Danh sách di sản thế giới tại Ba Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thành phố lịch sử thời Trung cổ Toruń được coi là một trong những thành phố đẹp và bảo tồn tốt nhất châu Âu.[1] Đây là Di sản thế giới của UNESCO năm 1997.

Di sản thế giới của UNESCO là một địa điểm được liệt kê như là một nơi nổi bật và quan trọng về văn hóa hoặc thiên nhiên đối với nhân loại.[2] Tính đến hết năm 2017, Ba Lan có tổng cộng 15 di sản thế giới được công nhận, trong đó có 14 di sản văn hóa và 1 di sản thiên nhiên. Hai địa điểm đầu tiên được ghi trong Danh sách Di sản thế giới vào năm 1978 là Trung tâm lịch sử KrakówMỏ muối Hoàng gia Wieliczka. Trong khi địa điểm mới nhất được thêm vào là Mỏ bạc lịch sử tại Tarnowskie Góry.

Ba trong số các di sản thế giới là di sản xuyên quốc gia, đó là Rừng Białowieża (chung với Belarus), Nhà thờ gỗ Tserkvas trên dãy Karpat ở Ba Lan và Ukraina (chung với Ukraina), và Công viên Muskau/Mużakowski (chung với Đức). Rừng Białowieża cũng là di sản tự nhiên duy nhất cho đến thời điểm hiện tại ở Ba Lan.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các di sản thế giới tại Ba Lan.

Tên Hình ảnh Vị trí Thời kỳ Số liệu UNESCO Mô tả
Trung tâm lịch sử Kraków Krakow rynek 01.jpg Kraków
50°04′01″B 19°57′36″Đ / 50,067°B 19,96°Đ / 50.067; 19.96 (Trung tâm lịch sử Kraków)
Thế kỷ 11-19 29; 1978;
Văn hóa: iv
Thị trấn cổ Kraków là khu vực lịch sử của thành phố Kraków, Ba Lan.[3] Đây là một trong những quận cổ xưa nổi tiếng nhất ở Ba Lan và là trung tâm đời sống chính trị Ba Lan từ năm 1038 cho đến khi vua Zygmun III Vasa rời tới Warszawa năm 1596. Toàn bộ thị trấn cổ trung cổ là một trong những địa điểm đầu tiên được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO, như là Trung tâm lịch sử Kraków.[4][5]
Các mỏ muối Hoàng gia WieliczkaBochnia Wieliczka-saltmine-kinga.jpg Wieliczka
49°58′45″B 20°03′50″Đ / 49,979167°B 20,063889°Đ / 49.979167; 20.063889 (Wieliczka Salt Mine)
Thế kỷ 13-20 32; 1978; 2013 (mở rộng)
Văn hóa: iv
Mỏ muối Wieliczka nằm ở thị trấn Wieliczka, trong khu vực đô thị Kraków, còn mỏ muối Bochnia nằm tại Bochnia thuộc Małopolskie, miền nam Ba Lan. Các mỏ sản xuất muối ăn liên tục từ thế kỷ 13 Cho đến năm 2007, đây là một trong những nơi hoạt động lâu đời nhất trên thế giới về khai thác muối, thuộc sở hữu của công ty Żupy krakowskie, được cho là công ty lâu đời thứ 14 trên thế giới.
Auschwitz Birkenau, Trại tập trung và trại hủy diệt của Đức Quốc xã (1940–1945)[6] Auschwitz-birkenau-main track.jpg Oświęcim
50°02′09″B 19°10′42″Đ / 50,035833°B 19,178333°Đ / 50.035833; 19.178333 (Auschwitz Birkenau, Trại tập trung và trại hủy diệt của Đức Quốc xã (1940–1945))
1940-1945 31; 1979;
Văn hóa: vi
Auschwitz là hệ thống trại tập trungtrại hủy diệt của Đức Quốc xã tại Các khu vực Ba Lan bị Đức Quốc xã sát nhập trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là trại tập trung lớn nhất của Đức, bao gồm Auschwitz I (Stammlager hay căn cứ); Auschwitz II–Birkenau (Vernichtungslager hay trại tập trung); Auschwitz III–Monowitz, còn được biết đến là Buna–Monowitz (trại lao động); và 45 trại vệ tinh.[7]
Rừng Białowieza Białowieski Park Narodowy03 23a.jpg Belarus và Ba Lan
52°40′00″B 23°50′00″Đ / 52,666667°B 23,833333°Đ / 52.666667; 23.833333 (Belovezhskaya Pushcha / Rừng Białowieża)
N/A 33; 1979;
Thiên nhiên: vii
Rừng Białowieża là một khu rừng cổ thụ nằm ranh giới giữa hai quốc gia, cách 70 km (43 dặm) về phía bắc thành phố Brest (Belarus) và 62 km (39 dặm) về phía đông nam của Białystok (Ba Lan). Đây là một trong những phần còn lại và lớn nhất còn lại của rừng nguyên sinh rộng lớn đã từng trải dài khắp khu vực đồng bằng châu Âu. Văn bản Luật ghi chép đầu tiên về bảo vệ rừng bắt đầu từ năm 1538, khi vua Zygmunn I đã ban hành văn bản, quy định hình phạt tử hình nếu giết hại một con bò rừng khổng lồ.
