Trại tập trung Auschwitz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Auschwitz
Trại tập trungtrại hủy diệt của Đức Quốc xã (1940–45)
Birkenau gate.JPG
Lối vào chính tới trại hủy diệt Auschwitz-Birkenau
Trại tập trung Auschwitz trên bản đồ Ba Lan
Trại tập trung Auschwitz
Vị trí của Auschwitz ở Ba Lan ngày nay
Tọa độ 50°02′9″B 19°10′42″Đ / 50,03583°B 19,17833°Đ / 50.03583; 19.17833Tọa độ: 50°02′9″B 19°10′42″Đ / 50,03583°B 19,17833°Đ / 50.03583; 19.17833
Tên khác Birkenau
Vị trí Auschwitz, Đức Quốc xã
Điều hành the Nazi Schutzstaffel (SS), the Soviet NKVD (after World War II)
Chỉ huy trại
  • Rudolf Höß (ngày 4 tháng 5 năm 1940 – Nov. 1943; ngày 8 tháng 5 năm 1944 – Jan. 1945)
  • Arthur Liebehenschel (Dec. 1943 – ngày 8 tháng 5 năm 1944)
Mục đích ban đầu Army barracks
Thời gian hoạt động May 1940 – January 1945
Tù nhân mainly Jews, Poles, Romani, Soviet soldiers
Số lượng tù bị giết 1.1 million (estimated)
Được giải phóng do Soviet Union, ngày 27 tháng 1 năm 1945
Các tù nhân đáng chú ý Anne Frank, Otto Frank, Viktor Frankl, Maximilian Kolbe, Primo Levi, Witold Pilecki, Edith Stein, Simone Veil, Rudolf Vrba, Elie Wiesel
Các sách đáng chú ý If This Is a Man, Night, Man's Search for Meaning
Trang web Auschwitz-Birkenau State Museum
Tên chính thức: Auschwitz Birkenau, German Nazi Concentration and Extermination Camp (1940–1945)
Loại: Văn hóa
Tiêu chuẩn: vi
Công nhận: 1979 (3rd session)
# tham chiếu: 31
Region: Châu Âu

Trại tập trung Auschwitz hay Nhà tù Auschwitz (Konzentrationslager Auschwitz) là trại lớn nhất trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Trại này nằm ở Ba Lan và được đặt tên theo thành phố Oświęcim gần đó, cách Kraków 50 km về phía Tây, cách thủ đô Warszawa 286 km. Trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Ba Lan năm 1939, Oświęcim sáp nhập vào Đức và đổi tên thành Auschwitz.

Khu tổ hợp trại tập trung này bao gồm 3 trại chính: Auschwitz I- trung tâm hành chính; Auschwitz II (Birkenau)- Trại hủy diệt (Vernichtungslager) và Auschwitz III (Monowitz)- trại lao động. Ngoài ra còn có 45 trại vệ tinh, một số nằm cách các trại chính hàng chục cây số, với số lượng tù nhân từ vài tá đến vài nghìn người[1].

Auschwitz I được xây dựng đầu tiên là để giam giữ tù nhân chính trị Ba Lan, đã bắt đầu đến trại vào năm 1940. Lần hủy diệt đầu tiên các tù nhân đã diễn ra vào tháng 9 năm 1941, và trại Auschwitz-Birkenau II từ đó trở thành một địa điểm chính của "Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái" của Đức Quốc xã. Từ đầu năm 1942 đến cuối năm 1944, các đoàn tàu vận chuyển đưa người Do Thái từ khắp nơi trên các vùng châu Âu bị Đức chiếm đóng đến các phòng hơi ngạt của trại, nơi họ bị giết bằng thuốc trừ sâu Zyklon B. Ít nhất 1,1 triệu tù nhân chết tại Auschwitz, khoảng 90 phần trăm trong số họ là người Do Thái; khoảng 1 triệu trong số 6 triệu người Do Thái bị giết trong thảm sát Holocaust chết tại trại này.[2][3] Những chuyến tàu khác đưa người đến Auschwitz bao gồm 150.000 người Ba Lan, 23.000 người Romani và Sinti, 15.000 tù nhân Liên Xô trong chiến tranh, 400 người theo giáo phái nhân chứng Jehovah, người đồng tính, và hàng chục ngàn người thuộc các quốc tịch khác nhau. Nhiều người trong số những người không bị giết chết trong các phòng hơi ngạt lại bị chết vì đói, cưỡng bức lao động, bệnh truyền nhiễm, xử tử riêng lẻ, và các thí nghiệm y tế.

Trong quá trình của cuộc chiến, trại này có 7.000 nhân viên của Schutzstaffel (SS) phục vụ, khoảng 12 phần trăm trong số đó sau này đã bị kết án về tội ác chiến tranh. Một số nhân viên, bao gồm cả chỉ huy trại Rudolf Höss, bị xử tử hình. Phe Đồng Minh từ chối tin vào các báo cáo ban đầu của việc giết người tàn bạo trong trại, và việc họ từ chối ném bom vào trại hoặc đường sắt tới trại vẫn còn gây tranh cãi. Một trăm bốn mươi bốn tù nhân đã trốn khỏi trại tập trung Auschwitz thành công, và vào ngày 7 tháng 10 năm 1944, hai đơn vị Sonderkommando - các tù nhân xử lý phòng hơi ngạt - đã có một cuộc nổi dậy ngắn nhưng bất thành.

Khi quân đội Liên Xô tiến vào Auschwitz vào tháng 1 năm 1945, hầu hết người trong trại đã được sơ tán và bị ép phải đi mãi đến chết. Các tù nhân còn lại tại trại đã được giải phóng vào ngày 27 tháng 1 năm 1945, bây giờ được kỷ niệm như International Holocaust Remembrance Day. Trong những thập kỷ sau, những người sống sót như Primo Levi, Viktor FranklElie Wiesel đã viết hồi ký kể lại kinh nghiệm của mình ở Auschwitz, và trại đã trở thành một biểu tượng chính của Holocaust. Năm 1947, Ba Lan thành lập một bảo tàng tại vị trí của Auschwitz I và II. Vào năm 1979, trại đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Số lượng người đã bị giết chết tại đây chưa được biết chính xác. Tại Tòa án Nürnberg, chỉ huy trại - Rudolf Höss- đã khẳng định con số này là ba triệu người. Năm 1990, Viện bảo tàng Quốc gia Auschwitz-Birkenau đã xem xét lại số liệu này. Các tính toán mới đã cho ra kết quả trong khoảng 1,1-1,6 triệu[4][5], khoảng 90% số người bị giết là người Do Thái, ngoài ra còn có người từ các nước Bỉ, Đức, Pháp, Hy Lạp, Ý, Nam Tư, Luxemburg, Hà Lan, Áo, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Tiệp KhắcHungary.[6].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quản lý và chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Các lính canh (quản trại) là thành viên SS-Totenkopfverbände (đơn vị đầu lâu).[7] Tổng cộng có khoảng 7.000 cán bộ SS được phân công đến Auschwitz trong chiến tranh;[8] trong đó 4% là sĩ quan và 26% là hạ sĩ quan, còn lại là lính thường.[9] Tỉ lệ cán bộ SS làm công tác an ninh chiếm xấp xỉ 3/4, số còn lại làm ở bộ phận hành chính và y tế, sở chỉ huy trại, và quản lý kinh tế – nhóm này phụ trách về tài sản của những tù nhân đã chết.[9] Trong số cán bộ SS có 200 nữ, công việc của họ là làm lính canh, y tá, hay người đưa tin.[10] Cơ quan chỉ huy toàn bộ trại là Amt D (Ban D, Inspektion der Konzentrationslager – Cơ quan thanh tra các trại tập trung) trực thuộc SS-Wirtschafts-Verwaltungshauptamt (SS-WVHA; Cơ quan Kinh tế Trung ương SS).[11]

