Chó chăn cừu Kavkaz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chó chăn cừu Kavkaz
Kaukasicher Owtscharka.jpg
Tên khác Zhaul Zhali (Chechen, Ingush),
Georgian Nagazi
Kavkasiuri Nagazi
Kavkazty Uasahichala
Kavkazskaïa Ovtcharka
Caucasian Ovcharka
Chó núi Caucasian
Chó chăn cừu Circassia
Armenian Khobun
Sage Ghafghazi,
Kars Çoban Köpeği
კავკასიური ნაგაზი
Адыгэ Мэлыхъуахь (Adyghe melekhuah)
Biệt hiệu Bombora, CO,
Caucasian
Nguồn gốc Georgia, Dagestan, Armenia, Azerbaijan, cổ Circassia
Đặc điểm

Chó chăn cừu Kavkaz hay Kavkazskaya ovcharka (tiếng Armenia: Կովկասյան հովվաշուն "Kovkasyan hovvashun", tiếng Azerbaijan: Qafqaz Iti, tiếng Gruzia: კავკასიური ნაგაზი "Kavkasiuri nagazi", tiếng Ossetia: Аргъонахъ Arghonaq, Tiếng Nga: Kavkazskaïa Ovcharka), viết tắt là KO là giống chó chăn cừu có nguồn gốc từ vùng Kavkaz. Đây là loại chó săn cừu có kích thước lớn, thuộc chủng loài chó chăn gia súc và canh gác thời cổ đại, xuất hiện từ trước rất lâu sự hình thành quốc gia đầu tiên của châu Âu.

Ngày nay ta có thể gặp được Kavkazskaya ovcharka trên khắp lãnh thổ các quốc gia thuộc Liên Bang Xô Viết cũ. Tính cách đặc trưng của giống chó này là quyết đoán, mạnh mẽ, dũng cảm. Tuy nhiên, trừ khi được dạy dỗ và huấn luyện đúng cách nếu không Caucasian sẽ cực kỳ hung dữ và không thể kiểm soát, nó không chấp nhận những người nó không quen và sẵn sàng tấn công họ bất cứ lúc nào.[1]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Сó nguồn gốc từ vùng Kavkaz (Caucas) đây là loại chó săn cừu có kích thước lớn thuộc chủng loài chó chăn da súc và canh gác thời cổ đại, xuất hiện từ trước rất lâu sự hình thành quốc gia đầu tiên của châu Âu. Ngày nay có thể gặp được Kavkazskaya Ovcharka trên khắp lãnh thổ các quốc gia thuộc Liên Bang Xô Viết cũ. KO sống trên các thảo nguyên có chân dài và thể tạng khôi vĩ. Hơn những họ hàng cùng dòng giống sống ở vùng đồi núi. Chó KO được ca ngợi như một người lính gác. Quy định chuẩn đầu tiên về giống này được công nhận vào năm 1931.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều cao của chó đực cao không dưới 65 cm, chó cái không dưới 62 cm Trọng lượng của chúng từ 45 – 75 kg. Thân thể vai, lưng rộng, vạm vỡ khỏe mạnh. Eo ngắn, rộng, hơi cong. Ngực rộng, sâu. Cổ ngắn, đầy sức mạnh, hướng từ 30° đến 40° so với lưng. Đầu khá to, hộp sọ rộng lớn với kết cấu hình vòng cứng chắc, phía trước hộp sọ rộng, có một rãnh nhỏ chia đôi hộp sọ.

Mõm chúng ngắn hơn hộp sọ, vát nhẹ, Răng trắng khỏe, phát triển đều, khít, không bị hổng chân răng, răng cửa chắc chắn, có cú đớp theo kiểu xé nát. Mắt nhỏ tối màu, có hình ô van. Mũi khỏe, rộng, màu đen, ngoài ra có thể có mũi màu nâu đối với các giống chó có mõm màu trắng hoặc vàng nhạt. Tai vểnh cao màu xám (với các sắc thái từ xám đen đến xám rơm nhạt) với màu hơi hung đỏ pha trộn giữa trắng, nâu đỏ vện, vằn, đốm, khoang.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Có sức chịu đựng rất tốt, không đòi hỏi sự chăm sóc và có thể thích nghi với nhiều điều kiện thời tiết khác nhau. Là loài chó có tố chất canh gác bẩm sinh, hiếm khi hòa nhã với người ngoài. KO tự lập và không bị lệ thuộc, có tính cách rất mạnh mẽ và hoàn toàn không phù hợp với người chủ yếu ớt hoặc không có kinh nghiệm, cần phải có bàn tay thật cứng rắn và đầy kinh nghiệm mới có thể dạy dỗ chúng phát triển đúng hướng. Vì vậy, KO không phải là loài chó phù hợp để nuôi trong thành phố.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “25 giống chó nguy hiểm nhất thế giới”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]