Chiến tranh đổ bộ của Việt Nam trong lịch sử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chiến tranh đổ bộ[note 1] là khái niệm trong lĩnh vực quân sự, chỉ loại hoạt động quân sự tấn công sử dụng các tàu thuyền đi biển để tấn công và đổ quân vào một bờ biển có quân địch tại một bãi biển sẽ hạ cánh được xác định trước. Chiến dịch đổ bộ quy mô lớn bằng đường biển đầu tiên của Việt Nam được ghi nhận trong sử sách diễn ra từ hơn 1.000 năm trước.

Chiến tranh đổ bộ thời trung đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Như Hồng trấn, năm 995[sửa | sửa mã nguồn]

Đổ bộ Như Hồng trấn
Thời giannăm 995
Địa điểm
Như Hồng trấn, Khâm Châu, nước Đại Tống
Kết quả quân Việt rút lui
Tham chiến
Đại Việt
Nhà Tiền Lê
Đại Tống
Nhà Tống
Chỉ huy và lãnh đạo
không rõ không rõ
Lực lượng
Quân: vài nghìn
Thuyền chiến: 100
không rõ, ít
Tổn thất
không rõ không rõ

Dưới triều Tiền Lê, vào năm 995, hơn 100 chiến thuyền của Hải quân Đại Cồ Việt đã tiến sang bờ biển phía nam nước Tống, tấn công vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, sau đó mau chóng rút quân. Khi nhà Tống gửi thư trách, vua Lê Đại Hành đã trả lời đầy thách thức rằng:

Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở cõi ngoài, hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Nhung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi?.

Chiến dịch đánh Tống, năm 1075[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Tống Nhân Tông, nhà Tống thường xuyên chịu sự uy hiếp của nước Liêu (của người Khiết Đan) và nước Tây Hạ (của người Đảng Hạng) ở phía bắc và phía tây bắc. Nhà Tống phải cống nộp nhiều của cải và cắt nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều Tống bị rối loạn bởi những cải cách của Vương An Thạch, chủ trương tiến đánh các nước phía nam Trung Quốc để giải tỏa các căng thẳng trở thành một chiến lược của nhà Tống.

Từ năm 1070, Vương An Thạch chú ý đến phương nam và muốn lập công ở ngoài biên, tâu lên vua Tống rằng: "Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ." [1] Năm 1073, vua Tống Thần Tông phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây kinh lược sứ lo việc xuất quân. Thẩm Khởi đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến. Thẩm Khởi sau đó làm trái ý vua Tống, bị điều đi nơi khác và Lưu Di thay chức. Lưu Di được lệnh tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh và cấm người Đại Việt sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám. Đặc biệt, nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát để đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến chống Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.

Tuy Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng tình báo của Đại Việt vẫn nắm được ý đồ của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sĩ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với nhà Lý. Bởi thế Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống. Lúc này số quân Tống đang tập hợp ở các căn cứ Ung, Khâm, Liêm khoảng 100.000 quân đang huấn luyện, song chưa thể đánh ngay được vì số quân này là tân binh Hoa Nam vừa mới tuyển. Nhà Tống sẽ rút 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương bắc đưa xuống chiến trường phía nam để lập đạo quân chủ lực, thì việc đó làm chưa xong.[2] [3]

Trước tình hình đó, thái úy Đại Việt là Lý Thường Kiệt cho rằng: Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó. Chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu, Tiên phát chế nhân. Ông quyết định mở trận tiến công quy mô sang đất Tống.[4] [5]

Đại Việt đã huy động 10 vạn quân sang đánh phá căn cứ châu Ung của Tống, bao gồm cả lực lượng chính quy của triều đình lẫn quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Đạo quân của triều đình ở phía Đông do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy, gồm cả thủy quân - lục quân xuất phát từ vùng Móng Cái ngày nay tiến vào đất Tống nhằm tới châu Khâm. Còn đạo quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở phía Tây đặt dưới sự chỉ huy của Tông Đản chia làm 4 mũi tiến vào đất Tống: Lưu Kỷ từ Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hoàng Kim Mãn từ Môn Châu (Đông Khê - Cao Bằng), Thân Cảnh Phúc từ Quang Lang (Lạng Sơn) và Vi Thủ An từ Tô Mậu (Quảng Ninh) và nhắm tới châu Ung.[6] Đạo quân phía Tây sẽ "dương Tây" để đạo quân phía Đông bất ngờ "kích Đông".

Phòng ngự châu Ung gồm hai phần, tổng số có 5.000 quân.[7] Giữ biên thuỳ Đại Việt và đóng quân trong thành: 2.000 quân đóng ở thành Ung, 3.000 chia đóng ở 5 trại tiếp giáp biên giới Đại Việt: Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long[7].

