh tại số 31 đường Canton. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 năm này Bảy Viễn được Tướng De Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam phần.

Bảy Viễn và quân đội của ông đứng trước Tổng hành dinh gần cầu chữ Y

Sau khi về thành, theo tư liệu từ Cục lưu trữ Sài Gòn, năm 1949, Bảy Viễn cho xây Tổng hành dinh phía bên kia cầu chữ Y (Hướng quận 8 ngày nay, ngay sát dạ cầu, bị phá huỷ sau khi tướng Dương Văn Minh thắng trận), sau đó, ông Bảy trở thành người bảo trợ cho ngôi chùa Bảo Quốc gần đấy (Bảo Quốc tự, nay mang tên chùa Linh Phước, toạ lạc tại số 139 đường Dạ Nam, quận 8).

Bảy Viễn tại tư gia

Theo một bài viết đề cập đến các ngôi biệt thự cổ ở Đà Lạt trên website của báo Người Lao Động, thì Bảy Viễn còn sở hữu một ngôi biệt thự bề thế ngay trung tâm thành phố này, toạ lạc tại số 10 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, mà ngày nay, một phần diện tích bên phải trong khuôn viên biệt thự được sử dụng làm trụ sở của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng, những phần còn lại được giữ nguyên vẹn, nhưng có thể do không được bảo tồn hay trùng tu, nên bề ngoài nhìn ngôi biệt thự khá cũ kỹ và xuống cấp[2].

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, Bảy Viễn đứng ra mở sòng bạc của khách sạn Casino Cloche d’Or (Sau cải danh thành Kim Chung). Bảy Viễn được Quốc trưởng Bảo Đại phong chức Nam Tước của Hoàng gia và nhận làm em nuôi mặc dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn ông nhiều. Vào thời đó, người ta cho rằng đấy là một niềm vinh hạnh lớn cho Bảy Viễn, khi mà một tướng cướp võ biền xuất thân giang hồ lại được một cựu Hoàng đế nhận làm em nuôi, kết tâm giao, nhưng ai cũng biết, vì Bảo Đại là người tiêu tiền như nước, không bao giờ là đủ khi đồng lương Pháp trả không là gì so với cuộc sống xa hoa Đế vương của ông ta, mà Bảy Viễn đã trở thành bậc đại phú hào, đại tư sản nhờ việc kinh doanh các sòng bạc lớn, một người vì tiền, một người vì quyền lực nên việc giao hảo là sự phải thành.

Nhà báo người Pháp Jacques Chancel trong một lần phỏng vấn Bảy Viễn tại Tổng hành dinh năm 1953

Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong Bảy Viễn lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn[3].

Bằng thế lực của mình, Bảy Viễn thâu tóm các sòng bạc Đại Thế giới (Casino Grand Monde), Kim Chung (Casino Cloche d’Or), đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang hoạt động công khai. Nhiều tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn móc nối với người đảo Corse (Thuộc nước Pháp) để buôn thuốc phiện và ma tuý công khai. Theo nhiều tài liệu còn lưu lại trong Cục lưu trữ Sài Gòn thì Lực lượng Bình Xuyên của ông Bảy có mặt trong hầu hết các ngành khai thác, kinh doanh béo bở khắp Nam Kỳ, nhưng đồng thời Lực lượng Bình Xuyên do ông thủ lĩnh vẫn là một đơn vị độc lập.

Bảy Viễn trò chuyện với tướng Nguyễn Văn Hinh trong một cuộc gặp

Trong khoảng thời gian huy hoàng, vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, thao túng mọi hoạt động kinh doanh-buôn bán, Bảy Viễn dường như trở thành một trong những người giàu có, đại tư sản và quyền lực nhất Đông Dương, thậm chí là toàn cõi Đông Nam Á lúc bấy giờ. Trong giới giang hồ miền Nam ngày xưa thì ông Bảy là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao của danh vọng.

Tháng 9 năm 1954, Bảy Viễn từ chối lời mời của Thủ tướng Ngô Đình Diệm về việc sát nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia (Dù đã từng cùng Nguyễn Văn HinhNguyễn Văn Xuân vào Dinh Độc Lập để thương thảo với Ngô Đình Diệm).