Rudolf Höss (1900–1947), sĩ quan chỉ huy đầu tiên của Auschwitz

Auschwitz được nhiều thành viên SS xem là một chốn công tác lý tưởng do có nhiều tiện nghi và nguồn lao động nô lệ dồi dào.[12][13] Trong các nhóm tù nhân khác nhau, sĩ quan SS ưa những người Nhân chứng Jehovah cho vị trí nô lệ làm việc nhà hơn vì thái độ hòa nhã của họ.[14] Höss sống cùng vợ và con trong một căn biệt thự ở phía ngoài ngay sát khuôn viên trại. Ban đầu các nhân viên SS khác cũng được phép mang theo vợ và con hoặc hôn thê (vợ chưa cưới) đến sống tại trại; nhưng khi mà trại SS ngày càng trở nên đông đúc, Höss đã hạn chết số lượng người đến thêm. Các gia đình SS được cấp cho một bể bơi, thư viện, quán cà phê, và nhà hát, địa điểm thường xuyên tổ chức những buổi trình diễn.[10]

Có những tù nhân — thường là người Aryan — được bổ nhiệm làm Kapo ("thủ lĩnh" hay "đốc công"). Các Kapo nhận được khẩu phần ăn và chỗ ở tốt hơn, họ nắm giữ quyền lực rất lớn (đối với tù nhân) và thường đối xử tệ bạc với những tù nhân khác.[15][16] Chỉ có rất ít Kapo bị truy tố sau chiến tranh do rất khó để xác định hành động tàn bạo nào của Kapo là chủ ý cá nhân, hành động nào là theo lệnh cấp trên (SS).[17]

Có khoảng 120 nhân viên SS được phân công tới các phòng hơi ngạt.[18] Việc giết người do một vài nhân viên SS giám sát và phần lớn công đoạn được thực hiện bởi những tù nhân [đa phần là] người Do Thái gọi là Sonderkommando (tổ đặc biệt).[19][20] Công việc của Sonderkommando bao gồm chỉ dẫn nạn nhân tới phòng hơi ngạt, kế đến là lôi xác ra, lấy đi những thứ có giá trị, rồi thiêu xác.[21]

Sonderkommando sống tách biệt với những tù nhân khác trong tình cảnh tốt hơn một chút. Cuộc sống của họ còn được cải thiện hơn nữa nhờ việc tiếp cận vật phẩm của những tù nhân bị hành quyết. Sonderkommando đôi khi có thể lấy trộm đồ cho bản thân và giao dịch trên thị trường chợ đen của Auschwitz.[22] Bác sĩ Miklós Nyiszli cho hay số lượng Sonderkommando trong thời gian diễn ra đợt thảm sát người Do Thái Hungary năm 1944 là khoảng 860 người.[23] Một bộ phận Sonderkommando nhìn chung sẽ bị lính SS bắn chết trong vòng vài tuần, nhiều người trong số còn lại tự sát do ám ảnh công việc; thay thế cho họ là các đơn vị Sonderkommando mới được tạo lập từ những người mới đến. Gần như toàn bộ 2.000 tù nhân thuộc các đơn vị này đã bỏ mạng trước ngày trại được giải phóng.[24]

Cuộc sống trong trại[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp canh ở Auschwitz-Birkenau (2013)
Nhà xí ở Auschwitz-Birkenau (2003)

Một ngày của những người tù bắt đầu từ 4:30 sáng (5:30 vào mùa đông) với một cuộc điểm danh. Bác sĩ Miklós Nyiszli mô tả việc điểm danh bắt đầu từ lúc 3 giờ và kéo dài 4 tiếng. Tại thời điểm đó trong ngày, thời tiết ở Auschwitz là lạnh, kể cả mùa hè. Các tù nhân được lệnh xếp hàng năm ngoài trời và ở đó cho tới khi những sĩ quan SS tới vào lúc 7 giờ.[25] Trong lúc chờ đợi, lính canh ép tù nhân ngồi xổm một tiếng, tay đặt lên đầu; trừng phạt (đánh đập hoặc giam giữ) những người vi phạm như là làm mất một cái cúc áo hay rửa bát không sạch. Các tù nhân được đếm đi đếm lại.[26] Nyiszli mô tả về sự chết chóc hiện hữu thậm chí ngay trong lúc điểm danh và thường được hỗ trợ bởi những bạn tù của họ cho tới khi thử thách qua đi. Quãng thời gian ông bị giam năm 1944-1945, mỗi đêm trong các doanh trại có từ 5 đến 10 người chết.[27] Các tù nhân được giao cho thuộc hạ của Mengele ngủ trong những doanh trại tách biệt và bị đánh thức lúc 7 giờ sáng cho một cuộc điểm danh kéo dài chỉ vài phút.[28]

Sau khi điểm danh, Kommando, hay đội lao động, bước đến chỗ làm việc, năm người sóng hàng, mặc đồng phục sọc của trại, không đồ lót, đi những đôi giày gỗ kích cỡ không phù hợp, không tất.[29] Một ban nhạc tù nhân (như ban nhạc nữ Auschwitz) bị buộc phải chơi những bản nhạc vui vẻ khi công nhân rời trại. Những Kapo chịu trách nhiệm về hành vi của tù nhân trong lúc làm việc như phụ tá của SS. Ngày làm việc kéo dài 12 tiếng vào mùa hè và ngắn hơn một chút vào mùa đông. Hầu hết công việc là tại các địa điểm thi công, khu khai thác sỏi, và bãi gỗ. Không có những khoảng nghỉ. Một tù nhân được giao tới nhà vệ sinh để đo thời gian công nhân "giải quyết" nhu cầu.[26][29] Chủ nhật tuy không phải ngày làm việc, nhưng tù nhân không được nghỉ ngơi, họ bị yêu cầu vệ sinh doanh trại và tắm rửa.[30] Trong ngày này họ được phép viết thư (bằng tiếng Đức) về cho gia đình. Những ai không biết tiếng Đức thì nhờ tù nhân khác giúp soạn hộ thư, đổi lấy một phần bánh mỳ. Các thành viên SS đảm nhận việc kiểm duyệt những bức thư gửi đi.[31]

Czesława Kwoka (trên), tù nhân Ba Lan ở Auschwitz trong năm 1942 hoặc 1943. Các bức ảnh danh tính người tù chụp bởi Wilhelm Brasse.