Trung tâm lịch sử Warszawa Warsaw Old Town Market Square 10.JPG Warsaw
52°14′59″B 21°00′44″Đ / 52,2498°B 21,0122°Đ / 52.2498; 21.0122 (Trung tâm lịch sử Warszawa)
Thế kỷ 13–20 30; 1980;
Văn hóa: ii, vi
Warszawa được thành lập vào thế kỷ 13. Ban đầu được bao quanh bởi một bức tường chắn bằng đất đá, sau đó được củng cố bằng những bức tường bằng gạch vào năm 1339. Thị trấn đã lớn lên xung quanh lâu đài của Công tước Mazovia mà sau này trở thành Lâu đài Hoàng gia. Quảng trường chợ (Rynek Starego Miasta) hình thành vào cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 dọc theo con đường liên kết lâu đài với New Town ở phía Bắc.
Thành phố cổ Zamość A299 Kamienica Wilczkowska ul. Ormiańska 30 (Rynek Wielki) Zamość.jpg Zamość
50°43′14″B 23°15′31″Đ / 50,720556°B 23,258611°Đ / 50.720556; 23.258611 (Old City of Zamość)
1582–Thế kỷ 17 564; 1992;
iv
Jan Zamoyski ủy quyền cho kiến ​​trúc sư người Ý Bernardo Morando thiết kế thành phố. Các đặc điểm chính của khu phố cổ đã được bảo tồn tốt kể từ khi thành lập. Nó bao gồm Quảng trường Chợ lớn có diện tích 100x100 mét với những ngôi nhà cổ kính Armenia, cũng như những mảnh vỡ của pháo đài ban đầu, kể cả những bức tường từ thời kỳ chiếm đóng của Nga trong thế kỷ 19.[8]
Lâu đài của chế độ Giéc manh tại Malbork Castillo de Malbork, Polonia, 2013-05-19, DD 45.jpg Malbork
54°02′23″B 19°01′40″Đ / 54,039722°B 19,027778°Đ / 54.039722; 19.027778 (Castle of the Teutonic Order in Malbork)
Thế kỷ 13-14 847; 1997;
ii, iii, iv
Đây là lâu đài lớn nhất thế giới xét về diện tích.[9] Nó được xây dựng bởi Kỵ sĩ dòng Giéc manh tại Phổ, dựa theo hình thức của pháo đài Ordensburg. Cái tên của nó là Marienburg (Lâu đài của Mary). Thị trấn mà phát triển xung quanh nó cũng được đặt tên Marienburg. Lâu đài là một ví dụ điển hình của một pháo đài thời Trung Cổ. Được hoàn thành vào năm 1406, đây là lâu đài mang kiến trúc Gothic bằng gạch lớn nhất thế giới.
Thị trấn Trung cổ Toruń Torun ratusz corr.jpg Toruń
53°02′00″B 18°37′00″Đ / 53,033333°B 18,616667°Đ / 53.033333; 18.616667 (Medieval Town of Toruń)
Thế kỷ 12–15 835; 1997;
ii, iv
Toruń có nhiều công trình kiến ​​trúc từ thời Trung Cổ, bao gồm 200 công trình quân sự. Thành phố này nổi tiếng vì đã bảo tồn gần như nguyên vẹn bố trí không gian thời Trung Cổ và nhiều tòa nhà Gothic, tất cả đều được xây bằng gạch, bao gồm các nhà thờ lớn, tòa thị chính và nhiều nhà ở. Năm 1236, do lũ lụt thường xuyên,[10] thành phố đã được di dời đến khu vực phố cổ hiện tại. Năm 1264, khu vực New Town gần đó được thành lập. Năm 1280, thành phố đã tham gia Liên minh Hanse, và trở thành một trung tâm thương mại thời Trung cổ quan trọng.