Đổ bộ Khâm Châu và Liêm Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Đổ bộ Khâm Châu, Liêm Châu
Một phần của Chiến tranh Tống - Việt, 1075-1077
Thời gian27 tháng 10 năm 1075 - 2 tháng 1 năm 1076
Địa điểm
Khâm ChâuLiêm Châu, nước Đại Tống
Kết quả quân Tống thất thủ
Tham chiến
Đại Việt
Nhà Lý
Đại Tống
Nhà Tống
Chỉ huy và lãnh đạo
Lý Thường Kiệt
Vi Thủ An
Trần Vĩnh Thái
Lỗ Khánh Tôn
Lực lượng
Quân: 50.000 trong và sau cuộc đổ bộ
Thuyền chiến: không rõ
Ban đầu: Khâm Châu: 500 quân[8]
Liêm Châu: ít nhất 8.000 thổ binh[8]
Lực lượng tăng viện: không rõ
Tổn thất
không rõ toàn bộ bị giết và bị bắt

Khâm Châu và Liêm Châu sát biển tiếp giáp Quảng Ninh và Lạng Sơn ngày nay, đặt viên Phòng biên tuần sứ cai quản đoàn quân Đằng Hải để hợp với quân của hai viên tuần kiểm, không quá 500 người, đóng ở hai trại: Như Tích giáp biên thuỳ châu Vĩnh Anh và Để Trạo ở cửa sông Khâm Châu. Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Vi Thủ An dẫn 700 quân từ Tô Mậu vào đánh Cổ Vạn, chiếm được trại Cổ Vạn. Tin tức đến tận ngày 21 tháng 12 mới tới được triều đình nhà Tống. Tiếp theo, các mũi quân phía Tây lần lượt đánh chiếm trại Vĩnh Bình, Thái Bình, các châu Tây Bình, châu Lộc, trại Hoành Sơn.[9]

Quân Tống bị thu hút vào phía Tây, nên lơ là phía Đông. Đã có người Khâm châu phát hiện và báo cho tướng giữ thành là Trần Vĩnh Thái nhưng Thái không tin. Khi có tin đạo quân phía Đông của Đại Việt đến tập kích, Thái vẫn thản nhiên bày tiệc uống rượu. Quân Tống đã không chống đỡ nổi. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, châu Khâm bị chiếm, Trần Vĩnh Thái và các thủ hạ Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo đều bị bắt và bị giết. Quân Lý không phải giao phong một trận nào, lấy hết của cải mang đi[9].

Nghe tin Khâm châu thất thủ, quân Tống ở Liêm châu cố phòng bị nhưng không chống nổi. Ngày 2 tháng 1 năm 1076, châu Liêm thất thủ[9][10] Chúa các trại Như Tích và Để Trạo đều tử trận. Phía Tống bị bắt tới 8.000 tù binh dùng để đưa đồ vật cướp được xuống thuyền sau cũng bị đem giết hết. Quan trấn thủ châu Khâm là Lỗ Khánh Tôn và các thủ hạ Lương Sở, Chu Tông Thích, Ngô Tông Lập đều bị giết.

Tiếp tục tấn công trong đất liền[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó, Lý Thường Kiệt dẫn quân đến châu Ung cùng đạo quân phía Tây quyết tâm hạ thành châu Ung. Ngày 10 tháng 12, Tông Đản kéo đến Ung Châu. Cánh quân chiếm được Khâm Châu tiến lên Ung Châu. Cánh chiếm được Liêm Châu tiến sang miền Đông Bắc chiếm châu Bạch.[11]

Ngày 18 tháng 1 năm 1076, đạo quân của Lý Thường Kiệt cũng tới thành Ung châu. Mấy vạn quân của Lý Thường Kiệt, Lưu Kỷ và các tù trưởng khác vây thành Ung châu vài vòng kín như bưng. Tướng giữ thành là Tô Giám thấy thế quân Đại Việt mạnh nên đã áp dụng triệt để chính sách cố thủ để chờ viện quân, tính chỉ hai tuần lễ có thể đến nơi. Tô Giám ban đầu tin rằng Ung Châu cách Quế Châu chỉ có 14 ngày đường, nên viện binh thế nào cũng sẽ đến kịp cho nên đóng cửa thành cố thủ. Kiểm điểm binh lương, trong thành Ung lúc ấy chỉ có 2.800 quân. Dân thành Ung tất cả được gần 6 vạn người bấy giờ sợ hãi đạp nhau mà chạy. Ông đem hết công nhu (tiền công) phát hết cho dân khích lệ mọi người vững lòng, kiên trí. Kẻ nào bỏ trốn phải tội theo quân lệnh (Địch Tích là một bộ hạ dưới trướng của Tô Giám bị chém trong trường hợp này). Ông còn phao tin viện binh không còn xa thành là bao nhiêu.

Lấy xong Ung châu, Lý Thường Kiệt kéo quân lên phía bắc, tỏ ý muốn đánh tiếp Tân châu. Tướng giữ Tân châu nhà Tống là Cổ Cắn Lặc nghe tin, sợ hãi bỏ thành chạy. Lý Thường Kiệt ra lệnh tiêu hủy thành lũy, phá kho tàng dự trữ trong vùng Tả Giang và lấy đá lấp sông chặn đường cứu viện của quân Tống.[12] Liệu chừng đại quân Tống từ phương bắc sắp kéo xuống, nếu tiến gấp có thể qua vùng khê động đánh vào châu Quảng Nguyên của Đại Việt, mà quân Lý công phá thành Ung châu hơn 1 tháng đã mệt mỏi, Lý Thường Kiệt quyết định thu quân trở về Đại Việt để lo bố phòng.

Tháng 3 năm 1076, quân Lý rút khỏi Ung châu.

Chiến tranh đổ bộ thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Hồ Chí Minh trên biển[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông là một chiến dịch không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng về chủ quyền lãnh thổ của Quân giải phóng Miền Nam (QGPMN) trong cuộc Chiến tranh Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1975. Mục tiêu chiến dịch nhằm vào các đảo trên Quần đảo Trường Sa và các đảo ven biển miền Nam Việt NamQuân lực Việt Nam Cộng hòa đang chiếm giữ và một số đảo do quân Khmer đỏ đánh chiếm từ tay Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Kết quả là Quân giải phóng Miền Nam đã kiểm soát các đảo này.