Bị trấn áp và lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 3 năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy quân Bình Xuyên tấn công vào các Lực lượng của Chính phủ Quốc gia nhưng bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã đánh bật lực lượng của ông ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Sau đó, Thủ tướng Diệm quyết định đóng cửa các sòng bài do Bình Xuyên điều hành, giải tán khu mại dâm Bình Khang, cho quân đội tấn công quân Bình Xuyên và các giáo phái. Đồng thời đặt ông Bảy và các thuộc cấp là Lai Văn Sang và Lai Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Bảy Viễn cùng các thuộc cấp thân tín rút về mật khu Rừng Sát ẩn náu. Ngày 21 tháng 5, ông Bảy và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân của Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sát. Bảy Viễn và các thuộc cấp được Pháp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ, kể từ đây ông Bảy bắt đầu cuộc sống lưu vong tại xứ người.

Bảy Viễn đang thương thảo với Ngô Đình Diệm tại Dinh Độc Lập

Ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bảy Viễn và các thuộc cấp (Đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.

Sau khi lưu vong, dù phải sống nơi xứ người, Bảy Viễn vẫn luôn dõi theo tình hình chiến sự ở Việt Nam. Theo các tài liệu và thư từ còn lưu giữ hiện được bảo tồn ở Cục lưu trữ Sài Gòn hiện nay, thì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, từ năm 1964 đến năm 1970, Bảy Viễn liên tục gửi nhiều bức thư cho chính quyền mới ở miền Nam Việt Nam, phần lớn mang nội dung rằng ông Bảy xin được cùng gia đình hồi hương, trở về Việt Nam cũng như xin được giao hoàn một phần tài sản nhất định để sinh sống như một công dân bình thường, và cam đoan không can hệ gì đến chuyện quốc sự của chính phủ, nhưng nếu chính quyền mới có thiện ý mời ông làm cố vấn để tiếp tục công cuộc đối kháng với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Bắc, thì dù có tuổi cao sức yếu, ông vẫn vui lòng góp sức. Tuy nhiên, những bức thư với lời lẽ trang trọng ấy lại không được đón nhận, và Bộ nội vụ chính quyền Sài Gòn cũ thậm chí còn xếp xó vào kho lưu trữ tư liệu dưới dạng tuyệt mật thư. Trong số những bức thư ấy, có một bức Bảy Viễn xin riêng cho người vợ là bà Hà Thị Tám được về Việt Nam thăm người chị đang ốm đau, và chỉ với lý do gia đình, tuyệt nhiên không can hệ chi chuyện chính trị, nhưng rốt cũng bị từ chối như những bức thư kia. Ngoài thư từ, theo Cục lưu trữ Sài Gòn, có hẳn một công văn của Bộ nội vụ Việt Nam Cộng hoà đề cập đến vấn đề lo ngại việc ông Lê Văn Viễn trong các năm 1965 và 1968 đã thực hiện những chuyến du lịch đến các quốc gia láng giềng lân cận như Thái Lan và Cambodia, nhưng thực chất là đến tham dự các cuộc họp của những nhóm chính trị lưu vong ở hải ngoại.

Năm 1972, ông từ trần tại Paris, Pháp, hưởng thọ 68 tuổi.

Gia đình và giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy Viễn là người Hoa lai (Cha người Hoa, mẹ người Việt). Thân phụ là cụ Lê Văn Dậu (Người gốc Triều Châu, Trung Quốc). Cụ Dậu vốn là một trong những đàn anh lớn của tổ chức Thiên Địa Hội chi nhánh Chợ Lớn-Việt Nam (Mang tinh thần phù Minh diệt Thanh) thuộc nhóm Nghĩa Hoà Đoàn (Triều Châu) ở Chợ Lớn thời đó kể từ khi cụ di cư sang Việt Nam lập nghiệp. Tuy là tay anh chị giang hồ nhưng cụ tánh tình cương trực, nghĩa hiệp, luôn giúp đỡ bà con hàng xóm và những người khốn khó nên rất được mọi người kính nể. Nghe kể rằng thuở nhỏ Bảy Viễn rất nghịch ngợm, tánh ương ngạnh nên thường bị cụ Dậu rầy la và dạy dỗ rất nghiêm khắc. Tánh giang hồ hảo hán của cụ Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến Bảy Viễn.

