Chrysoberyl

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chrysoberyl
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật ôxít
Công thức hóa học BeAl2O4
Phân loại Strunz 04.BA.05
Tính đối xứng tinh thể Thoi 2/m2/m2/m tháp đôi
Màu nhiều sắc của màu lục, vàng, nâu đến đen lục, có thể có màu đỏ mâm xôi dưới ánh sáng đèn dây tóc; không màu, vàng, lục hoặc đỏ đối với ánh sáng truyền qua
Dạng thường tinh thể tinh thể trụ, lăng trụ ngắn, vân nổi
Hệ tinh thể thoi
Song tinh tiếp xúc và xuyên cắt là phổ biến, thường lặp lại tạo thành cấu trúc hoa hồng
Cát khai rõ trên trục (110), không hoàn toàn (010), kém {001}
Vết vỡ vỏ sò đến không phẳng
Độ bền giòn
Độ cứng Mohs 8,5
Ánh thủy tinh
Màu vết vạch trắng
Tỷ trọng riêng 3,5 - 3,84
Thuộc tính quang hai trục (+)
Chiết suất nα=1.745 nβ=1.748 nγ=1.754
Đa sắc X = red; Y = cam-vàng; Z = lục emerald
Góc 2V đo: 70°
Tham chiếu [1][2][3]
Các biến thể chính
Alexandrit đổi màu; lục đến đỏ
Cymophan Chatoyant

Chrysoberyl là một loại khoáng vật nhôm berili có công thức hóa học BeAl2O4.[3] Tên gọi của khoáng vật này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp χρυσός chrysos và βήρυλλος beryllos, nghĩa là "spar trắng-vàng". Mặc dù có tên gọi tương tự, chrysoberyl và beryl là các loại đá quý hoàn toàn khác nhau. Chrysoberyl là loại đá quý tự nhiên có độ cứng xếp hàng thứ 3 vào khoảng 8,5 theo thang độ cứng Mohs, giữa corundum (9) và topaz (8).[4]

Chrysoberyl nguyên thủy có màu lục-vàng và trong suốt đến đục. Khi khoáng vật có màu lục nhạt đến vàng và trong suốt thì nó được dùng làm đá quý. Ba biến thể chính của chrysoberyl là: chrysoberyl lục đến vàng nguyên thủy, mắt mèo hay cymophane, và alexandrit. Chrysoberyl vàng lục được gọi là "chrysolit" dưới thời kỳ Victoria và Edwardia, điều này gây nhầm lẫn do tên gọi này đã được dùng để chỉ olivin ("peridot" là một loại đá quý); tên gọi này đã không còn được sử dụng trong danh pháp ngọc học.

Alexandrit[sửa | sửa mã nguồn]

Alexandrit, 26.75 cts.

Alexandrit xuất xứ từ dãy Ural, Nga có màu lục dưới ánh sáng ban ngày và đỏ dưới ánh sáng đèn dây tóc vào ban đêm. Các biến thể khác của alexandrit có thể có màu vàng hoặc hồn dưới ánh sáng ban ngày và đỏ columbine hoặc màu mâm xôi dưới ánh đèn dây tóc ban đêm.

Cymophan[sửa | sửa mã nguồn]

Cymophane bóng và có mắt ở giữa.

Chrysoberyl chatoyancy đục được gọi là cymophane hay mắt mèo. Từ cymophan có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là 'sóng' và 'dạng', có hiệu ứng mắt mèo. Dạng biến thể này thường chứa các hốc hoặc bao thể dạng que[5] của rutil xuất hiện theo hướng song song với trục c tạo ra hiệu ứng chatoyant thấy được dưới tia sáng đơn sắc chiếu qua tinh thể. Hiệu ứng này cũng được nhìn thấy rõ trong các quý đã gia công ở dạng cabochon vuông góc với trục c. Màu vàng chrysoberyl là do tạp chất Fe3+.

Đá mắt mèo thật sự trở nên nổi tiếng vào cuối thế kỷ 19 khi Duke of Connaught đã đưa ra chiếc nhẫn có khảm đá mắt mèo; điều này cũng đủ để làm cho loại đá này trở nên phổ biến và gia tăng giá trị của nó. Cho đến thời điểm đó, mắt mèo đã chủ yếu có mặt trong bộ sưu tập đá quý và khoáng vật. Nhu cầu tăng cao làm mở rộng các cuộc tìm kiếm nó ở Sri Lanka.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Handbook of Mineralogy
  2. ^ Mindat.org
  3. ^ a ă Webmineral data
  4. ^ Klein, Cornelis; and Cornelius S. Hurlbut, Jr. (1985). Manual of Mineralogy (ấn bản 20). New York: Wiley. ISBN 0-471-80580-7. 
  5. ^ "Mitchell, T. E. and Marder, J. M., "Precipitation in Cat's-Eye Chrysoberyl," Electron Microscopy Soc. Proceedings, 1982.
  6. ^ “U.S. Geological Survey, 1887, George Frederick Kunz, Cymophane, Cat's Eye as gemstone”. 1887. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2007.