Ngọc lưu ly

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lapis lazuli)
Jump to navigation Jump to search
Lapis lazuli
Lapis lazuli ở Afghanistan trong trạng thái tự nhiên
Thông tin chung
Thể loại Đá biến chất
Công thức hóa học Hỗn hợp của khoáng chất với lazurit như là thành phần chính.
Màu Xanh lam, đốm với màu trắng canxipyrit
Dạng thường tinh thể Đặc, to
Hệ tinh thể Không, vì lapis là đá. Lazurit là thành phần chính, thường xuất hiện ở dạng dodecahedra
Vết vỡ Không đồng đều
Độ cứng Mohs 5–5.5
Ánh Mờ
Màu vết vạch xanh nhạt
Tỷ trọng riêng 2.7–2.9
Chiết suất 1.5
Các đặc điểm khác Các biến thể trong thành phần tạo ra sự khác biệt lớn về các giá trị trên.

Lapis lazuli ( /ˈlæpɪs ˈlæzjuːli,_ʔl/), hay ngọc lapis, ngọc lưu ly, là một đá biến chất màu xanh lam được sử dụng như một viên đá bán quý được đánh giá cao từ thời cổ đại vì màu sắc rực rỡ của nó. Những năm đầu của thiên niên kỷ 7 trước Công nguyên, lapis lazuli được khai thác ở mỏ Sar-i Sang,[1][2]Shortugai, và các mỏ khác ở tỉnh Badakhshan ở đông bắc Afghanistan.[3] Lapis được đánh giá cao bởi nền văn minh lưu vực sông Ấn (3300-1900 TCN). Hạt Lapis đã được tìm thấy ở những nơi chôn cất thời kỳ đồ đá mớiMehrgarh, vùng Kavkaz, và ngay cả từ Afghanistan đến Mauritanie.[4] Nó được sử dụng trong mặt nạ của Tutankhamun (1341-1323 TCN).[5]

Vào cuối của thời trung cổ, lapis lazuli bắt đầu được xuất khẩu sang châu Âu, tại đây nó được nghiền thành bột và được làm thành màu lam sẫm khiến nó trở thành chất màu xanh lam có chất lượng tốt nhất và đắt tiền nhất. Lapis lazuli được sử dụng bởi một số họa sĩ nổi tiếng trong thời kì Phục hưngBaroque, bao gồm Masaccio, Perugino, TitianVermeer, và thường được dành riêng cho quần áo của các nhân vật chính trong bức tranh của họ, đặc biệt là Đức Mẹ Maria.

Ngày nay, các mỏ ở Đông Bắc Afghanistan và Pakistan vẫn là nguồn khai thác chính của lapis lazuli. Một số lượng lớn cũng được sản xuất từ các mỏ phía tây Hồ BaikalNga, và ở dãy núi AndesChile. Số lượng nhỏ hơn được khai thác ở Ý, Mông Cổ, Hoa KỳCanada.[6]

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Lapis là từ trong tiếng Latin nghĩa là "đá" và lazuli, một dạng của từ lazulum trong tiếng Latin trung cổ, có nguồn gốc tiếng Ả Rập لاجورد lājaward, và chính từ đó lại có nguồn gốc لاجورد lājevard trong tiếng Ba Tư, là cách gọi loại đá này ở Ba Tư[7] và là nơi mà loại đá này được khai thác.[8][9]

Khoa học và ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần khoáng chất quan trọng nhất của lapis lazuli là lazurit (25% đến 40%),[10] khoáng chất silicat feldspathoid có công thức (Na,Ca)8(AlSiO4)6(S,SO4,Cl)1-2.[11] Hầu hết lapis lazuli cũng chứa canxi (trắng), sodalit (màu xanh), và pyrit (màu vàng kim loại). Một số mẫu lapis lazuli có chứa augit; diopside; enstatit; mica; hauynit; hornblend, noseanloellingit geyerit giàu lưu huỳnh.

Lapis lazuli thường xuất hiện trong đá cẩm thạch tinh thể như là kết quả của sự biến dạng tiếp xúc.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Lapis lazuli được tìm thấy trong đá vôi ở thung lũng sông Kokcha thuộc tỉnh Badakhshan ở đông bắc Afghanistan, nơi mỏ Sar-e-Sang đã được khai thác hơn 6.000 năm.[12] Afghanistan là nguồn cung cấp lapis cho nền văn minh Ai Cập cổ đạiLưỡng Hà, cũng như những người Hy Lạp và người La Mã sau này. Người Ai Cập cổ đại thu được Lapis thông qua sự buôn bán của người Afghanistan với người Arya. Trong suốt nền văn minh lưu vực sông Ấn vào năm 2000 TCN, thuộc địa Harappan bây giờ gọi là Shortugai được thành lập gần mỏ lapis.[4]

