Ẩm thực châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
 Ý

Ẩm thực châu Âu, hoặc Ẩm thực phương Tây là một thuật ngữ tổng quát đề cập đến ẩm thực của châu Âu[1]các quốc phương Tây,[2] bao gồm cả (tùy thuộc vào định nghĩa) Nga, cũng như ẩm thực không bản địa của Úcchâu Mỹ, Nam Phi và châu Đại Dương, mà có ảnh hưởng đáng kể từ những người định cư châu Âu ở các khu vực này. Thuật ngữ được sử dụng bởi người Đông Á để diễn tả sự trái ngược với phong cách nấu ăn châu Á.[3] (điều này giống như người phương Tây đề cập chung các món ăn của các nước Đông Á là ẩm thực châu Á)

Thịt nướng
Khoai tây chiên

Các món ăn phương Tây đa dạng, mặc dù có những đặc điểm chung để phân biệt với món ăn của các quốc gia châu Á[4] và những loại khác. So với nấu ăn truyền thống của các nước châu Á, ví dụ, thịt được phục vụ nổi bật và quan trọng hơn.[5]Bít tết và côtlet là các món ăn đặc biệt phổ biến ở phương Tây. Ẩm thực phương Tây cũng chú trọng rượu nho và các nước sốt như là gia vị, và các món ăn kèm (Vì các món Tây thường sử dụng miếng thịt to nên gia vị khó ngấm). Nhiều sản phẩm từ sữa được sử dụng trong quá trình nấu ăn, ngoại trừ trong ẩm thực nouvelle.[6] Pho mát được sản xuất hàng trăm loại khác nhau, và các sản phẩm sữa lên men cũng có nhiều lựa chọn. Bánh mì từ lúa mì là nguồn tinh bột phổ biến nhất trong ẩm thực này từ lâu đời, cùng với pasta, bánh bao và bánh nướng, mặc dù khoai tây đã trở thành một nguồn trong bữa ăn của người châu Âu và sự lan truyền của nó kể từ thực dân châu Âu đô hộ châu Mỹ . Ngô ít phổ biến hơn nhiều trong hầu hết bữa ăn ở châu Âu so với ở châu Mỹ, tuy nhiên món ăn từ ngô (polenta hoặc mămăligă), là một phần quan trọng của các món ăn của nước ÝBalkans. Mặc dù bánh dẹt (đặc biệt là với nhân phía trên mặt như pizza hoặc tarta flambée), và cơm được ăn ở châu Âu, chúng không phải món ăn thiết yếu. Salad trộn là một phần bổ sung của ẩm thực châu Âu.

Bữa tối châu Âu trang trọng được chia thành nhiều phần. Cách trình bày của châu Âu bao gồm mang tất cả các món ra cùng lúc hoặc mang lần lượt từng món. Thông thường các món lạnh, nóng và mặn, ngọt được phục vụ riêng biệt nghiêm ngặt theo thứ tự: khai vị hoặc súp, món chính và tráng miệng. Món ăn vừa ngọt vừa mặt phổ biến trong ẩm thực La Mã cổ đại, nhưng ngày nay không phổ biến, với các món ngọt chỉ được phục vụ là món tráng miệng. Một dịch vụ mà các hành khách có thể tự do lấy thức ăn mình muốn được gọi là buffet, và thường là trong những bữa tiệc hoặc kỳ nghỉ.

Trong lịch sử, ẩm thực châu Âu đã được phát triển trong hoàng tộc và cung điện. Quý tộc châu Âu thường có các cử chỉ khác với ở vùng quê. Dao là dụng cụ cơ bản để ăn bist tết và các món khác. Ngược lại ở phương Đông, đồ ăn được cắt sẵn từ bếp và ăn bằng đũa. Dao được thay thế bằng thìa cho súp, trong khi dĩa đã được giới thiệu muộn hơn trong thời kỳ cận đại, thế kỷ 16. Ngày nay, ăn bốc bằng tay là không chấp nhận được.

Ẩm thực Trung Âu[sửa | sửa mã nguồn]

[7][8]

Tất cả những quốc gia này đều có đặc sản của họ. Áo nổi tiếng với Wiener Schnitzel - côtlet bê tẩm bột phục vụ với nước sốt thịt, Cộng Hòa Séc có các loại bia nổi tiếng thế giới. Đức nổi tiếng thế giới với xúc xích, Hungary nổi tiếng với súp hầm goulash. - Slivakia nổi tiếng với mì Halusky giống gnocchi. Slovenia nổi tiếng có ẩm thực ảnh hưởng giữa Ý và Đức, Ba Lan nổi tiếng với Pierogis, là sự pha trộn giữa Raviioli và Empanada. Liechtenstein và người Thụy sĩ nói tiếng Đức nổi tiếng với Rosti và người Thụy sĩ nói tiếng Pháp nổi tiếng với Raclettes.

Wiener Schnitzel của Áo 
žganci của Slovenia 
'Fondue của Thụy Sĩ 
Vepřo-knedlo-zelo của Séc 
Sauerbraten với bánh khoai của Đức 
Bánh Black Forest của Đức 
gulyás của Hungary 
Pierogi của Ba Lan 
Skalický trdelník của Slovakia 
Bryndzové halušky của Slovakia 
Prekmurska gibanica của Slovakian 

Ẩm thực Đông Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Khorovats (shashlik) Armenia 
Pilaf Azerbaijan 
Khoai babka Belarus 
Chiburekki Tatar Crimea 
Chanakhi của Gruzia 
Pirozhki của Nga 
Tatar azu (bê hầm) 
Borscht Ukraina 
 
 

Ẩm thực Bắc Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Stegt flæsk med persillesovs của Đan Mạch 
Sa mạc Kama của Estonia 
Fårikål của Na Uy 
Súp kem cá hồi của Phần Lan 
Haggis, neeps, và tatties ở Scotland 
Cepelinai của Litva 

Ẩm thực Nam Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Banitza của Bulgaria 
ćevapi Bosnia 
Bạch tuộc hầm Malta 
Đuveč Serbia 
amêijoas à bulhão pato Bồ Đào Nha 
Polenta với thỏ của Ý 
Sữa chua (Kiselo mlyako) Bulgaria 
sărmăluţe cu mămăligă của Romania và Moldova 
Cozido Bồ Đào Nha 
Paella Valencia 
Tapas Tây Ban Nha 
Pizza Neapolita 
Baklava Thổ Nhĩ Kỳ 

Ẩm thực Tây Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Magret Pháp 
Fondue savoyarde Pháp 
Quiche lorraine Pháp 
Quetschentaart Luxembourg 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Culinary Cultures of Europe: Identity, Diversity and Dialogue. Council of Europe. 
  2. ^ "European Cuisine."
  3. ^ Leung Man-tao (ngày 12 tháng 2 năm 2007), "Eating and Cultural Stereotypes", Eat and Travel Weekly, no. 312, p. 76.
  4. ^ Kwan Shuk-yan (1988). Selected Occidental Cookeries and Delicacies, p. 23. Hong Kong: Food Paradise Pub. Co.
  5. ^ Lin Ch'ing (1977). First Steps to European Cooking, p. 5. Hong Kong: Wan Li Pub. Co.
  6. ^ Kwan Shuk-yan, pg 26
  7. ^ “VisitEurope”. Truy cập 5 tháng 3 năm 2017. 
  8. ^ “www.openspacesopenminds.nl - rr”. www.openspacesopenminds.nl. Truy cập 28 tháng 2 năm 2017. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]