Theo các nguồn tin chính thống cũng như không chính thống thì Bảy Viễn có năm người vợ cùng nhiều con cái, nhưng chỉ có ba người là được ông đón sang Pháp.

Trong số các bà vợ, theo thông tin từ Cục lưu trữ ở Sài Gòn hiện nay, có bà tên Huỳnh Thị Lộc, có thể bà Lộc là con gái của Huỳnh Đại, một thương gia Hoa kiều vốn là một mạnh thường quân từng giúp đỡ Bảy Viễn rất nhiều thời còn túng quẫn. Theo nhà văn Nguyên Hùng-Tác giả cuốn "Bảy Viễn-Thủ lĩnh Bình Xuyên", thì Huỳnh Đại chính là chủ nhân của nhà hàng Đại La Thiên, một trong những nhà hàng sang trọng nhất nhì Chợ Lớn (Nằm ở đường Phạm Bân, nay không còn), và cũng là cha vợ Bảy Viễn, nếu cả hai nguồn thông tin này trùng hợp không phải ngẫu nhiên và có thể chắc chắn, thì Huỳnh Đại chính là cha của bà Huỳnh Thị Lộc. Huỳnh Ðại cũng là đồng hương với Bảy Viễn khi xuất thân từ Quảng Ðông (Cũng là người Tiều vì Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Ðông), sang Sài Gòn với chiếc đòn gánh và hai cái thúng, cả ngày lặn lội mua ve chai sinh sống. Có chút vốn nên chuyển sang bán kẹo bánh trước các trường học, lần hồi làm ăn khắm khá, mở quán cà phê hủ tíu vùng ngoại ô, dọc kênh Tàu Hủ, chính lúc ấy, Bảy Viễn được Huỳnh Ðại cưu mang.

Theo nhà văn Nguyên Hùng thì Bảy Viễn có một bà vợ tên Lúa, cô con gái rượu của ông Hội đồng Ðống. Lúc ấy là những ngày đầu kháng chiến, Cách mạng, Bảy Viễn đương là Uỷ viên quân sự, đã biết và say mê cô Lúa, nên bày mưu cưới cô này. Ban đầu, Bảy Viễn có ý bảo Mười Trí lấy cớ vì việc nước, vì kháng chiến xin dân ủng hộ nên cùng đi gặp ông Hội đồng đặng bàn chuyện quốc gia đại sự, nhưng đã tỏ ý muốn cưới con gái ông Hội đồng. Biết tánh bạn nên Mười Trí đành thua, Bảy Viễn bày mưu trong lúc Mười Trí tiếp chuyện và nhậu với ông Hội đồng (Lúc ấy ông Mười vẫn còn thích nhậu và chưa bỏ hẳn việc đánh chén), ông Bảy sẽ giả vờ xuống bếp mồi thuốc lá để làm quen và tán tỉnh cô Lúa. Sau đó vài ngày, Bảy Viễn gửi tặng ông Hội đồng khẩu súng Colt mới toanh vì biết ông này rất mê súng lục, muốn có một khẩu đeo cho oách với dân làng và với tụi quan Tây. Vài phút đầu khi nhận quà thì ông Hội đồng không mảy may nghi ngờ, nhưng sau đó thì phát hiện trong hộp quà còn có một tờ giấy, do chính Bảy Viễn viết, rằng "Cháu xin cưới cô Lúa và đây là sính lễ đầu tiên kính dâng Bác" thì ông Hội đồng mới vỡ lở. Sau khi rặng hỏi cô Lúa về việc hôm trước, cô cũng thú nhận đúng là Bảy Viễn có xuống bếp gặp cô. Ông Hội đồng hỏi ý con gái thế nào, thì cô Lúa đáp rằng thật ra cô cũng say mê tánh anh hùng của Bảy Viễn, và cũng phải lòng ông Bảy, thế nên cô đồng ý. Điều này cũng đã là may mắn với ông Hội đồng lắm rồi vì nếu cô Lúa không chịu, thì ông này khó mà sống yên ổn (Nghe bảo ông Hội đồng chỉ lớn hơn ông Bảy 1 tuổi). Sau này, nghe bảo bà Lúa là người góp công rất lớn trong việc đưa ra chủ ý và bày vẽ cho Bảy Viễn lập tuyến xe Sài Gòn-Vũng Tàu, là tuyến xe đi thẳng ra Vũng Tàu mà không cần quá cảnh nhiều chuyến khác, cùng các dịch vụ nhà hàng-khách sạn mới vừa được sang nhượng cho ông Bảy và đã được tân trang đàng hoàng đặng phục vụ khách hàng (Trước đó tuyến đường Sài Gòn-Vũng Tàu bị các Lực lượng du kích quân Việt Minh đốn cây san lấp và lập phòng tuyến đánh chặn, khiến quân đội chính quyền Nam Kỳ bị thiệt hại nặng nề, sau mới được người con trai trưởng của ông Bảy là Lê Paul từng bước giải phóng và dẹp tan).