Kalwaria Zebrzydowska: Kiến trúc phức hợp, Quần thể Công viên cảnh quan và Hành hương Kalwaria Zebrzydowska 024.jpg Kalwaria Zebrzydowska
49°51′37″B 19°40′15″Đ / 49,860319°B 19,670719°Đ / 49.860319; 19.670719 (Kalwaria Zebrzydowska: the Mannerist Architectural and Park Landscape Complex and Pilgrimage Park)
1605-1632 905; 1999;
ii, iv
Thị trấn được đặt tên theo khu quần thể tôn giáo (Calvary) thành lập bởi Thống đốc Kraków là Mikołaj Zebrzydowski vào ngày 1 tháng 12, năm 1602, sau đó được gọi là Công viên Kalwaria Zebrzydowska. Thành phố Zebrzydów được thành lập năm 1617 nhằm mục đích gia tăng số lượng khách hành hương đến thăm khu phức hợp tôn giáo này.
Các nhà thờ Hòa bình tại Jawor và Swidnica ChurchOfPeace Jawor Wiki.png Jawor, Świdnica
51°03′14″B 16°11′46″Đ / 51,054°B 16,196°Đ / 51.054; 16.196 (Churches of Peace in Jawor and Swidnica)
1654-1657 1054; 2001;
iii, iv, vi
Các nhà thờ Hòa bình tại JaworŚwidnicaSilesia được đặt theo tên của Hòa ước Westfalen năm 1648 cho phép những người của Giáo hội Luther của Silesia xây dựng ba nhà thờ Phúc Âm bằng gỗ, bên ngoài tường thành trên phần đất của Công giáo La Mã. Thời gian xây dựng giới hạn trong 1 năm.
Các nhà thờ gỗ ở Nam Tiểu Ba Lan Church of St. Michael in Dębno 2009 (4).jpg Małopolskie
49°51′34″B 20°16′29″Đ / 49,859444°B 20,274722°Đ / 49.859444; 20.274722 (Các nhà thờ gỗ ở Nam Tiểu Ba Lan)
Thế kỷ 15-18 1053; 2003;
iii, iv
Phong cách nhà thờ bằng gỗ của vùng bắt nguồn từ cuối thời kỳ Trung cổ (cuối thế kỷ 16), bắt đầu bằng đồ trang trí Gothic và chi tiết đa màu, nhưng vì chúng là cấu trúc bằng gỗ nên cấu trúc, hình dáng và cảm giác hoàn toàn khác biệt so với kiến ​​trúc Gothic hiện đại ở Ba Lan (bằng đá hoặc gạch).
Công viên Muskauer / Mużakowski 1024 2012-1-sept-5093.jpg Đức và Ba Lan
51°33′01″B 14°43′36″Đ / 51,550278°B 14,726667°Đ / 51.550278; 14.726667 (Muskauer Park / Park Mużakowski)
1815-1844 1127; 2004;
i, iv
Công viên Muskau là khu vườn cảnh quan kiểu Anh lớn nhất tại Đức và Ba Lan. Nằm tại khu vực lịch sử Thượng Lusatia, nó bao gồm khu vực có diện tích 3,5 kilômét vuông (1,4 sq mi) tại Ba Lan và 2,1 km2 (0,81 sq mi) tại Đức. Đây là ví dụ điển hình về việc hợp tác văn hóa xuyên biên giới giữa Đức và Ba Lan.
Cung Thế kỷ Wroclaw - Hala Stulecia z fontanna.jpg Wrocław
51°06′26″B 17°04′37″Đ / 51,107222°B 17,076944°Đ / 51.107222; 17.076944 (Centennial Hall)
1911-1913 1165; 2006;
i, ii, iv
Cung Thế kỷ (tên gọi cũ là Đại sảnh Nhân dân) là một tòa nhà lịch sử ở Wrocław. Nó được xây dựng theo kế hoạch của kiến ​​trúc sư Max Berg vào năm 1911-1913, khi thành phố là một phần của Đế quốc Đức. Là điểm nhấn đầu tiên về kiến trúc bê tông cốt thép, công trình được UNESCO đưa vào Danh sách di sản thế giới.
