Schutzstaffel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Schutzstaffel
Flag of the Schutzstaffel.svg
Kỳ hiệu SS[a]
Himmler besichtigt die Gefangenenlager in Russland. Heinrich Himmler inspects a prisoner of war camp in Russia, circa... - NARA - 540164.jpg
Bundesarchiv Bild 101III-Lerche Stereo-046-03, Metz, Sepp Dietrich bei Ordensverleihung.jpg
Bundesarchiv Bild 183-R97512, Berlin, Geheimes Staatspolizeihauptamt.jpg
Majdanek (June 24, 1944).jpg
Stroop Report - Warsaw Ghetto Uprising BW.jpg
Bundesarchiv Bild 183-H04436, Klagenfurt, Adolf Hitler, Ehrenkompanie.jpg

Tổng quan Cơ quan
Thành lập4 tháng 4 năm 1925[2]
Cơ quan tiền thân
Giải thể8 tháng 5 năm 1945
LoạiBán quân sự
Quyền hạn Đức Quốc Xã
Đức Quốc xã Châu Âu Quốc xã
Trụ sởPrinz-Albrecht-Straße, Berlin
52°30′26″B 13°22′57″Đ / 52,50722°B 13,3825°Đ / 52.50722; 13.38250
Số nhân viên800,000 (k. 1944)
Reichsführer chịu trách nhiệm
Trực thuộc cơ quanĐảng Quốc xã
Sturmabteilung (tới tháng 7 năm 1934)
Cơ quan trực thuộc

Schutzstaffel (SS; cách điệu hóa bằng chữ Rune Armanen là ᛋᛋ; phát âm tiếng Đức: [ˈʃʊtsˌʃtafl̩]  (Speaker Icon.svg nghe), nghĩa "đội cận vệ") là một tổ chức bán quân sự dưới trướng Adolf HitlerĐảng Quốc xã (NSDAP), hoạt động tại Đức dưới thời Cộng hòa WeimarĐệ Tam Đế chế cũng như trên khắp các vùng lãnh thổ châu Âu bị Đức chiếm đóng trong Thế chiến thứ hai. SS khởi nguyên là một đơn vị lính gác nhỏ gọi là Saal-Schutz (An ninh hội trường) có thành phần gồm những tình nguyện viên thực hiện công tác giữ gìn an ninh cho các cuộc họp đảng ở München. Năm 1925, Heinrich Himmler gia nhập đơn vị mà khi ấy đã được cải tổ và đổi tên thành Schutzstaffel. Dưới sự lãnh đạo của Himmler, SS đã phát triển từ một đội hình bán quân sự nhỏ thành một trong những tổ chức thế lực nhất tại Đức Quốc xã. Kể từ ngày đầu Đảng Quốc xã lên nắm quyền cho đến khi sụp đổ vào năm 1945, SS là cơ quan quan trọng nhất về an ninh, giám sát và khủng bố ở Đức cũng như tại các vùng đất ở châu Âu bị nước này chiếm đóng.

Schutzstaffel được cấu thành từ hai nhóm chính là Allgemeine SSWaffen-SS (Vũ trang SS). Allgemeine SS đảm nhiệm thực thi chính sách chủng tộc của Đức Quốc xã và giữ gìn trật tự chung, còn Waffen-SS bao hàm những đơn vị chiến đấu trong quân đội Đức Quốc xã. Bộ phận thứ ba của SS là SS-Totenkopfverbände (SS-TV; "đơn vị Đầu lâu"[3]) điều hành các trại tập trungtrại hành quyết. Các phân nhóm bổ sung của SS bao gồm GestapoSicherheitsdienst (SD) đảm trách truy lùng những kẻ thù thực sự và tiềm ẩn của nhà nước, dập tắt mọi hành vi chống đối, giám sát lòng thành của nhân dân với ý thức hệ và cung cấp thông tin tình báo trong và ngoài nước.

SS là tổ chức chịu trách nhiệm lớn nhất cho vụ diệt chủng 5,5 đến 6 triệu người Do Thái cùng hàng triệu nạn nhân khác trong suốt thời kỳ Holocaust.[4] Các thành viên ở mọi phân nhánh của tổ chức đều phạm tội ác chiến tranhtội ác chống lại loài người trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 45). SS còn liên quan đến các doanh nghiệp thương mại và bóc lột sức lao động của tù nhân trại tập trung, bức ép họ làm lao động khổ sai. Sau khi Đức Quốc xã bại trận, Tòa án Quân sự Quốc tế tại Nürnberg đã phán xử SS và Đảng Quốc xã là những tổ chức tội phạm. Ernst Kaltenbrunner, trưởng bộ phận chính SS cấp cao nhất còn sống, bị kết tội ác chống nhân loại tại phiên tòa Nürnberg và xử treo cổ vào năm 1946.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân[sửa | sửa mã nguồn]