Trong tiến trình của Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975, ngày 4 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh hải quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với lực lượng đặc công Quân khu 5 bắt đầu chiến dịch đánh chiếm quần đảo Trường Sa và các đảo trên biển Đông. Việc triển khai chiến dịch được giữ bí mật gắt gao và khẩn trương để không cho các lực lượng nào khác lợi dụng cơ hội chiếm các đảo từ tay Quân lực Việt Nam Cộng hòa đang suy yếu.[13]

Tại các đảo trên vịnh Thái Lan, Khmer Đỏ đã tận dụng sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa để chiếm một số đảo quan trọng. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phải chiến đấu giành lại đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai từ tay quân Khmer Đỏ.[14]

Theo kế hoạch được Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 thống nhất ngày 4 tháng 4 năm 1975, Đoàn 126 đặc công nước điều động Đội 1 gồm 170 sĩ quan, chiến sĩ phối hợp với một phân đội hỏa lực của Tiểu đoàn 471 (Quân khu 5) sử dụng ba tàu vận tải T673, T674, T675 vốn trước đây là các "tàu không số" với thủy thủ đoàn hơn 60 người có kinh nghiệm đi biển của Đoàn hải quân vận tải 125 tổ chức hành quân ra chiếm các đảo trên quần đảo Trường Sa. Phương án tấn công là bí mật, bất ngờ đổ bộ chiếm các đảo. Ngày tấn công (Ngày N) được chọn vào lúc mặt trận Xuân Lộc mở màn. Thời điểm tấn công (giờ G) được xác định từ 0 giờ đến 2 giờ sáng; khi đó, có thể tận dụng hình thái thủy văn thuận lợi (nước triều cao) để bí mật đổ quân. Trong khi hành quân, hạn chế tối đa việc sử dụng các thiết bị vô tuyến điện để giữ bí mật tuyệt đối.[15]

Đối với các đảo gần bờ biển miền Nam Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chủ yếu dùng lực lượng địa phương kết hợp với nổi dậy tại chỗ. Riêng tại các đảo Hòn Tre (Khánh Hòa), Cù Lao Thu (Phú Quý, Bình Thuận) có sử dụng các đơn vị chính quy:

  • Tại Hòn Tre: Tiểu đoàn 3, trung đoàn 19, sư đoàn 968 và quân của tỉnh đội Khánh Hoà.
  • Tại Cù Lao Thu: một đại đội đặc công nước thuộc tiểu đoàn 407, một đại đội bộ binh thưộc trung đoàn 95, (từ sư đoàn 325 chuyển thuộc sư đoàn 3-Quân khu 5).

Trận đánh Trường Sa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 4 năm 1975, đài trinh sát kỹ thuật của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt được bức điện của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đồn trú trên đảo Nam Yết gọi về đất liền yêu cầu tăng viện và điện trả lời của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa với nội dung: "Không có lực lượng tăng viện". Nhận được tin này, Tổng Quân ủy điện cho Bộ tư lệnh tiền phương quân chủng Hải quân đặt tại Đà Nẵng: "

Bức điện không nói rõ một số nước ngoài là những nước nào.

Theo kế hoạch, ba tàu của Hải quân Nhân dân Việt Nam được ngụy trang thành các tàu đánh cá đưa lực lượng của đoàn 126 tiến đánh Trường Sa xuống tàu lúc 4 giờ sáng ngày 11 tháng 4, nhằm hướng Song Tử Tây xuất phát. Từ 11 giờ ngày 11 tháng 4 đến hết ngày 12 tháng 4, các tàu này gặp ba tàu của Hạm đội 7 - Hải quân Hoa Kỳ. Các tàu Hoa Kỳ áp sát và dùng trực thăng kiểm tra và xác định đó là các tàu đánh cá của Hồng Kông đang đổi hướng di chuyển về phía Bắc. Sau khi ba tàu của Hoa Kỳ đi xa, trung tá Mai Năng ra lệnh cho cả ba tàu quay lại tiến về phía đảo Song Tử Tây.[17]

19 giờ 30' ngày 13 tháng 4, tàu 673 tiếp cận từ phía Đông và xác định chính xác đó là đảo Song Tử Tây để khỏi nhầm với đảo Song Tử Đông gần đó do Philippines chiếm giữ. Hai tàu 674 và 675 vòng ra án ngữ hai bên sườn phía Nam và phía Tây đảo. Lúc 1 giờ 15 phút ngày 14 tháng 4, Đội 1 (đoàn 126) và đội hỏa lực (tiểu đoàn 471) dùng 7 xuồng cao su đổ bộ lên đảo, chia làm ba mũi tấn công từ các hướng Nam, Tây và Đông Nam. Cuộc kháng cự yếu Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Song Tử Tây nhanh chóng chấm dứt sau 30 phút giao chiến. Có tám người tử thương trong giao chiến (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam 2, Quân lực Việt Nam Cộng hòa 6), 33 sĩ quan và binh lính miền Nam còn lại đầu hàng, trong đó có viên đảo trưởng.[18] Hải quân Việt Nam Cộng hòa điều tàu tuần dương HQ-16 và tàu vận tải HQ-402 từ Vũng Tàu ra nhưng không tổ chức phản kích do chưa nắm được thực lực đối phương. Hai tàu này quay về phòng giữ đảo Nam Yết là căn cứ chỉ huy của vùng đảo. Bộ tư lệnh tiền phương Hải quân Nhân dân Việt Nam điều tàu 641 ra thay thế hai tàu 674 và 675 được giao nhiệm vụ chở hàng binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa về Đà Nẵng.[19]