Nhà thờ gỗ Tserkvas trên dãy Karpat ở Ba Lan và Ukraina Cerkiew bojkowska Smolnik.JPG (Brunary, Chotyniec, Kwiatoń, Owczary, Powroźnik, Radruż Smolnik, Turzańsk) Ba Lan và Ukraina Thế kỷ 16 - 19 1424; 2013;
iii, iv
Nằm ở rìa phía Đông của Trung Âu, tài sản xuyên quốc gia đã lựa chọn 16 nhà thờ tserkvas, một kiểu nhà thờ được làm bằng gỗ tròn nằm ngang được xây dựng trong khoảng thời gian thế kỷ 16 đến 19 bởi các cộng đồng các tín ngưỡng Công giáo Chính thống phương Đông và Hy Lạp. Chúng thể hiện sự biểu hiện văn hoá của bốn nhóm dân tộc học và các đặc điểm về họa tiết trang trí, kỹ thuật đã phát triển theo thời gian. Các nhà thờ tserkvas mang một truyền thống xây dựng khác biệt bắt nguồn từ thiết kế của Giáo hội Chính thống hòa trộn với các yếu tố của truyền thống địa phương, và các hình ảnh tượng trưng của cộng đồng các dân tộc. Chúng nổi bật với vòm mở tứ giác hoặc hình bát giác, có các tháp chuông bằng gỗ, gắn liền với nhà ở và nghĩa trang.
Mỏ chì-bạc-kẽm tại Tarnowskie Góry và Hệ thống quản lý nước ngầm Dawna kopalnia srebra w Tarnowskich Górach.JPG Tarnowskie Góry
50°15′48″B 18°30′52″Đ / 50,263371°B 18,51442°Đ / 50.263371; 18.51442 (Historic Silver Mine)
Thế kỷ 16 1539; 2017;
i, ii, iv
Tọa lạc tại Thượng Silesian, một khu vực miền nam Ba Lan nổi tiếng về khai mỏ lớn ở Trung Âu, địa điểm di sản bao gồm toàn bộ mỏ ngầm, giếng khai thác, phòng trưng bày và hệ thống quản lý nước. Hầu hết địa điểm này nằm ngầm, trong khi khu vực khai thác lộ thiên đặc trưng bởi những gì còn lại của trạm bơm hơi nước thế kỷ 19, chứng tỏ nỗ lực liên tục trong ba thế kỷ để thoát khỏi việc khai thác ngầm, từ đó nước có thể cung cấp cho thị trấn và công nghiệp khác gần đó.Tarnowskie Góry đại diện cho đóng góp vào quá trình khai thác, sản xuất chì và kẽm toàn cầu.[11]

Danh sách dự kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các di sản đã được công nhận, các quốc gia thành viên còn có thể đề cử các di sản dự kiến để xem xét công nhận trong tương lai. Một di sản thế giới chỉ được công nhận nếu trước đó nó đã nằm trong danh sách dự kiến. Tính đến hết năm 2016, Ba Lan hiện có 5 di sản dự kiến:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Medieval Town of Toruń”. Poland Travel EN. Truy cập 15 tháng 3 năm 2018. 
  2. ^ “World Heritage”. 
  3. ^ Ingrid Gustafson, Let's Go: Eastern Europe Published by Macmillan, page 444. Let's Go Publications, 2008.
  4. ^ Properties inscribed on the World Heritage list, Poland. UNESCO World Heritage Centre. Last updated: ngày 3 tháng 9 năm 2010
  5. ^ 2nd session of the Committee UNESCO World Heritage Committee. Washington, D.C. 5–ngày 8 tháng 9 năm 1978.
  6. ^ UNESCO World Heritage Committee. (2007-06-28). World Heritage Committee approves Auschwitz name change". Thông cáo báo chí. Ủy ban Di sản thế giới đã thông qua yêu cầu của Ba Lan về việc thay đổi tên của Auschwitz trong Danh sách Di sản thế giới của UNESCO. Sau khi tham vấn quốc tế, thì tên "Trại tập trung Auschwitz" được đưa ra năm 1979, thay đổi thành "Auschwitz Birkenau" và thêm tiêu đề "Trại tập trung và trại hủy diệt của Đức Quốc xã (1940–1945)".
  7. ^ (tiếng Anh) Shmuel Krakowski (1994). The Satellite Camps. Gutman and Berenbaum. tr. 50. 
  8. ^ A. Kędziora: Encyklopedia miasta Zamościa. Chełm: Towarzystwo Opieki nad Zabytkami, 2000
  9. ^ Malbork Castle (with an area of 143,591 square meters), the largest castle in the world by KML Area Calculator. Touropia, the Travel List Website: "10 Largest Castles in the World." Accessed ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  10. ^ Max Töppen Historisch-comparative Geographie von Preussen: Nach den Quellen, namentlich auch archivalischen, J. Perthes, 1858; PDF
  11. ^ Centre, UNESCO World Heritage. “Tarnowskie Góry Lead-Silver-Zinc Mine and its Underground Water Management System”. whc.unesco.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]