Đám đông ủng hộ và quân xung kích Đảng Quốc xã tại Marienplatz ở München trong vụ đảo chính nhà hàng bia, 1923

Vào năm 1923, Đảng Quốc xã do Adolf Hitler đứng đầu đã thành lập một đơn vị bảo vệ thường trực nhỏ gọi là Saal-Schutz ("an ninh hội trường") công tác đảm bảo an ninh cho các cuộc họp đảng tại München.[5][6] Cùng năm đó, Hitler ra lệnh thành lập một đơn vị cận vệ riêng biệt nhỏ để phục vụ bản thân. Hitler mong muốn đơn vị này tách biệt với "số đông đáng ngờ" của đảng, bao gồm lực lượng bán quân sự Sturmabteilung ("Binh đoàn bão táp"; SA) mà ông không tin tưởng.[7] Đơn vị mới này được gọi là Stabswache ("bảo vệ bộ tham mưu"),[8] ban đầu có tám người với chỉ huy là Julius Schreck, Joseph Berchtold và dựa theo mô hình của một Freikorps khi đó là Marinebrigade Ehrhardt (Lữ đoàn Hải quân Ehrhardt). Stabswache đổi tên thành Stoßtrupp ("lực lượng xung kích") vào tháng 5 năm 1923.[9][10]

Sau vụ đảo chính nhà hàng bia bất thành năm 1923 mà Đảng Quốc xã đã tổ chức nhằm cướp chính quyền ở München, đội Stoßtrupp đã phải giải tán.[11] Vào năm 1925, Hitler lệnh cho Schreck lập ra một đội cận vệ mới có tên là Schutzkommando ("đội bảo vệ").[2] Đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Hitler tại các buổi họp hay sự kiện của đảng. Cùng năm đó, Schutzkommando phát triển trên quy mô cả nước và lần lượt đổi tên thành Sturmstaffel ("Sư đoàn bão táp") và cuối cùng là Schutzstaffel ("đội bảo vệ"; SS).[12] Ngày thành lập chính thức của SS là ngày 9 tháng 11 năm 1925, cũng là kỷ niệm 2 năm đảo chính nhà hàng bia.[13] Lực lượng SS mới được thành lập có nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Quốc xã trên phạm vi toàn quốc. Đơn vị SS bảo vệ cá nhân Hitler sau đó được mở rộng bao gồm cả các đơn vị chiến đấu.[14]

Các chỉ huy ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Julius Schreck là thành viên sáng lập SA và đồng thời một bạn tâm giao của Hitler, chính thức trở thành lãnh đạo SS từ tháng 3 năm 1925.[15] Ngày 15 tháng 4 năm 1926, Joseph Berchtold trở thành lãnh đạo SS thay thế Schreck. Sau khi lên nắm quyền, ông cho đổi tên chức vụ của mình thành Reichsführer-SS ("lãnh đạo Reich-SS").[16] Berchtold được đánh giá năng nổ hơn người tiền nhiệm song ngày càng nản chí do quyền lực mà SA áp đặt lên SS.[17] Điều này dẫn đển sự chuyển giao quyền lực của ông sang phụ tá của mình là Erhard Heiden vào 1 tháng 3 năm 1927.[18] Dưới thời Heiden, SS áp dụng quy tắc kỷ luật nghiêm khắc hơn so với những gì người ta vẫn thấy trong SA.[17]

Giai đoạn 1925–1929, lực lượng SS chỉ còn được coi đơn thuần là Gruppe (tiểu đoàn) của SA.[19] SS đã không thể duy trì số lượng thành viên ngoại trừ khu vực München. Thành viên của SS giảm từ 1000 xuống còn 280 do sự phát triển nhanh chóng của SA.[20] Vào tháng 9 năm 1927, Heinrich Himmler trở thành phụ tá của Heiden trong lúc Heiden đang nỗ lực để giúp SS không bị sáp nhập. Himmler bộc lộ khả năng tổ chức tốt hơn Heiden.[19] SS thành lập một số Gau (khu vực hoặc tỉnh). SS-Gaus bao gồm SS-Gau Berlin, SS-Gau Berlin Brandenburg, SS-Gau Franken, SS-Gau Niederbayern, SS-Gau Rheinland-SüdSS-Gau Sachsen.[21]

Himmler nắm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Heinrich Himmler (người đeo kính, đứng bên trái Adolf Hitler) là một trong những người đầu tiên ủng hộ Đảng Quốc xã.