Ngoài các mỏ ở Afghanistan, lapis cũng được khai thác ở Andes (gần Ovalle, Chile); và về phía tây của Hồ BaikalSiberia, Nga, tại mỏ Tultui Lazurite. Nó được khai thác với số lượng nhỏ hơn ở Angola; Argentina; Miến Điện; Pakistan; Canada; Ý, Ấn Độ; và ở Hoa KỳCaliforniaColorado.[6]

Ứng dụng và chất thay thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lapis được đánh bóng có thể được làm thành đồ trang sức, chạm khắc, hộp, khảm, đồ trang trí, tượng nhỏ và bình. Trong suốt thời Phục hưng, Lapis đã được nghiền và xử lý để tạo ra chất nhuộm màu sử dụng trong tranh sơn dầubích họa.[13] Việc sử dụng nó như là một thuốc màu trong sơn dầu đã kết thúc phần lớn vào đầu thế kỷ 19 khi một tổng hợp hóa học đã trở nên có sẵn.

Lapis lazuli được tổng hợp thương mại hoặc mô phỏng theo quá trình Gilson, được sử dụng để tạo ra mà lam sẫm nhân tạo và thủy phân kẽm photphat.[14] Nó cũng có thể được thay thế bằng spinel hoặc sodalit, hoặc jasper hoặc howlit.[15]

Lịch sử và nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế giới cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thể người phụ nữ Naqada I (Ai Cập), khoảng 3700 năm trước Công nguyên. Hài cốt với lớp phủ Lapis ở Badakhshan.

Lapis lazuli đã được khai thác ở Afghanistan và xuất khẩu sang Địa Trung HảiNam Á từ thời đồ đá mới.[16] Hạt Lapis lazuli đã được tìm thấy tại Mehrgarh, một địa điểm đá mới gần QuettaPakistan,[17] trên tuyến thương mại cổ giữa Afghanistan và văn minh sông Ấn, có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 7 TCN. Các hạt này cũng đã được tìm thấy tại các khu định cư thiên niên kỷ 4 ở Bắc Mesopotamia, và ở thời kỳ Đồ đồngShahr-e Sukhteh ở Đông Nam Iran (thiên niên kỷ 3 TCN). Một con dao với tay cầm lapis, một cái bát được khảm bằng lapis, và các con hươu, hạt cườm, và các vết khảm cho lông mày và bộ râu, đã được tìm thấy trong các Lăng mộ Hoàng gia của thành phố Ur từ thiên niên kỷ 3 TCN.[16]

Lapis cũng được sử dụng ở Mesopotamia cổ đại bởi Đế quốc Akkad, Assyria, và Babylon để làm ấn dấu và đồ trang sức. Trong tác phẩm thi ca Mesopotamia, sử thi Gilgamesh(thế kỷ 17-18 TCN), một trong những tác phẩm cổ nhất được biết đến, lapis lazuli được nhắc tới nhiều lần. Tượng Ebih-Il, một bức tượng từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN được tìm thấy trong thành phố cổ Mari, Syria ngày nay, ở Louvre, sử dụng lapis lazuli cho tròng mắt.[18]

Ở Ai Cập cổ đại, lapis lazuli là một loại đá quý ưa thích sử dụng cho các báu vật và đồ trang trí như Scarabs. Trang sức Lapis đã được tìm thấy tại các cuộc khai quật của ở Nauya Ai Cập tiền sử (3300-3100 TCN). Ở Karnak, dưới thời Thutmosis III (1479-1429 TCN), các mảnh vỡ và lapis lazuli có hình thùng rượu được gửi đến ông ta như là cống phẩm. Bột lapis đã được Cleopatra sử dụng làm màu mắt.[18]

Đồ trang sức bằng lapis lazuli cũng được tìm thấy tại Mycenae chứng thực cho mối quan hệ giữa Myceneans với nền văn minh phát triển của Ai Cậpphương Đông.[19]

Vào cuối thời cổ đại và đến cuối thời Trung cổ, lapis lazuli thường được gọi là sapphire (sapphirus trong tiếng latinh, sappir trong tiếng Hebrew)[20], mặc dù nó đã có rất ít để làm với đá ngày nay được biết đến như là corundum sapphire màu xanh. Trong cuốn sách của ông về đá, nhà khoa học người Hy Lạp Theophrastus mô tả "sapphirus, lốm đốm vàng," một mô tả phù hợp với lapis lazuli.[21]