Cuộc điểm danh bắt buộc thứ hai diễn ra vào buổi tối. Nếu một tù nhân vắng mặt, những người khác sẽ phải đứng cho tới khi tìm ra hoặc biết được lý do vắng mặt của người đó, bất kể điều kiện thời tiết, kể cả có mất hàng tiếng. Sau đợt điểm danh này, trước khi người tù được phép lui về nghỉ đêm và nhận khẩu phần bánh mỳ và nước, sự trừng phạt cá nhân và tập thể được thực thi, phụ thuộc vào những gì đã xảy ra trong ngày. Lệnh giới nghiêm bắt đầu từ 2 đến 3 tiếng sau. Tù nhân ngủ trên những chiếc giường gỗ xếp thành dãy dài, mặc quần áo và đeo giày để tránh bị mất cắp.[30]

Theo lời kể của Nyiszli, "Có từ 800 đến 1000 người bị nhồi nhét trong những gian phòng của mỗi doanh trại. Không thể duỗi người hoàn toàn, họ ngủ ở đó, với chân của người này đặt lên đầu, cổ hay ngực của người khác. Gạt qua mọi phẩm giá của con người, họ xô đẩy, cắn, đá nhau, trong nỗ lực kiếm thêm vài inch không gian để được ngủ thoải mái hơn chút. Đối với họ thời gian ngủ là không có nhiều".[32]

Có thể phân biệt các loại tù nhân bằng những mảnh vải hình tam giác gọi là Winkel được khâu lên áo ngoài phía dưới số hiệu tù nhân của họ. Người tù chính trị có mảnh vải màu đỏ, tín hữu Nhân chứng Jehovah màu tím, tội phạm màu xanh lá, và vân vân. Trên Winkel có khâu một chữ cái để nhận biết quốc tịch. Mảnh vải màu vàng dành cho người Do Thái, nếu họ còn là loại tù nhân khác (tù chính trị, tội phạm, ...) thì sẽ có thêm Winkel thứ hai ở trước.[33] Chỉ riêng tại Auschwitz tù nhân mới bị xăm số tù của họ, đối với tù binh chiến tranh Liên Xô là lên ngực còn dân thường thì là cánh tay trái.[34][35]

Vào buổi sáng tù nhân được nhận đồ uống nóng, nhưng không có đồ ăn sáng; bữa trưa là một bát canh rau loãng không thịt, và buổi tối là một khẩu phần nhỏ bánh mỳ mốc. Phần lớn người tù để dành một phần bánh mỳ cho buổi sáng hôm sau.[36] Nyiszli cho biết lượng thực phẩm tiêu thụ mỗi ngày không vượt quá 700 calo, trừ những tù nhân là đối tượng của các thí nghiệm y khoa sống, những người này được cho ăn mặc tốt hơn.[37] Hệ thống vệ sinh là nghèo nàn, các nhà xí không đảm bảo và thiếu nước sạch.[31] Ở Auschwitz II-Birkenau không có nhà xí cho tới năm 1943, hai năm sau thời điểm trại khởi công xây dựng.[38] Với sự xâm nhập của các loài ký sinh như rận mang mầm bệnh, những tù nhân đã phải chịu đựng và chết bởi dịch sốt phát ban và những loại bệnh tật khác.[38] Cam tẩu mã, một bệnh nhiễm khuẩn xảy ra ở những đối tượng suy dinh dưỡng, là nguyên nhân phổ biến gây tử vong cho những đứa trẻ trong trại Gypsy (Di-gan).[39]

Block 11

Block 11 tại Auschwitz I là một nhà giam nằm trong trại giam, nơi những người vi phạm nhiều quy tắc bị trừng phạt. Một số tù nhân bị phạt cả đêm trong Stehbunker (phòng đứng). Những xà lim này có diện tích khoảng 1,5m2, chứa bốn người; họ không phải làm gì ngoài việc đứng. Các tù nhân bị kết án tử hình vì cố gắng chạy trốn bị giam trong những phòng tối và bỏ mặc cho đến chết.[40]

Các phòng tối nằm dưới tầng hầm, mỗi phòng chỉ có một cửa sổ rất nhỏ và một cánh cửa chắc. Tù nhân bị giam ở đây sẽ dần ngạt thở do tiêu thụ hết lượng oxy trong phòng; đôi khi lính SS thắp một ngọn nến để rút cạn oxy nhanh hơn. Nhiều người đã bị treo với tay ở phía sau lưng trong hàng giờ, thậm chí vài ngày, và bởi vậy khớp vai của họ bị trật.[41]

Chọn lựa và quy trình hành quyết[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Do Thái Hungary trên Judenrampe (sân ga Do Thái) sau khi bước xuống từ những chuyến tàu vận chuyển. Sang bên phải (rechts!) có nghĩa đã được chọn làm lao động; sang bên trái (links!), đồng nghĩa với cái chết trong các phòng hơi ngạt. Ảnh nằm trong Album Auschwitz (tháng 5 năm 1944).
Những người Do Thái Hungary không được chọn làm lao động sẽ bị giết trong các phòng hơi ngạt gần như ngay lập tức sau khi tới trại.[42] Ảnh nằm trong Album Auschwitz (tháng 5 năm 1944).
"Güterwagen" (toa hàng) của Deutsche Reichsbahn, một loại toa xe lửa dùng cho việc trục xuất