Sau khi chiếm đảo Song Tử Tây, Bộ tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam dự định tấn công cùng lúc vào ba đảo Nam Yết, Sơn Ca và Sinh Tồn nhưng các tàu tuần dương và tàu vận tải của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã án ngữ đảo Nam Yết. Yếu tố bí mật bất ngờ không còn. Trung tá Mai Năng quyết định tiến đánh đảo Sơn Ca trước. Đêm 24 tháng 4, tàu 641 chở quân tiến đánh Sơn Ca. Lính Đài Loan trên đảo Ba Bình thấy tàu 641 đi qua nhưng chỉ bắn pháo sáng để quan sát. 1 giờ 30 phút rạng ngày 25 tháng 4, ba trung đội của đoàn 126 đổ bộ lên đảo Sơn Ca. 2 giờ 30 phút, cuộc tấn công bắt đầu. 2 binh sĩ miền Nam chết ngay trong loạt đạn đầu tiên, 23 người còn lại kéo vào công sự ẩn nấp và ra hàng lúc 3 giờ 00.[20][21]

Mất Song Tử Tây và Sơn Ca, cộng với tình hình đất liền đang diễn biến hết sức bất lợi cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, lúc 20 giờ 45 phút ngày 26 tháng 4, Bộ tư lệnh Hải quân Quân lực Việt Nam Cộng hòa điện cho các tàu HQ-16 và HQ-402 ra lệnh di tản các đơn vị còn lại của tiểu đoàn 371 địa phương quân Phước Tuy ra khỏi các đảo Nam Yết và Sinh Tồn. Trinh sát kỹ thuật của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã bắt được bức điện này. 11 giờ 30 ngày 27 và 11 giờ ngày 28 tháng 4, Nam Yết và Sinh Tồn lần lượt bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm lĩnh. Cũng theo kịch bản đã diễn ra tại Nam Yết và Sinh Tồn, ngày 28 tháng 4, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại đảo Trường Sa rút lên tàu. Ngày 29 tháng 4, vẫn là những đơn vị của Đoàn 126 đặc công nước của hải quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp quản đảo này.[22][23]

Trận đánh Cù Lao Thu[sửa | sửa mã nguồn]

Cù Lao Thu (nay là đảo Phú Quý) là một đảo lớn ven bờ biển Đông của Việt Nam, nằm cách Phan Thiết 60 hải lý, cách Cam Ranh 82 hải lý. Đảo rộng khoảng 21 km vuông. Dân số khoảng 12.000 người. Đến cuối tháng 3 năm 1975, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại đảo này gồm một liên đội dân vệ (nghĩa quân), một trung đội cảnh sát và 4.000 nhân dân tự vệ. Đầu tháng 4 năm 1975, sau khi thị xã Hàm Tân thất thủ, khoảng trên 800 sĩ quân, binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã chạy ra đây. Ngày 22 tháng 4, Hải quân Việt Nam cộng hòa điều động tàu hộ tống HQ-11 và tàu tuần duyên WPB đến phòng thủ đảo này.[24]

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, từ cảng Cam Ranh, Bộ Chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam điều động tàu vận tải 643 (Đoàn 125) và một số thuyền đánh cá chở hai đại đội của tiểu đoàn 407 đặc công nước thuộc Quân khu 5, một đại đội bộ binh của trung đoàn 95 tiến đánh Cù Lao Thu. 1 giờ 50 phút ngày 27 tháng 4, các lực lượng này đã đổ bộ lên đảo. 5 giờ 15 phút sáng cùng ngày, trận đánh chiếm Cù Lao Thu bắt đầu. Bị đánh bất ngờ, các đơn vị Quân lực Việt Nam Cộng hòa tìm đường chạy đến khu nhà hành chính của đảo và tổ chức chống cự. Trên biển, các tàu HQ-11 và WPB phải đấu súng với hoả lực B-40, B41, ĐKZ và đại liên 12,7 mm trên các tàu 643 và tàu đánh cá của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Do các tàu của Hải quân Nhân dân Việt Nam sử dụng chiến thuật đánh gần, áp sát nên hỏa lực pháo tầm xa của tàu HQ-11 bị vô hiệu hoá. Chiếc WPB đã bị trúng nhiều quả B-40, B-41 và hỏng nặng, nằm bất động tại mép đảo. Sĩ quan và binh lính hải quân Việt Nam Cộng hòa trên tàu này và một số bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên đảo chạy lên tàu HQ-11. Sau nhiều giờ không thấy các tàu khác của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đến trợ chiến, lúc 16 giờ cùng ngày, tàu HQ-11 nhổ neo rút lui ra biển khơi và trở về Vũng Tàu để tiếp tục yểm trợ hải pháo cho mặt trận Bình Tuy. Đến 6 giờ 30 phút, sức kháng cự của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại khu nhà hành chính của đảo nhanh chóng bị dập tắt. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt 382 tù binh, thu hơn 900 súng các loại, hai đài VTĐ và nhiều đồ dùng quân sự.[25]

