Châu Hoa Kiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chu Hoa Kiện)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Châu Hoa Kiện
Wakin Chau
WakinChau2007.jpg
Phồn thể 周華健
Giản thể 周华健
Bính âm Zhōu Huá Jiàn
Việt bính Chow Wah Kin
Nguyên quán Hồng Kông
Sinh 22 tháng 12, 1960 (55 tuổi)
Tên khác Ca Vương Quốc Dân, Thiên Vương Sát Thủ
Nghề nghiệp Ca sĩ, Nhạc sĩ, Diễn viên
Thể loại nhạc Cantopop, Mandopop
Nhạc cụ Guitar, Hát, Piano
Quản lí Rock Record Taipei
Năm hoạt động 1985 đến nay
Phối ngẫu Constance Woods
Quan hệ với Lý Tông Thịnh
Con cái Andrew Châu Hậu An, Anya Châu Ân Trọng
Tổ tiên Quảng Đông
Trang web
chính thức
Wakin Chau
Thành viên trước đây
SuperBand

Châu Hoa Kiện hay Chu Hoa Kiện (phồn thể: 周華健 hay giản thể: 周华健, tiếng Anh: Wakin Chau), sinh ngày 22 tháng 12 năm 1960, là một ca sĩ nổi tiếng trong làng nhạc Hoa ngữ Đài Loan. Anh cùng Vưu Khải Hiền, Vương KiệtTrương Học Hữu được đánh giá là một trong số ít những nam ca sĩ có âm vực tốt và giọng ca đặc biệt nhất của thế giới nhạc Hoa ngữ. Anh hoạt động ca nhạc từ năm 1985 đến nay và được mệnh danh là Thiên Vương Sát Thủ hay "Ca Vương Quốc Dân". Anh cũng được biết đến với vai trò là huấn luyện viên của chương trình Sing My Song (Ca Khúc Hay Trung Quốc) mùa 1, mùa 2.

Bạn trẻ Việt Nam yêu nhạc Hoa biết đến anh qua những nhạc phẩm của anh được ca sĩ Việt Nam trình bày lại như: Tiếng sáo phiêu bồng (Lam Trường thể hiện), Kiếp rong buồn (Đan Trường), Anh không muốn ra đi (Nguyễn Phi Hùng), Bến mộng (Kenny Thái), Cánh chim cuối trời (Lam Trường, Cẩm Ly...).

Tiểu sử, thân thế, sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Hoa Kiện là một ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng của Đài Loan - tuy nhiên anh lại có quê gốc ở tỉnh Sán Đầu (Quảng Đông) và được sinh ra tại Tây Doanh Bàn (Hồng Kông) [1]. Gia đình anh buôn bán gạo và có 5 người con, Châu Hoa Kiện là người thứ tư, dưới ba anh trai (Hoành Kiện, Vĩ Kiện, Hào Kiện), sau anh còn có một em gái. Vì là con thứ tư nên anh còn có biệt danh hồi nhỏ là "Tứ Ngưu". Năm 1966, Châu Hoa Kiện nhập học tại Trường Tiểu học Lỗ Ban tại Hồng Kông[2], anh nổi tiếng là một học sinh nghịch ngợm hiếu động. Năm 1973, Châu Hoa Kiện tiếp tục học trung học ở New Method College. Năm 1974, trong dịp sinh nhật lần thứ 14 tuổi của mình, Châu Hoa Kiện được anh trai mình là Châu Hào Kiện tặng cho một cây guitar. Anh tỏ ra rất thích thú và thường luyện tập guitar mọi lúc mọi nơi nhưng cũng việc tập luyện quá say sưa đã khiến Châu Hoa Kiện lực học sút kém, hậu quả là năm 1975, anh ở lại lớp trong năm thứ ba trung học.

Năm 1977, anh đỗ cấp 3, trong quá trình học được đào tạo cơ bản về diễn xuất [3]

Năm 1979, Châu Hoa Kiện thi trượt Đại học tiếng Trung Hồng Kông, anh quyết định tiếp tục đi học tại Đài Loan. Sau hai năm cố gắng, năm 1981, Châu Hoa Kiện thi đỗ Khoa Toán trường ĐH Đài Loan[4], nhưng sau đó lại phát hiện những con số vốn không hấp dẫn với mình.