Vào ngày 31 tháng 7 năm 1941, Hermann Göring gửi văn bản cấp phép tới Heydrich, giám đốc Cơ quan An ninh Trung ương Đế chế (RSHA), để chuẩn bị và đệ trình một kế hoạch cho Die Endlösung der Judenfrage (giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái) tại những lãnh thổ mà Đức quản lý và để phối hợp sự tham gia của tất cả các tổ chức chính phủ liên quan.[43] Kết quả là Generalplan Ost (Kế hoạch tổng thể phía Đông) đã đề ra mục tiêu trục xuất số dân ở vùng Đông Âu và Liên Xô chiếm đóng tới Siberia để tàn sát hoặc sử dụng làm lao động nô lệ.[44] Bên cạnh diệt trừ người Do Thái, Quốc xã còn lên kế hoạch làm giảm số dân tại những lãnh thổ chinh phạt xuống 30 triệu người bằng biện pháp bỏ đói trong một hoạt động gọi là Hungerplan. Nguồn cung lương thực sẽ được chuyển tới quân đội và thường dân Đức. Các thành phố sẽ bị san phẳng và đất đai được dành cho rừng hoặc những người Đức tái định cư.[45]

Các kế hoạch nhằm xóa sổ toàn bộ số dân Do Thái ở châu Âu — khoảng 11 triệu người — được chính thức hóa tại Hội nghị Wansee diễn ra vào ngày 20 tháng 1 năm 1942. Theo đó, một số sẽ phải làm việc cho đến chết, và số còn lại sẽ bị giết.[46] Ban đầu Quốc xã hành quyết nạn nhân bằng xe hơi ngạt hoặc bằng súng (thi hành bởi các đội xử bắn Einsatzgruppen), nhưng những phương pháp này đã chứng minh chúng không thể đáp ứng được chiến dịch có quy mô lớn như vậy.[47] Đến năm 1941, những trung tâm giết người tại Auschwitz, Sobibor, Treblinka, và những trại tử thần khác của Đức Quốc xã đã trở thành phương thức giết người hàng loạt chủ đạo thay thế cho Einsatzgruppen.[48]

Những đợt hành quyết hàng loạt đầu tiên tại Auschwitz diễn ra vào đầu tháng 9 năm 1941 khi 900 tù nhân bị giết bằng khí độc Zyklon B trong tầng hầm của Block 11.[49] Một điều được minh chứng là tòa nhà này không phù hợp cho việc giết số lượng lớn người bằng khí độc, bởi vậy địa điểm được dịch chuyển đến nhà hỏa thiêu tại Auschwitz I (nhà thiêu I, hoạt động đến tháng 7 năm 1942). Ở đây một lúc có thể tiêu diệt hơn 700 người.[50] Các nạn nhân được bảo là đi khử trùng hoặc khử chấy rận, mục đích để giữ cho họ im lặng. Họ được lệnh cởi quần áo ở bên ngoài rồi tiếp đó bị nhốt trong tòa nhà và sát hại bằng khí độc.[51] Sau khi ngừng hoạt động với chức năng như một phòng hơi ngạt, tòa nhà được chuyển đổi thành một kho chứa và sau này là nơi trú ẩn cho SS khỏi các cuộc không kích.[52] Sau chiến tranh, lò thiêu và phòng hơi ngạt được phục dựng từ những thành phần ban đầu còn lại. Có khoảng 60.000 người đã bị giết tại nhà thiêu I.[53][54]

Trong lúc các nhà thiêu lớn hơn II, III, IV, và V thi công, địa điểm hành quyết hàng loạt được chuyển sang hai phòng hơi ngạt tạm thời (Bunker 1 và 2). Giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1944, Bunker 2 tái hoạt động trong cuộc thảm sát số lượng lớn người Do Thái Hungary.[50] Công suất của các nhà thiêu và hố thiêu ngoài trời đạt 20.000 thi thể mỗi ngày vào mùa hè năm 1944.[55] Nhà thiêu VI không được xây dựng dù đã có kế hoạch.[56]

Các tù nhân được vận chuyển từ mọi vùng lãnh thổ châu Âu do Đức chiếm đóng bằng đường sắt, trên những chuyến tàu hàng ngày.[57] Đến tháng 7 năm 1942, SS thực thi việc "lựa chọn". Người Do Thái bị tách riêng, những người được xem là có thể làm việc được đưa sang bên phải và nhận vào trại, còn những người bị xem là không phù hợp để làm việc bị dẫn sang phía trái và hành quyết bằng khí độc ngay lập tức.[58] Nhóm được chọn để giết chiếm khoảng 3/4 tổng số,[a] bao gồm hầu hết trẻ em, phụ nữ với con nhỏ, toàn bộ số người già và tất cả những người không qua được đợt kiểm tra ngắn và hời hợt của bác sĩ SS.[60] Sau khi quy trình chọn lựa hoàn tất, những người quá yếu hoặc quá trẻ không thể bước tới nhà thiêu sẽ được đưa đến đó bằng xe đẩy hoặc bị giết tại chỗ với một viên đạn vào đầu.[61][62] Lính SS thu giữ và phân loại vật dụng của các nạn nhân trong một khu vực của trại gọi là "Canada", có tên gọi này là bởi Canada được xem là vùng đất trù phú. Nhiều thành viên SS tại trại đã tự làm giàu cho bản thân bằng cách ăn cắp tài sản tịch thu.[63]

Phòng hơi ngạt bị phá hủy tại Auschwitz

Sĩ quan SS bảo các nạn nhân đi tắm rửa và tẩy trừ chấy rận. Họ cởi bỏ quần áo ở phòng ngoài và bước đến phòng hơi ngạt, địa điểm được ngụy trang như phòng tắm; thậm chí một số người còn được phát xà phòng và khăn.[64] Zyklon B do Viện Vệ sinh của SS cung cấp được vận chuyển tới trại bằng xe cứu thương.[65] Công đoạn thả hơi độc để giết nạn nhân luôn do lính SS thực hiện theo chỉ thị của bác sĩ SS giám sát.[66][67] Sau khi những cánh cửa đóng lại, lính SS đổ Zyklon B vào phòng qua các lỗ thông trên mái hoặc lỗ hổng ở tường. Các nạn nhân chết trong vòng 20 phút.[66] Ở bên ngoài có thể nghe thấy những tiếng la hét và rền than dù đã có những bức tường bê tông dày ngăn cách. Nhằm dẹp yên tiếng ồn, hai động cơ xe máy đặt gần đó được rồ đến hết ga, tuy nhiên vẫn có thể nghe thấy những âm thanh la hét.[68]

Tiếp theo, các Sonderkommando đeo mặt nạ phòng độc vào phòng lôi các thi thể ra. Kính mắt, đồ trang sức, tóc, và răng vàng (một loại răng giả) của nạn nhân bị lấy đi.[69] Xác chết được đốt trong các lò thiêu gần đó; còn tro thì bị chôn vùi, vứt xuống sông hoặc dùng làm phân bón.[69]