Trận đánh Côn Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Côn Đảo là quần đảo nằm ở Tây Nam Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam; cách Vũng Tàu 179,64 km, cách cửa sông Bát Sắc 83,34 km; diện tích tự nhiên 77,28 km vuông. Đảo lớn nhất là Côn Sơn có diện tích 52 km vuông (chiếm 74,29% diện tích toàn bộ quần đảo. Quanh đảo này có các đảo Phú Hà, Hòn Ông, Hòn Rắn, Hòn Bà (Côn Lôn Nhỏ hay Phú Sơn), Hòn Bảy Cạnh (Phú Cường), Hòn Cau (Phú Lê) và 8 đảo nhỏ khác. Trên đảo có thị trấn quận lỵ Côn Sơn, sân bay Cỏ Ống, cảng và có tám trại giam chính và một số trại giam phụ như Chuồng Bò, Sở Tiêu, Sở Ruộng, Sở Muối, Sở Rẫy, Sở Đập Đá, Sở Lò Vôi... Vào thời điểm cuối cuộc Chiến tranh Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa giam giữ tại Côn Đảo hoảng 7000 người là chính trị phạm, quân phạm và thường phạm; trong đó có hơn 500 nữ tù.[26][27]

Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên đảo có hơn 2000 người, trong đó một tiểu đoàn bảo an 500 người, một đại đội 100 người cùng hơn 1.000 trật tự viên. Tiểu đoàn bảo an bố trí hai đại đội đóng tại hai đồn ở trung tâm thị trấn Côn Sơn, đại đội còn lại bảo vệ sân bay Cỏ Ống. Từ ngày 29 tháng 4, sân bay Cỏ Ống tại Côn Sơn trở thành nơi trung chuyển các cố vấn Hoa Kỳ, quan chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa di tản từ Tân Sơn Nhất ra các tàu chiến của Hoa Kỳ đậu ngoài khơi Việt Nam. Các quan chức trên đảo cũng tìm cách di tản gia đình bằng đường biển và đường không. Đến trưa ngày 30 tháng 4, khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện tại Sài Gòn, trên đảo vẫn còn 442 gia đình công chức, binh sĩ và giám thị. Một số trật tự viên vốn là phạm binh đã có hành động cuớp phá đối với thường dân trên đảo.[28]

1 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1975, các chính trị phạm tại Trại VII nổi dậy chiếm toàn bộ 496 xà lim của trại này, lập ra Đảo ủy lâm thời. Họ cũng lập ra ba trung đội vũ trang được trang bị vũ khí chiếm được của lính bảo an và vũ khí thô sơ. Trung đội này đã tổ chức đánh chiếm các trại lính Bình Định Vương, trại I, trại IV và trại V. Lính bảo an, cảnh binh và trật tự viên tại các trại này bỏ chạy, không kháng cự, để lại nhiều súng, đạn, lựu đạn. Các nữ tù tại trại VIIB ấy biết được tin tức Sài Gòn đã đầu hàng trên chiếc radio do họ giấu kín từ trước và thuyết phục được viên giám thị mở trại, thả tù. Tin tức về việc Sài Gòn đầu hàng lan sang các trại khác. Sáng ngày 1 tháng 5, trung đội vũ trang thứ ba của những người tù tren đảo đánh chiếm trụ sở cảnh sát của đảo khi đó đã không còn người coi giữ. Đến 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, hầu hết các công sở tại đảo Côn Sơn bị các tù nhân đánh chiếm. Quân số lực lượng vũ trang của tù nhân đã lên đến một tiểu đoàn do nhiều người tình nguyện gia nhập. Được trang bị các vũ khí chiếm được của đối phương, chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, tiểu đoàn này tấn công Chi khu quân sự Bến Đầm, Đài ra đa đối không và đối hải trên núi Thánh Giá. Tại sân bay Cỏ Ống, một trung đội lính bảo an Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng. Quân nổi dậy thu dược 27 máy bay các loại.[29]

Chiều tối ngày 2 tháng 5, quân nổi dậy trên đảo đã liên lạc với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên đất liền, thông báo tin tức đã chiếm được đảo và đề nghị chi viện. Mặt khác, họ cũng nhanh chóng tổ chức một hệ thống hầm hào phong ngự đề phòng Quân lực Việt Nam Cộng hòa hoặc hải quân Hoa Kỳ phản kích chiếm đảo. Đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 5, các tàu chiến của trung đoàn 171 và trung đoàn 172 Hải quân Nhân dân Việt Nam chở các lực lượng chi viện thuộc sư đoàn 3 Sao Vàng (Quân khu 5) đã cập cảng Côn Sơn. Ngày 5 tháng 5, các lực lượng này phối hợp với lực lượng tù nhân nổi dậy trên đảo đánh chiếm đảo Hòn Cau và các đảo khác, làm chủ toàn bộ quần đảo quan trọng này.[30]

Trận đánh tại các đảo khác[sửa | sửa mã nguồn]

Được sự hỗ trợ của hải quân và bộ binh Hải quân Nhân dân Việt Nam, dân chúng tại các đảo đã nổi dậy chiếm một loạt đảo nhỏ ven biển miền Trung như Cù Lao Xanh (ngày 1 tháng 4), Hòn Tre (ngày 10 tháng 4), Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré (ngày 30 tháng 4).