Cũng theo nhà văn Nguyên Hùng và một số thông tin đáng tin cậy từ Cục lưu trữ Sài Gòn hiện nay, thì Bảy Viễn còn có một người vợ nữa là bà Hà Thị Tám, theo nhà văn Nguyên Hùng thì đây là một câu chuyện duyên phận định mệnh. Sau khi Bảy Viễn trở về Sài Gòn hợp tác với người Pháp, đã cùng các chiến hữu tỏ ý săn các "Người đẹp" tại các khu cờ bạc ở Đại Thế giới. Sau khi cá cược về việc ai săn được "Người đẹp" đầu tiên sẽ đãi chầu nước, Bảy Viễn nhanh chóng tìm được một cô nàng hợp ý, đó là bà Hà Thị Tám. Ông theo dõi và đến giúp đỡ cô này đánh bạc, gỡ gạc và tìm lãi trong các cuộc sát phạt tại gian Tài Xỉu, sau đó mời cô cùng ông đến dãy hàng nước phía đối diện đánh dấu ngày gặp gỡ. Rốt bà Tám trở thành vợ của ông. Bà Hà Thị Tám là một người sắc nước hương trời, lúc gặp Bảy Viễn nghe đâu vừa tròn ba mươi, nhưng vóc dáng vẫn còn rất trẻ trung và đầy đặn. Bà Tám vốn là nhân viên kế toán của hãng thuốc lá MIC mà sau đó Bảy Viễn trở thành Sếp lớn cho đến ngày ông thất thế (Mặc dù ông không làm chủ).

Hậu duệ và con cháu Bảy Viễn khá đông và hiện vẫn ở Pháp.

Cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan khi còn nhỏ cũng từng là con nuôi của Bảy Viễn. Cố nghệ sĩ cải lương Ba Xây (Cũng là người gốc Hoa) từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn (Dù là người gốc Hoa, nhưng Bảy Viễn có thể không nói rành hoặc không biết tiếng Hoa, có thể vì là người Tiều, chỉ nói tiếng Tiều hoặc có thể vì gia đình đã mất gốc nên ông không thể nói tiếng Hoa Quảng Đông khi phần lớn các đại thương gia ở Chợ Lớn khi ấy là người gốc Quảng Đông hoặc từ Hồng Kông mới đến)[4]

  • Trong phim truyền hình dài tập Dưới cờ đại nghĩa được chuyển thể từ tác phẩm "Người Bình Xuyên" của nhà văn Nguyên Hùng, người thủ vai Bảy Viễn là nam diễn viên Trương Minh Quốc Thái.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2001). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Người Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • Bảy Viễn, Thủ lĩnh Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • BayVien, Le Maître de Cholon, tác giả Pierre Darcourt
  • Dưới cờ đại nghĩa, Hãng phim TFS

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]