Có rất nhiều tài liệu liên quan đến đến sapphire trong Cựu Ước, nhưng hầu hết các học giả đều đồng ý rằng, kể từ khi sapphire chưa được biết đến trước Đế quốc La Mã, chúng rất có thể liên quan đến lapis lazuli. Ví dụ, Exodus 24:10: "Khi họ thấy Đức Chúa Trời của Israel, và dưới chân Ngài là một công trình lát đá sapphire.." Thuật ngữ được sử dụng trong Kinh Thánh theo tiếng Latinh trong trích dẫn này là "lapidus sapphiri", thuật ngữ cho lapis lazuli.[22] Các bản dịch hiện đại của Kinh thánh, như bản dịch Cuộc sống mới lần thứ hai,[23] nói đến lapis lazuli trong hầu hết các trường hợp thay vì sapphire.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David Bomford and Ashok Roy, A Closer Look- Colour (2009), National Gallery Company, London, (ISBN 978-1-85709-442-8)
  2. ^ Lafont, Bertrand; Tenu, Aline; Clancier, Philippe; Joannès, Francis (2017). “1”. De Gilgamesh à Artaban (3300-120 av. J.-C.) (bằng tiếng Pháp). Paris: Belin. tr. 1040. ISBN 978-2-7011-6490-8. MES. 
  3. ^ Moorey, Peter Roger (1999). Ancient Mesopotamian Materials and Industries: the Archaeological Evidence. Eisenbrauns. tr. 86–87. ISBN 978-1-57506-042-2. 
  4. ^ a ă Bowersox & Chamberlin 1995
  5. ^ Alessandro Bongioanni & Maria Croce
  6. ^ a ă "All about colored gemstones," the International Colored Gemstones Association
  7. ^ Oxford English Dictionary
  8. ^ Senning, Alexander (2007). "lapis lazuli (lazurite)". Elsevier's Dictionary of Chemoetymology. Amsterdam: Elsevier. p. 224. ISBN 978-0-444-52239-9.
  9. ^ Weekley, Ernest (1967). "azure". An Etymological Dictionary of Modern English. New York: Dover Publications. p. 97.
  10. ^ Mindat entry relating to lapis lazuli
  11. ^ Mindat – Lazurite
  12. ^ Oldershaw 2003
  13. ^ Roderick Conway Morris (ngày 18 tháng 8 năm 2015). “Lapis Lazuli and the History of ‘the Most Perfect’ Color”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2018. 
  14. ^ Read, Peter (2005). Gemmology, Elsevier, p. 185. ISBN 0-7506-6449-5
  15. ^ Lapis lazuli, Gemstone Buzz.
  16. ^ a ă Moorey, Peter Roger (1999). Ancient mesopotamian materials and industries: the archaeological evidence. Eisenbrauns. tr. 86–87. ISBN 978-1-57506-042-2. 
  17. ^ Monthly, Jewellery (ngày 2 tháng 4 năm 2015). “A complete guide to Gemstones”. Jewellery & Watch Magazine | Jewellery news, jewellery fashion and trends, jewellery designer reviews, jewellery education, opinions | Wrist watch reviews - Jewellery Monthly (bằng tiếng en-GB). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017. 
  18. ^ a ă Claire, Iselin. “Ebih-Il, the Superintendent of Mari”. Musée du Louvre. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  19. ^ Alcestis Papademetriou, Mycenae, John S. Latsis Public Benefit Foundation, 2015, p. 32.
  20. ^ Schumann, Walter (2006) [2002]. “Sapphire”. Gemstones of the World. trans. Annette Englander & Daniel Shea (ấn bản 3). New York: Sterling. tr. 102. In antiquity and as late as the Middle Ages, the name sapphire was understood to mean what is today described as lapis lazuli. 
  21. ^ Theophrastus, On Stones (De Lapidibus) - IV-23, translated by D.E. Eichholtz, Oxford University Press, 1965.
  22. ^ Pearlie Braswell-Tripp (2013), Real Diamonds and Precious Stones of the Bible (ISBN 978-1-4797-9644-1)
  23. ^ "In His Image Devotional Bible" (IBN 978-1-4143-3763-0)

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bowersox, Gary W.; Chamberlin, Bonita E. (1995). “Gemstones of Afghanistan”. Tucson, AZ: Geoscience Press. .
  • Oldershaw, Cally (2003). “Firefly Guide to Gems”. Toronto: Firefly Books. .
  • Bariand, Pierre, "Lapis Lazuli", Mineral Digest, Vol 4 Winter 1972.
  • Lapparent A.F., Bariand, P. et Blaise, J., "Une visite au gisement de lapis lazuli de Sar-e-Sang du Hindu Kouch, Afghanistan," C.R. Somm.S.G.P.p. 30, 1964.
  • Wise, Richard W., Secrets Of The Gem Trade, The Connoisseur's Guide To Precious Gemstones, 2016 ISBN 9780972822329
  • Wyart J. Bariand P, Filippi J., "Le Lapis Lazuli de Sar-e-SAng", Revue de Geographie Physique et de Geologie Dynamique (2) Vol. XIV Pasc. 4 pp. 443–448, Paris, 1972.
  • Herrmann, Georgina, "Lapis Lazuli: The Early Phases of Its Trade", Oxford University Dissertation, 1966.
  • Bakhtiar, Lailee McNair, Afghanistan's Blue Treasure Lapis Lazuli, Front Porch Publishing, 2011 ISBN 978-0615573700
  • Korzhinskij, D.S., "Gisements bimetasomatiques de philogophite et de lazurite de l'Archen du pribajkale", Traduction par Mr. Jean Sagarzky-B.R.G.M., 1944.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]