Đánh quân Khmer Đỏ tại Phú Quốc, Thổ Chu và Poulo Wai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những ngày cuối cùng của cuộc Chiến tranh Việt Nam, tình hình vùng biển đảo phía Tây Nam hết sức phức tạp. Ngày 17 tháng 4 năm 1975, quân Khmer Đỏ đánh chiếm Phnom Penh. Ngày 3 tháng 5 năm 1975, lợi dụng lúc chính quyền và quân lực Việt Nam Cộng hòa suy yếu, chính quyền Khmer Đỏ do PolpotIeng Sary cầm đầu đã cho một tiểu đoàn bất ngờ tấn công cộng đồng dân cư Việt Nam cư trú tại các vùng biên giới thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đánh chiếm đảo Phú Quốc, tàn sát binh lính Việt Nam Cộng hòa và nhiều tù nhân, dân thường trên đảo.[31][32] Đến ngày 6 tháng 5, Bộ tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam điều động hai tàu 643 và 657 vận chuyển hai tiểu đoàn của Quân khu 9 ra chiếm lại đảo Phú Quốc. Khi phát hiện một lực lượng lớn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam triển khai lực lượng từ phía Bắc và phía Nam đảo tiến đánh hợp điểm vào trung tâm đảo, quân Khmer Đỏ xuống tàu tháo chạy ra đảo Thổ Chu.[31][32] Để bảo vệ đảo Phú Quốc, Bộ Tổng Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định điều Trung đoàn 101 hải quân đánh bộ ra đóng quân tại đảo.[33]

Tại đảo Thổ Chu, quân Khmer Đỏ lại tiếp tục cướp bóc, đốt phá, tàn sát người dân.[31][32] Hầu hết số cư dân trên đảo (khoảng hơn 500 người) đã bị quân Khmer Đỏ giết và bắt đi. Theo kế hoạch tác chiến, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng lực lượng tàu hải quân kết hợp với bộ binh và du kích trên đảo Phú Quốc bí mật hành quân áp sát để chia cắt tiêu diệt lực lượng Khmer Đỏ, lấy đảo Phú Quốc làm trung tâm chỉ huy. Tham gia trận đánh tại Thổ Chu có một số tàu chiến của Trung đoàn 171 (sau này là Hạm đội cơ động 171), hai tiểu đoàn của Sư đoàn 4, Quân khu 9 và một tiểu đoàn của Đoàn đặc công hải quân 126. Ngày 24 tháng 5, các đơn vị bộ binh, đặc công và hải quân chia làm bốn mũi cùng đổ bộ lên đảo Thổ Chu. Sau một ngày giao chiến ác liệt, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm lại đảo Thổ Chu, bắn chìm hai tàu đổ bộ của Khmer Đỏ, tịch thu một tàu nhỏ và nhiều vũ khí, đạn dược và bắt hơn 400 tù binh.[34]

Trong thời kỳ 1970-1975, đảo Poulo Wai trấn giữ lối ra vào cảng Kompong Som (còn gọi là Sihanoukville) do quân đội chính quyền Cộng hòa Khmer của Lon Nol phối hợp với Quân lực Việt Nam Cộng hòa đóng giữ. Sau sự kiện ngày 17 tháng 4 năm 1975 ở Phnom Penh, quân Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Poulo Wai và tàn sát tất cả binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng như quân Lon Nol đóng tại đây. Về phía Việt Nam, sau khi chiếm giữ đảo Thổ Chu, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam tiếp tục kế hoạch đánh chiếm đảo Poulo Wai. Trong kế hoạch có dự kiến sử dụng bộ binh, không quân phối hợp với hải quân mà chủ lực là hải quân đánh bộ tham gia.[35]

Vào 13 giờ 30 phút sáng ngày 4 tháng 6 năm 1975, các tàu của Hải quân Nhân dân Việt Nam xuất phát đi Poulo Wai. Cuộc tấn công bắt đầu ngày 5 tháng 6 và kéo dài đến hết ngày 13 tháng 6. Quân Khmer Đỏ dựa vào công sự vững chắc đã chống trả hơn một tuần. Do không quân không hoạt động được vì thời tiết xấu, Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho các đơn vị dùng hỏa lực trên các hạm tàu để chế áp các hỏa điểm của đối phương; đã sử dụng 2.000 viên đạn cối, 8.000 viên đạn 12,7 mm để yểm hộ cho hải quân đánh bộ và bộ binh dập tắt các ổ đề kháng của quân Khmer Đỏ. 19 giờ ngày 13 tháng 6 năm 1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam hoàn thành việc đánh chiếm Poulo Wai.[36] [37]

Chiến tranh đổ bộ bị hủy bỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch tấn công Malacca[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt tấn công Malacca
Thời gianchưa bao giờ thực hiện
Địa điểm
bờ biển Tây Mã Lay
Tham chiến
Đại Việt
Nhà Hậu Lê
Vương quốc Malacca
Chỉ huy và lãnh đạo
Lê Thánh Tông vua Mansur Shah
vua Alauddin Riayat Shah
tướng Tun Perak
Lực lượng
Quân: -
Thuyền chiến: -
Quân: -
Thuyền chiến: -

Sau Chiến tranh đánh Champa năm 1471, người Chăm tháo chạy khỏi Champa rất nhiều, chủ yếu bằng đường biển, một bộ phận chạy đến đảo Hải Nam, một bộ phận chạy đến vương quốc Malacca (Tây Malaysia ngày nay). Việc quá nhiều người Chăm đến Malacca gây nên nỗi lo sợ cho vương quốc này rằng sau Champa, Malacca sẽ là mục tiêu xâm lược tiếp theo. Những thành phần quý tộc Champa chạy đến đây đã tìm kiếm sự giúp đỡ nhằm khôi phục lại quyền lực ở Champa. Họ dưới sự giúp đỡ bởi quý tộc Malacca đã đưa một đoàn thuyền đến nhà Minh để triều cống và cầu viện.