Các phòng hơi ngạt hoạt động hết công suất trong giai đoạn thảm sát người Do Thái Hungary từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1944. Tuy là một đồng minh của Đức trong thế chiến thứ hai, Hungary đã không đồng ý chuyển giao người Do Thái cho tới khi Đức xâm chiếm quốc gia này vào tháng 3 năm đó.[70] Một nhánh đường ray dẫn thẳng vào Birkenau được hoàn tất trong tháng 5 để đưa các nạn nhân đến gần phòng hơi ngạt hơn.[71] Từ ngày 14 tháng 5 đến đầu tháng 7 năm 1944, Quốc xã đã trục xuất 437.000 người Do Thái Hungary, một nửa so với tổng số trước chiến tranh, đến Auschwitz; tỉ lệ đỉnh điểm đạt tầm 12.000 người/ngày.[72] Lượng người đến quá lớn tới mức lính SS phải thiêu xác cả ở những hố ngoài trời cũng như trong lò thiêu.[73] Lượt chọn lựa cuối cùng diễn ra vào ngày 30 tháng 10 năm 1944.[55]

Các thí nghiệm y khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Tử thi của Menachem Taffel, nhà buôn bơ sữa ở Berlin. Taffel bị trục xuất đến Auschwitz trong tháng 3 năm 1943 cùng vợ và con, hai người này bị hành quyết bằng khí độc khi tới trại. Taffel được chọn làm mẫu vật giải phẫu, ông bị chuyển đến trại Natzweiler-Struthof và hành quyết trong phòng hơi ngạt vào tháng 8 năm 1943.

Các bác sĩ Đức đã tiến hành nhiều thí nghiệm y khoa khác nhau trên cơ thể tù nhân tại Auschwitz. Bác sĩ SS thử nghiệm hiệu lực triệt sản của tia X đối với những tù nhân nữ. Carl Clauberg đã bơm hóa chất vào tử cung của phụ nữ trong nỗ lực làm chúng dính lại. Bayer, khi đó là công ty con của IG Farben, đã mua lại những tù nhân để dùng làm đối tượng nghiên cứu cho việc thử nghiệm những loại thuốc mới.[74] Các tù nhân còn bị cố tình làm cho nhiễm sốt phát ban phục vụ nghiên cứu vắc-xin và cho tiếp xúc với những chất độc hại để xem xét hiệu ứng.[75]

Bác sĩ khét tiếng nhất tại Auschwitz là Josef Mengele, biết đến với biệt danh "Thiên sứ của Quỷ thần". Mengele đặc biệt quan tâm tới việc nghiên cứu trên các cặp sinh đôi cùng trứng, dùng chúng làm đối tượng cho những thí nghiệm tàn độc như gây bệnh ở một đứa trẻ (trong một cặp) và giết đứa còn lại khi đứa kia đã chết để tiến hành [mổ] khám nghiệm so sánh. Mengele cố tình gây bệnh cam tẩu mã cho những cặp song sinh, người lùn (cũng là một đối tượng được quan tâm), và các tù nhân khác để nghiên cứu tác động.[76]

Kurt Heissmeyer đã lấy 20 đứa trẻ Do Thái ở Auschwitz để sử dụng trong những thí nghiệm y khoa giả khoa học tại trại tập trung Neuengamme.[b] Vào tháng 4 năm 1945, những đứa trẻ này bị giết bằng phương thức treo cổ nhằm che đậy dự án.[77]

Một bộ sưu tập xương được thu thập từ trong số 115 tù nhân người Do Thái ở Auschwitz.[c] Rudolf BrandtWolfram Sievers, tổng giám đốc Ahnenerbe (một viện nghiên cứu của Đức Quốc xã), chịu trách nhiệm về việc chuyển giao xương tới Viện Anatomy tại đại học Strasbourg ở vùng Alsace thuộc lãnh thổ Pháp chiếm đóng. Việc thu thập được Himmler phê duyệt và thực hiện dưới sự chỉ đạo của August Hirt. Cuối cùng có 87 tù nhân được đưa đến trại Natzweiler-Struthof và hành quyết trong tháng 8 năm 1943. Sau này Brandt và Sievers đã bị kết án tại phiên tòa xử các bác sĩ (Doctors' trial) ở Nuremberg.[79]

Số người chết[sửa | sửa mã nguồn]

Những đứa trẻ người Do Thái Hungary và một phụ nữ cao tuổi trên đường đến phòng hơi ngạt tại Auschwitz-Birkenau (1944). Rất nhiều trẻ nhỏ, người già đã bị sát hại ngay lập tức khi tới trại và không được ghi chép lại.[80]

Không dễ để xác định số nạn nhân thiệt mạng tại Auschwitz một cách chính xác bởi nhiều tù nhân không được ghi chép lại và đa phần chứng cớ đã bị SS tiêu hủy trong những tháng ngày cuối cùng của chiến tranh.[80] Ngay từ năm 1942, Himmler đã tới thăm trại và ra lệnh rằng "mọi hố chôn tập thể để mở và những thi thể phải được thiêu. Ngoài ra tro phải vứt bỏ làm sao để trong tương lai không thể tính ra số lượng xác bị thiêu."[81]

Chính quyền Liên Xô tuyên bố không lâu sau thời điểm giải phóng trại rằng bốn triệu người đã bị giết tại Auschwitz, con số mà nay được cho là phóng đại quá nhiều.[82] Trong buổi chất vấn, Höss khai Adolf Eichmann đã bảo với ông ta rằng có 2,5 triệu người Do Thái đã bị giết trong các phòng hơi ngạt và thêm khoảng nửa triệu người nữa chết do những nguyên nhân khác.[83] Về sau Höss viết: "Tôi cho rằng con số 2,5 triệu là quá cao. Lại còn vấn đề năng lực tàn sát của Auschwitz là hạn chế".[84] Gerald Reitlinger trong cuốn sách The Final Solution 1953 ước tính số người bị giết là 800.000 đến 900.000,[85] còn Raul Hilberg trong cuốn The Destruction of the European Jews 1961 ước tính số người Do Thái thiệt mạng tại Auschwitz tối đa là 1.000.000.[86]

Vào năm 1983, học giả người Pháp George Wellers đã là một trong những người đầu tiên sử dụng dữ liệu của Đức về hoạt động trục xuất để ước tính số người bị sát hại tại Auschwitz; ông đi tới con số 1.471.595 người, trong đó có 1,35 triệu người Do Thái và 86.675 người Ba Lan.[87] Một nghiên cứu lớn hơn do Franciszek Piper khởi xướng sử dụng thời gian biểu các chuyến tàu tới trại kết hợp với những sổ sách ghi chép về việc trục xuất để tính ra tổng số người chết ít nhất là 1,1 triệu trong đó 960.000 người là Do Thái,[88] con số này đã được Bảo tàng Quốc gia Auschwitz-Birkenau chính thức chấp thuận vào thập niên 1990.[89] Piper còn phát biểu thêm rằng tổng số người chết có thể đạt tới 1,5 triệu.[89]