Ở Đài Loan, trong thời gian đi hát nhạc dân gian tại các nhà hàng, quán bar [5] - Châu Hoa Kiện tình cờ gặp gỡ và lọt vào mắt xanh Lý Tông Thịnh - nhà sản xuất âm nhạc của hãng Rock Record Taipei. Nhận thấy tiềm năng của cậu thanh niên hát rong, Lý Tông Thịnh đã tiến cử cậu vào làm việc tại hãng thu âm hàng đầu Đài Loan này. Châu Hoa Kiện gia nhập công ty với vị trí khởi đầu là trợ lý chế tác, khi đó anh đã học năm thứ 4 đại học, còn nửa năm nữa mới có được bằng tốt nghiệp.Sau đó anh được nhà sản xuất âm nhạc Trần Dương chú ý, bắt đầu có cơ hội hát nhạc quảng cáo. Thời gian sau, Châu Hoa Kiện đã hát hơn 40 khúc nhạc quảng cáo. Rút cục, Lý Tông Thịnh cũng đã thuyết phục được công ty dành cho Châu Hoa Kiện một cơ hội phát hành album. Năm 1987, album "Phương Hướng Của Trái Tim" xuất bản, đây là album đầu tiên đánh dấu địa vị của anh trong giới âm nhạc Đài Loan [1]. 1988, anh phát hành album "Tôi Hi Sinh Chân Tình, Tôi Thực Hiện Giấc Mộng", đạt được doanh thu lớn, khẳng định vị thế ca sĩ thực lực của bản thân. Năm 1989, Châu Hoa Kiện sáng tác "Thành phố Này Có Tình Yêu" được tập hợp trong album "Thế giới Mới Xinh Đẹp II - Chiến tranh Và Hòa Bình", được lựa chọn là bài hát chủ đề của Thế Vận Hội Đài Loan 1989. Năm 1991, ca khúc này giành giải Ca Khúc xuất sắc nhất của giải Kim Khúc Đài Loan lần thứ 2 [6]

Năm 1992, anh thành lập văn phòng riêng của mình, lấy tên là "Phòng Làm Việc Của Người Đưa Đò"

Năm 1993, Châu Hoa Kiện đạt giải thưởng Kim Khúc ở hạng mục Nam Ca Sĩ Quốc Ngữ xuất sắc nhất vào lễ trao giải lần thứ 4 của giải thưởng này [6]. Năm 1994, Châu Hoa Kiện đạt giải Ca Sĩ được yêu thích nhất ở giải thưởng Thập Đại Kình Ca Kim Khúc Hồng Kông[7]. Năm 1995, ca khúc "Thần Thoại Tình Thoại" do Châu Hoa Kiện sáng tác đạt giải Đồng của Thập Đại Kình Ca Kim Khúc Hồng Kông hạng mục Ca Khúc được yêu thích nhất [7]

Năm 2014, anh bắt đầu đảm nhận vai trò Huấn luyện viên của chương trình Sing My Song (Ca Khúc Hay Trung Quốc) mùa 1.[8]

Năm 2015, Châu Hoa Kiện trở thành 1 trong ba giám khảo của chương trình "Thử Thách Điều Không Thể" của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc.[9]

Các đĩa hát đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Phổ Thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • 最後圓舞曲 (1985) Điệu Waltz cuối
  • 心的方向 (1987) Phương hướng của trái tim
  • 我是真的付出我的愛 (1988) Anh thật sự phải trả giá cho tình yêu
  • 期待更多,付出更多 (1989) Kì vọng càng nhiều, giá phải trả càng cao
  • 最真的夢 (1989) Giấc mơ chân thật
  • 不願一個人 (1990) Không muốn một mình
  • 讓我歡喜讓我憂 (1991) Người khiến anh yêu
  • 花心 (1993) Hoa tâm (đa tình)
  • 今夜陽光燦爛 (1994) Đêm nay bầu trời thật đẹp
  • 風雨無阻 (1994) Gió mưa không cản
  • 我願意去等 (1995) Anh nguyện chờ đợi
  • 愛相隨 (1995) Ái tương tùy
  • 愛的光 (1996) Ánh sáng của tình yêu
  • 小天堂 (1996) Thiên đường nhỏ
  • 朋友 (1997) Bằng hữu
  • 有故事的人 (1998) Hồi ức của một người
  • 現在 (1999) Hiện tại
  • 忘憂草 (2001) Cỏ vong ưu
  • 最完整周華健 (2003) Châu Hoa Kiện Hoàn Chỉnh Nhất
  • 一起吃苦的幸福 (2003) Hạnh Phúc Cùng Nhau Chịu Khổ
  • 雨人 (2006) Vũ Nhân

Tiếng Quảng Đông[sửa | sửa mã nguồn]

  • 有弦相聚 (1994)
  • 弦途有你 (1995)
  • 弦弦全全 (1995)
  • 生.生活 (1996)
  • 世界由你我開始(1997) Thế giới vì em mà bắt đầu
  • 听健 (1998) Nghe Châu Hoa Kiện

Tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sad Without You (Sep 1988)
  • Blue Bird (Feb 1991)
  • I Remember (tháng 5 năm 1992)
  • Songs of Birds (Aug 1993)
  • Forever Young - Best Collection (1996)
  • My Oh My (Feb 2001)
  • My Favorite Songs (tháng 5 năm 2002)

Những phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]