Trước mối nguy cơ đó, Đại Việt chuẩn bị khởi động tấn công vương quốc Malacca, đây sẽ là chiến dịch đổ bộ hải quân lớn nhất của Đại Việt ra bên ngoài lớn nhất kể từ Chiến dịch đánh Tống dưới thời nhà Lý. Tuy nhiên động cơ không phải xâm lược Malacca, chiến dịch này có thể mang tính chiến thuật và diễn ra ngắn ngày, mục tiêu tấn công dọc bờ biển Malacca, nhằm vào các điểm đến của người tị nạn Chăm, săn lùng các thành phần quý tộc Chăm, loại bỏ các nguy cơ cho nhà Lê trong tương lai.

Chiến dịch đã không bao giờ được tiến hành, tình hình xung đột với vương quốc Lang Xang ở mạn tây bắc Đại Việt gia tăng, 7 năm sau chiến dịch đánh Champa, nhà Lê khởi động một cuộc tấn công quy mô lớn vào Lang Xang vào năm 1478 với 230.000 quân. Chiến tranh chấm dứt sau đó với thắng lợi của Đại Việt nhưng tổn thất lớn về người khiến kế hoạch đánh Malacca không bao giờ được tiến hành. Hai cuộc chiến tranh quy mô lớn liên tiếp đã vắt kiệt sức lực nhà Lê góp phần suy thoái thời gian sau đó, và cuối cùng Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê.

Kế hoạch chinh phạt Mãn Thanh của Quang Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Sơn chinh phạt Mãn Thanh
Thời gianchưa bao giờ thực hiện
Địa điểm
Tham chiến
Đại Việt
Nhà Tây Sơn

Diện tích: ~ 260.000 km² [38]

Dân số: ~ 7.000.000
Trung Quốc
Nhà Thanh

Diện tích: ~ 14.000.000 km² [39] [40]
Dân số: 297.600.000 [41]
Chỉ huy và lãnh đạo
Hoàng đế Quang Trung Hoàng đế Càn Long
Lực lượng
Bộ binh và kị binh: 200.000
Tượng binh: -
Thủy binh: -

Thuyền chiến: -

Thiên Địa Hội: -
Cấm Lữ Bát Kỳ: 100.000
Trú Phòng Bát Kỳ: 100.000
Mông Cổ Bát Kỳ: vài vạn
Lục doanh: 600.000 [42]

Năm 1789, sau khi đánh bại quân Mãn Thanh xâm lược, uy tín chính trị của Tây Sơn mà đứng đầu là vua Quang Trung lên cao. Đây là chiến công hiển hách nhất của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung sau đó đã nghĩ đến việc chuẩn bị binh lực, mưu sang đánh Trung Quốc. Ông nói với Ngô Thời Nhiệm: “Đánh xong trận này, ta muốn phiền ông sang dùng lời nói sao cho khéo để chỉ việc chiến tranh. Đợi mười năm nữa nước ta dưỡng sức phú cường rồi, bấy giờ ta không cần sợ nó nữa…”. Quang Trung cũng đã từng nói với một người tướng của mình rằng: “Người Mãn Châu là một dân tộc ở mạn bắc Trung Quốc, dân số chỉ hơn trăm vạn mà có thể chinh phạt được cả nhà Minh, người Việt chúng ta đông hơn chả lẽ không thể”.

Quang Trung trực tiếp chăm nom, tuyển binh bắt lính, ra sức xây dựng đạo quân chính 20 vạn người, rèn đúc binh khí, tập luyện chiến trận ngày đêm. Nhân Thiên Địa Hội “Phản Thanh, phục Minh”, ông hỗ trợ họ cho quấy rối quân Thanh vùng giáp ranh,[43] xây dựng họ làm tay trong cho cuộc chinh phạt Trung Quốc. Năm Nhâm Tý (1792), mọi việc chuẩn bị xong xuôi, Quang Trung sai sứ đem lễ vật sang Bắc Kinh cầu hôn một công chúa Mãn Thanh và xin trả lại Việt Nam đất tỉnh Lưỡng Quảng làm của hồi môn. Cố nhiên, đó là cớ để danh chính ngôn thuận khởi binh, chỉ chờ sứ bộ là Võ Huy Tấn trở về là phát lệnh tiên phát. Không may, nhà vua bất ngờ lâm bệnh rồi băng hà, thọ bốn mươi tuổi. Dự định ấp ủ bị chôn vùi.

Kế hoạch chinh phạt Đại Thanh của Quang Trung nếu được tiến hành sẽ là kế hoạch quân sự lớn nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử nhằm vào Trung Quốc. Kế hoạch này sẽ không dừng lại ở việc phá rối dọc bờ biển, cướp bóc, hay tấn công ngăn chặn nữa, mà là chiếm đóng và thiết lập quyền lực nhà Tây Sơn ở Trung Quốc. Lưỡng Quảng vì vậy sẽ không phải là mục tiêu lớn nhất. Để thực thi kế hoạch này cần rất nhiều thời gian chuẩn bị, cuộc tấn công đã không sớm được tiến hành. Sau khi Quang Trung chết, nhà Tây Sơn phải tập trung đối mặt với cuộc phản công của Nguyễn Ánh, suy yếu dần đến ngày sụp đổ.