Xét theo quốc gia, số người Do Thái thiệt mạng tại Auschwitz nhiều nhất là từ Hungary với 438.000 người, kế đến là Ba Lan (300.000), Pháp (69.000), Hà Lan (60.000), và Hy Lạp (55.000).[90] Chưa đến 1% số người Do Thái Liên Xô bị sát hại trong cuộc diệt chủng Holocaust là ở Auschwitz, do vào lúc mà hoạt động tàn sát tại Auschwitz đạt đỉnh điểm trong năm 1944 thì quân đội Đức đã và đang tiếp tục bị đẩy lùi khỏi lãnh thổ Liên Xô.[91] Tính ra cứ 6 người Do Thái bị giết trong cuộc diệt chủng Holocaust thì có 1 người là ở Auschwitz.[3]

Các nhóm nạn nhân chủ yếu tiếp theo gồm những người Ba Lan không phải Do Thái với số thiệt mạng được cho là từ 70.000 đến 75.000 người, người Di-gan 21.000, tù binh chiến tranh Liên Xô 15.000, và người tới từ các quốc gia khác 10.000 đến 15.000.[90] Có khoảng 400 tín hữu Nhân chứng Jehovah bị giam tại Auschwitz, trong đó ít nhất 152 người đã chết.[92] Theo một ước tính thì có tầm 5.000 đến 15.000 người đồng tính nam bị giam cầm trong các trại tập trung, không rõ số bị chuyển tới Auschwitz là bao nhiêu, tuy nhiên tỉ lệ người đồng tính nam bị đưa đến trại thiệt mạng là 80%.[93]

Sự trốn chạy, kháng cự và hiểu biết của phe Đồng Minh về khu trại[sửa | sửa mã nguồn]

Những phụ nữ khỏa thân trên đường tới phòng hơi ngạt. Bức ảnh bí mật này do một thành viên Sonderkommando chụp lại

Các tù nhân tại một số thời điểm có thể truyền đạt thông tin từ trong trại ra ngoài thông qua thư từ và sóng vô tuyến (truyền thanh). Vào ngày 21 tháng 7 năm 1942, Chính phủ Ba Lan lưu vong ở London đã lần đầu thông báo về việc tù nhân bị hành quyết bằng khí độc.[94] Tuy nhiên trong một thời gian dài, những thông tin này đã bị bác bỏ vì bị cho là thổi phồng hoặc không đáng tin.[95]

"The Mass Extermination of Jews in German Occupied Poland" (tạm dịch: Sự hủy diệt/Cuộc thảm sát hàng loạt người Do Thái ở lãnh thổ Ba Lan do Đức chiếm đóng), một tài liệu do chính phủ Ba Lan lưu vong phát hành gửi tới "Liên Hiệp Quốc" thời đó, 1942
Bài phóng sự bí ẩn về "trại tử thần" Auschwitz của tác giả Natalia Zarembina, 1942.

Trong những năm 1940-1943, phe Đồng Minh cũng đã nắm bắt được các thông tin sẵn có liên quan tới Auschwitz nhờ những báo cáo thường xuyên và chính xác của đại úy người Ba Lan Witold Pilecki, thành viên của phong trào Armia Krajowa. Pilecki là người duy nhất tình nguyện chịu giam ở trại tập trung Auschwitz được biết đến. Ông đã ở đó trong 945 ngày, thu thập những chứng cớ về cuộc diệt chủng và thành lập một tổ chức kháng chiến tại trại gọi là Związek Organizacji Wojskowej (ZOW).[96] Vào tháng 11 năm 1940 ông đã lén tuồn những tin tức đầu tiên ra ngoài thông qua một người tù được phóng thích.[97] Cuối cùng Pilecki trốn thoát vào ngày 27 tháng 4 năm 1943, tuy nhiên bản báo cáo của ông về cuộc thảm sát hàng loạt cũng như những tin tức trước đó đã bị gạt bỏ như một sự thổi phồng của phe Đồng Minh, địch thủ của Đức.[95]

Thông tin đầu tiên về trại tập trung Auschwitz được công bố vào mùa đông 1940-41 trên hai tờ báo Ba Lan Polska żyjeBiuletyn Informacyjny.[98] Từ năm 1942 Biuro Informacji i Propagandy (Cục Thông tin và Tuyên truyền) của Armia Krajowa vùng Warsaw đã xuất bản một vài cuốn sách nhỏ căn cứ vào lời thuật lại của những người trốn thoát. Cuốn đầu tiên trong số đó là quyển hồi ký hư cấu "Oświęcim. Pamiętnik więźnia" ("Auschwitz: Nhật ký của một người tù") của tác giả Halina Krahelska xuất bản tại Warsaw vào tháng 4 năm 1942.[99] Cùng năm 1942 còn có những cuốn sách khác được xuất bản như Auschwitz: obóz śmierci ("Auschwitz: trại tử thần") của Natalia Zarembina[100]W piekle ("Ở địa ngục") của Zofia Kossak-Szczucka, một nhà hoạt động xã hội, sáng lập viên của tổ chức bí mật Żegota, và tác giả người Ba Lan.[101]

Vào năm 1943, Kampfgruppe Auschwitz (trực dịch: nhóm chiến đấu Auschwitz) được thành lập với mục đích tuồn ra ngoài thông tin về những điều đã xảy ra.[102] Các Sonderkommando đã chôn những ghi chép xuống đất với hy vọng những người giải phóng trại sẽ tìm ra chúng.[103] Nhóm này còn chụp và lén chuyển ra ngoài những tấm hình về các thi thể và hoạt động chuẩn bị cho cuộc thảm sát hàng loạt giữa năm 1944.[104]

Thái độ của Đồng Minh thay đổi sau bản báo cáo Vrba–Wetzler chi tiết dày 40 trang. Tác giả của nó là hai tù nhân người Do Thái đã trốn thoát khỏi trại vào ngày 7 tháng 4 năm 1944, Rudolf VrbaAlfréd Wetzler. Cuối cùng thì bản báo cáo này cũng thuyết phục được các lãnh đạo của Đồng Minh, làm họ tin rằng những vụ thảm sát đang diễn ra ở Auschwitz.[105] Nhà ngoại giao George Mantello đã phát đi thông tin chi tiết tới báo chí Thụy Sĩ; và tờ The New York Times cũng cho đăng những nội dung này vào ngày 6 tháng 6.[106] Kế hoạch Auschwitz khởi nguồn từ chính phủ Ba Lan được để nghị tới Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh trong tháng 8 năm 1944.[107]

Các tổ chức của người Do Thái đã phát động và nâng tầm một chiến dịch xuất phát với lời cầu khẩn của thầy đạo người [Do Thái] Slovakia Chaim Michael Dov Weissmandl nhằm thuyết phục quân Đồng Minh ném bom Auschwitz hoặc các tuyến đường ray dẫn tới trại.[108] Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có thời điểm ra lệnh chuẩn bị một kế hoạch như vậy, nhưng ông đã được cho biết rằng việc ném bom để giải phóng tù nhân hay phá hoại tuyến đường ray là khó có thể thực hiện một cách chính xác, hay không có tính khả thi.[109]

Vào năm 1978, nhà sử học David S. Wyman đã công bố một bài tiểu luận có tựa "Why Auschwitz Was Never Bombed" ("Tại sao Auschwitz không bị ném bom"), ông cho rằng Không quân Hoa Kỳ có năng lực tấn công Auschwitz và họ cần phải làm vậy. Các cuốn sách của Bernard WassersteinMartin Gilbert cũng nêu lên vấn đề tương tự đối với Anh.[110] Kể từ thập niên 1990, các nhà sử học khác đã phản biện rằng việc ném bom là chưa đủ tính đúng đắn.[111] Cho đến nay đây vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi.[110]

Những nỗ lực trốn chạy mang tính cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Có ít nhất 802 tù nhân đã cố gắng đào thoát khỏi Auschwitz, đa phần là những lao động Liên Xô hay Ba Lan bỏ trốn từ những điểm làm việc ở ngoài trại;[112] trong đó 144 người đã thành công, 331 người không rõ số phận.[113] Một biện pháp trừng phạt phổ biển dành cho những kẻ đào tẩu là bỏ đói cho đến chết; đôi khi người thân của kẻ chạy thoát sẽ bị bắt giam ở Auschwitz và việc làm này được đem ra để răn đe những người khác. Lính SS sẽ chọn lấy ngẫu nhiên 10 tù nhân và để họ chết đói nếu có ai đó chạy thoát.[114]

Vào ngày 20 tháng 6 năm 1942, bốn tù nhân người Ba Lan: Eugeniusz Bendera (thợ cơ khí tại trại), Kazimierz Piechowski, Stanisław Gustaw Jaster, và Józef Lempart đã thực hiện một cuộc đào thoát táo bạo khỏi Auschwitz.[115][116] Sau khi đột nhập vào một kho chứa, họ đã cải trang thành thành viên của SS-Totenkopfverbände (các đơn vị SS phụ trách trại tập trung), trang bị vũ khí và lấy cắp một chiếc xe của cán bộ SS, rồi từ đó lái xe thẳng qua cổng chính mà không gặp trở ngại.[117]

Vào ngày 24 tháng 6 năm 1944, Mala Zimetbaum, một phụ nữ Do Thái Bỉ-Ba Lan, đã bỏ trốn cùng bạn trai người Ba Lan của cô, Edek Galiński. Về sau họ bị SS bắt lại, tra tấn và hành quyết.[118] Ngày 21 tháng 7 năm 1944, Jerzy Bielecki với bộ đồng phục SS và giấy phép giả đã vượt qua cánh cổng trại cùng bạn gái người Do Thái có tên Cyla. Cả hai đều sống sót qua cuộc chiến.[119]

Cuộc nổi dậy ở Birkenau[sửa | sửa mã nguồn]

Tàn tích của nhà thiêu IV. Tòa nhà bị phá hủy trong cuộc nổi dậy của Sonderkommando vào ngày 7 tháng 10 năm 1944

Các đơn vị Sonderkommando đã nhận thức được rằng với vai trò là người chứng kiến việc tàn sát (nhân chứng), họ rồi cuối cùng cũng sẽ bị giết để che đậy những tội ác.[120] Vào ngày 7 tháng 10 năm 1944, Sonderkommando thuộc Kommando III của Birkenau đã tiến hành nổi dậy sau thông báo rằng một nhóm trong số họ sẽ được chọn để "chuyển đến trại khác" — một trò lừa đảo quen thuộc của Quốc xã nhằm bưng bít việc sát hại tù nhân.[120][121] Sonderkommando đã dùng đá, rìu, và lựu đạn tạm bợ tấn công lính SS.[121][122] Vào lúc mà SS dùng súng máy đáp trả những tù nhân ở nhà thiêu IV, Sonderkommando ở nhà thiêu II cũng nổi dậy, một số người tìm cách chạy trốn.[121][122] Cuộc nổi dậy bị đàn áp khi màn đêm buông xuống.[104]