Không có dữ kiện sách sử nào về việc xây dựng hải quân Tây Sơn tham gia đánh Thanh, không có dữ liệu về số quân và số thuyền, nhưng một lực lượng lớn như thế ắt đã phải được tiến hành xây dựng, bởi lãnh thổ Trung Quốc vô cùng rộng lớn, nhiều sông ngòi luôn cần hải quân làm hậu cần, tải lương, chuyển quân các điểm vượt sông, cũng như tấn công từ các cửa biển vào. Đồng thời việc xây dựng tổ chức hải quân, huấn luyện lính thủy và vẽ bản đồ, lập kế hoạch, chiến thuật là việc quy mô và cần thiết. Tiếc thay, đến nay vẫn không có tư liệu nào nói rõ về điều này.

Năng lực đổ bộ của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng đổ bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết quân sự[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, trang 146.
  2. ^ Hoàng Xuân Hãn (1996), Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nhà xuất bản Hà Nội, trang 165.
  3. ^ Phạm Hồng Sơn, Viện quân sự cấp cao, Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, 1990, trang 10.
  4. ^ Phạm Hồng Sơn, Viện quân sự cấp cao, Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, 1990, trang 10.
  5. ^ Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 238.
  6. ^ Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 241.
  7. ^ a ă Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 237.
  8. ^ a ă Hà Hữu Nga (2000), Hạ Long Lịch sử, Ban quản lý Vịnh Hạ Long xuất bản, tr.102-103.
  9. ^ a ă â Hoàng Xuân Hãn (1996), Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nhà xuất bản Hà Nội, trang 172.
  10. ^ Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 242.
  11. ^ Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, trang 148.
  12. ^ Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 245.
  13. ^ Đình Kính. Lịch sử Đoàn Đặc công hải quân 126 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 192.
  14. ^ Bộ Tư lệnh hải quân. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 324.
  15. ^ Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 347-348.
  16. ^ Nguyễn Văn Đấu - Dương Thảo - Đặng Văn Tới. Bộ Tham mưu Hải quân - Biên niên sự kiện (1959-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 38.
  17. ^ Bộ Tư lệnh hải quân. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 313.
  18. ^ Đình Kính. Lịch sử Đoàn đặc công hải quân 126 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 150.
  19. ^ Đình Kính. Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân (1961-2001). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001. trang 162.
  20. ^ Đình Kính. Lịch sử Đoàn đặc công hải quân 126 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 153.
  21. ^ Bộ Tư lệnh hải quân. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 317.
  22. ^ Nguyễn Văn Đấu - Nguyễn Dương Thảo - Đặng Văn Tới. Bộ tham mưu Hải Quân - Biên niên sự kiện (1959-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 57.
  23. ^ Đình Kính. Lịch sử Đoàn đặc công hải quân 126 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 155.
  24. ^ Bộ Tư lệnh hải quân. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 320.
  25. ^ Đình Kính. Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân (1961-2001). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001. trang 168.
  26. ^ Từ điển Bách khoa Việt Nam. Tập I (A-Đ). Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Hà Nội. 1995. trang 577.
  27. ^ Từ điển Bách khoa Việt Nam. Tập III (N-S). Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Hà Nội. 2003. trang 222.
  28. ^ Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang. Lịch sử kháng chiến chóng Mỹ cứu nước. Tập VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 357-358.
  29. ^ Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 360-361.
  30. ^ Bộ Tư lệnh hải quân. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 322.
  31. ^ a ă â Cao Văn Quý (chủ biên). Lịch sử Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 (1965-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 41.
  32. ^ a ă â Grant Evans - Kelvin Rowlay. Chân lý thuộc về ai. (nguyên bản tiếng Anh: Red brotherhood at war). Dịch giả. Nguyễn Tấn Cưu. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1986. trang 114-116.
  33. ^ Cao Văn Quý (chủ biên). Lịch sử Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 (1965-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 42.
  34. ^ Phạm Hồng Thuỵ. Lịch sử lữ đoàn 171 hải quân - Hạm đội 171 (1966-1996). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1996. trang 96.
  35. ^ Bộ Tư lệnh hải quân. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-2005). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 322.
  36. ^ Đình Kính. Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân (1961-2001). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001. trang 170.
  37. ^ Hà Thành (ngày 27 tháng 4 năm 2009). “Quần Đảo Thổ Chu và trận chiến giải phóng đảo”. Báo điện tử Quân đội Nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. 
  38. ^ Ghi chú: Không tính diện tích vùng Nam Bộ, khu vực có chủ quyền không rõ ràng, về cơ bản, vùng vẫn do các lực lượng Nguyễn Ánh kiểm soát.
  39. ^ Rein Taagepera (September 1997). "Expansion and Contraction Patterns of Large Polities: Context for Russia". International Studies Quarterly. 41 (3): 492–502
  40. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D. (December 2006). "East-West Orientation of Historical Empires". Journal of world-systems research. 12 (2): 222–223
  41. ^ Population Statistics: Historical Demography". Truy cập 29 tháng 6 năm 2016
  42. ^ Liu Xiaomeng (Hoa ngữ), "Bát Kỳ của triều đại nhà Thanh", Nhà xuất bản Dân tộc Liêu Ninh, năm 2008, trang 21.
  43. ^ Tạ Chí Đại Trường (2006), Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771-1802, Nhà xuất bản Công an nhân dân, trang 270.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chiến tranh đổ bộ (tiếng Anh: Amphibious warfare)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]