Kêt cục có ba lính canh SS bị giết — một trong số đó bị các tù nhân thiêu sống trong lò thiêu của nhà thiêu II — và 250 Sonderkommando thiệt mạng. Hàng trăm tù nhân dù chạy thoát nhưng đã sớm bị bắt lại và xử tử cùng một nhóm người tham gia vào cuộc nổi dậy.[122] Nhà thiêu IV bị phá hủy trong cuộc giao tranh, và một nhóm tù nhân ở phòng hơi ngạt của nhà thiêu V đã được tha trong sự hỗn loạn.[104][122]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 85% số người Hungary tới trại vào mùa hè năm 1944 bị giết ngay tức khắc.[59]
  2. ^ Về "giả khoa học", xem Kater, Michael H (2000). Doctors Under Hitler, University of North Carolina Press, ISBN 978-0-8078-4858-6, tr. 124–125; Lukas, Richard C (1994) Did the Children Cry?: Hitler's War Against Jewish and Polish Children, 1939–1945, Hippocrene Books, ISBN 978-0-7818-0242-0, tr. 88–89; và Schwarberg, Günther (1984). The Murders at Bullenhuser Damm, Indiana University Press, ISBN 978-0-253-15481-1, tr. 117.
  3. ^ Sievers viết trong một bức thư vào tháng 6 năm 1943: "Có cả thảy 115 người, 109 là Do Thái (30 nữ), 2 Ba Lan, 4 châu Á. Hiện tại các tù nhân này đã được phân tách theo giới tính và cách ly trong hai tòa nhà bệnh viện của Auschwitz."[78]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gutman, Yisrael. "Auschwitz—An Overview" in Gutman, Yisrael & Berenbaum, Michael. Anatomy of the Auschwitz Death Camp, Indiana University Press, 1994; this edition 1998, p. 17.
  2. ^ Rees 2005, tr. 298
  3. ^ a ă Snyder 2010, tr. 383
  4. ^ Brian Harmon, John Drobnicki, Historical sources and the Auschwitz death toll estimates
  5. ^ Piper, Franciszek & Meyer, Fritjof. "Die Zahl der Opfer von Auschwitz. Neue Erkentnisse durch neue Archivfunde", Osteuropa, 52, Jg., 5/2002, pp. 631-641, (review article).
  6. ^ Piper, Franciszek Piper. "The Number of Victims" in Gutman, Yisrael & Berenbaum, Michael. Anatomy of the Auschwitz Death Camp, Indiana University Press, 1994; this edition 1998, p. 62.
  7. ^ Evans 2008, tr. 503
  8. ^ Steinbacher 2005, tr. 40
  9. ^ a ă Rees 2005, tr. 134
  10. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 40–41
  11. ^ Guterman 2008, tr. 28
  12. ^ Friedlander 2009, tr. 509
  13. ^ Rees 2005, tr. 158
  14. ^ Rees 2005, tr. 160
  15. ^ Rees 2005, tr. 7
  16. ^ Steinbacher 2005, tr. 35–36
  17. ^ Wittmann 2003, tr. 519–520
  18. ^ Nyiszli 2011, tr. 41, 70
  19. ^ Steinbacher 2005, tr. 102
  20. ^ Rees 2005, tr. 290
  21. ^ Friedlander 2009, tr. 307–308
  22. ^ Rees 2005, tr. 294
  23. ^ Nyiszli 2011, tr. 41
  24. ^ Steinbacher 2005, tr. 103–104
  25. ^ Nyiszli 2011, tr. 25–26
  26. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 33
  27. ^ Nyiszli 2011, tr. 26
  28. ^ Nyiszli 2011, tr. 27
  29. ^ a ă Gutman 1994, tr. 20–21
  30. ^ a ă Gutman 1994, tr. 21
  31. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 34
  32. ^ Nyiszli 2011, tr. 25
  33. ^ Steinbacher 2005, tr. 31
  34. ^ Gutman 1994, tr. 20
  35. ^ Steinbacher 2005, tr. 91
  36. ^ Steinbacher 2005, tr. 35
  37. ^ Nyiszli 2011, tr. 57, 102
  38. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 94
  39. ^ Steinbacher 2005, tr. 111
  40. ^ Lachendro, Punishments and executions
  41. ^ Rees 2005, tr. 26
  42. ^ Kadar & Vagi 2004, tr. 125
  43. ^ Browning 2004, tr. 315
  44. ^ Snyder 2010, tr. 416
  45. ^ Snyder 2010, tr. 162–163, 416
  46. ^ Longerich 2012, tr. 555–556
  47. ^ Evans 2008, tr. 256–257
  48. ^ Longerich 2010, tr. 279–280
  49. ^ Steinbacher 2005, tr. 88
  50. ^ a ă Piper 1994c, tr. 158–159
  51. ^ Piper 1994c, tr. 160
  52. ^ Piper 1994c, tr. 159
  53. ^ Dwork & van Pelt 1997, tr. 364
  54. ^ Young 2009, tr. 56
  55. ^ a ă Piper 1994c, tr. 174
  56. ^ Piper 1994c, tr. 175
  57. ^ Steinbacher 2005, tr. 104–105
  58. ^ Rees 2005, tr. 100
  59. ^ Steinbacher 2005, tr. 109
  60. ^ Levy 2006, tr. 235–237
  61. ^ Rees 2005, tr. 127
  62. ^ Piper 1994c, tr. 169
  63. ^ Rees 2005, tr. 172–175
  64. ^ Piper 1994c, tr. 169–170
  65. ^ Piper 1994c, tr. 162
  66. ^ a ă Piper 1994c, tr. 170
  67. ^ Lifton & Hackett 1994, tr. 304
  68. ^ Rees 2005, tr. 83
  69. ^ a ă Piper 1994c, tr. 171
  70. ^ Longerich 2010, tr. 407
  71. ^ Hellman, Meier & Klarsfeld 1981, tr. viii
  72. ^ Longerich 2010, tr. 408
  73. ^ Dwork & van Pelt 1997, tr. 337–343
  74. ^ Rees 2005, tr. 178–179
  75. ^ Steinbacher 2005, tr. 114–115
  76. ^ Rees 2005, tr. 180–182
  77. ^ Steinbacher 2005, tr. 114
  78. ^ Nuremberg Trial 1946
  79. ^ Spitz 2005, tr. 232–234
  80. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 133–134
  81. ^ Friedlander 2009, tr. 404
  82. ^ Steinbacher 2005, tr. 132–133
  83. ^ Steinbacher 2005, tr. 133
  84. ^ Höss 2000, tr. 193–194
  85. ^ Reitlinger 1953, tr. 499
  86. ^ Hilberg 1961, tr. 958
  87. ^ Piper 1994b, tr. 67
  88. ^ Piper 1994b, tr. 71–72
  89. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 136
  90. ^ a ă Steinbacher 2005, tr. 134
  91. ^ Snyder 2010, tr. 275
  92. ^ Wontor-Cichy, Jehovah's Witnesses
  93. ^ Hoare 2015
  94. ^ Steinbacher 2005, tr. 116
  95. ^ a ă Davies 1996, tr. 1023
  96. ^ Pilecki biography
  97. ^ Lewis 1999, tr. 391
  98. ^ Bartoszewski 1970, tr. 123
  99. ^ Krahelska 1985
  100. ^ Zarembina 2008
  101. ^ Kossak-Szczucka 1942
  102. ^ Mais, Engel & Fogelman 2007, tr. 73
  103. ^ Nyiszli 2011, tr. 124
  104. ^ a ă â Steinbacher 2005, tr. 121
  105. ^ Linn 2006
  106. ^ Kárný 1994, tr. 561
  107. ^ UK National Archives
  108. ^ Kitchens 2000, tr. 80–81
  109. ^ Biddle 2000, tr. 35
  110. ^ a ă Neufeld 2000, tr. 1–2
  111. ^ Neufeld 2000, tr. 4–5, 9–10
  112. ^ Swiebocki, The resistance movement
  113. ^ Sixty-Third Anniversary 2005
  114. ^ Rees 2005, tr. 141
  115. ^ Zawadzki 2012
  116. ^ Piechowski, Kłodecka-Kaczyńska & Ziółkowski 2003, tr. 99
  117. ^ Rees 2005, tr. 144–145
  118. ^ Gilbert 1987, tr. 695–697
  119. ^ Stahl, JFR
  120. ^ a ă Friedlander 2009, tr. 581
  121. ^ a ă â Steinbacher 2005, tr. 120
  122. ^ a ă â b Rees 2005, tr. 257

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]