Vào tháng 1 năm 1929, Himmler lên làm Reichsführer-SS với sự phê chuẩn của Hitler.[22][23] Có những lời lý giải khác nhau cho việc Heiden bị loại bỏ khỏi ghế chỉ huy. Về phía đảng, Heiden được tuyên bố là đã ra đi vì "lý do gia đình".[24] Trong thời gian Himmler lãnh đạo, SS phát triển và có chỗ đứng cao hơn. Himmler nhận định SS là một tổ chức quốc gia xã hội ưu tú, tuân thủ ý thức hệ, một "sự kết hợp của Hiệp sĩ Teuton, tu sĩ Dòng TênSamurai Nhật Bản".[25] Mục tiêu của Himmler là biến lực lượng SS thành tổ chức mạnh nhất tại Đức và phân nhánh ảnh hưởng nhất của đảng.[26] Số thành viên SS đã tăng lên 3.000 trong năm đầu Himmler lãnh đạo.[25]

Trong năm 1929, SS-Hauptamt (văn phòng chính SS) được mở rộng và tái cơ cấu thành 5 văn phòng chính gồm: cơ quan quản lý chung, tài chính, nhân sự, an ninh và các vấn đề chủng tộc. Đồng thời, SS-Gaus được mở rộng thành ba khu SS-Oberführerbereiche, với tên gọi SS-Oberführerbereiche Ost, SS-Oberführerbereiche WestSS-Oberführerbereiche Süd.[27] Các cấp độ thấp hơn phần nhiều giữ nguyên không thay đổi. Dù chính thức vẫn là 1 đơn vị trực thuộc SA và chịu trách nhiệm trước Stabschef (Tham mưu trưởng SA), nhưng cũng chính trong thời gian này, Himmler bắt đầu tách SS ra khỏi SA.[28] SS lớn mạnh nhờ sự trung thành tuyệt đối với Hitler, khác với SA được xem là bán tự do và mối đe dọa đến bá quyền của Hitler chủ yếu vì họ yêu cầu một "cuộc cách mạng thứ hai" bên cạnh lần đã đưa Đảng Quốc xã lên nắm quyền.[29] Tới cuối năm 1933, SS có 209.000 thành viên.[30] Dưới sự lãnh đạo của Himmler, SS không ngừng mở rộng thế lực khi ngày càng nhiều địa bàn và chức năng của đảng rơi vào phạm vi quyền hạn của tổ chức này. Theo thời gian, SS chỉ còn "chấp hành" mỗi mệnh lệnh từ Hitler. Đây là một quá trình phát triển điển hình của cơ cấu tổ chức ở nơi mà quy chuẩn hợp pháp bị thay thế bằng hành động tuân thủ Führerprinzip (nguyên tắc Führer) khi ý muốn của Hitler được xem là có trọng lượng hơn cả luật pháp.[31]

Mùa thu 1934, Himmler đã giám sát việc thành lập 3 SS-Junkerschule (trường Junker), là nơi các sĩ quan SS thế hệ tiếp theo được đào tạo kỹ năng lãnh đạo, truyền bá tư tưởng chính trị và các tư tưởng của Đức Quốc xã, giảng dạy quân sự. Công tác đào tạo nhấn mạnh đến tính tàn nhẫn và bền bỉ là một phần của hệ thống giá trị SS, nó giúp thúc đẩy ý nghĩ ưu việt trong những người được đào tạo và dạy họ sự tự tin.[32] Những ngôi trường đầu tiên được dựng lên tại Bad TölzBraunschweig, về sau mở rộng thêm một số cơ sở tại KlagenfurtPraha trong thời chiến.[33]

Ý thức hệ[sửa | sửa mã nguồn]

SS được xem là đơn vị ưu tú của Đảng Quốc xã.[34] Để phù hợp với chính sách chủng tộc của nhà nước Quốc Xã, ngay từ đầu tất cả ứng viên sĩ quan SS phải cung cấp bằng chứng về gốc gác Arya đến năm 1750, còn cấp bậc khác là đến năm 1800.[35] Vào thời chiến, quy định được sửa lại do việc xác định gốc gác trở nên khó hơn, thành thử một ứng viên chỉ cần chứng minh ông bà là người Arya như ghi rõ trong đạo luật Nürnberg.[36] Một yêu cầu khác mà các ứng viên SS phải tuân thủ đó chính là sự phục tùng tuyệt đối với Führer và sự cam kết trách nhiệm trước nhân dân và đất nước.[37] Himmler còn cố áp đặt tiêu chí hình thể dựa trên ngoại hình và chiều cao nhưng yêu cầu này chỉ được thực thi một cách lỏng lẻo và có trên một nửa thành viên SS không đáp ứng được.[38] Các yếu tố khích lệ như nhà rộng và mức lương cao được cung ứng cho các thành viên SS vì họ được kỳ vọng sinh nhiều con hơn gia đình Đức bình thường theo những gì mà họ đã cam kết của họ với học thuyết của Đảng Quốc xã.[39]

Hầm mộ ở Wewelsburg được Himmler sử dụng làm nơi tưởng nhớ thành viên SS qua đời.[40] Treo trên tường là các tác phẩm nghệ thuật tưởng niệm Holocaust.

Trách nhiệm với tư tưởng SS liên tục được nhấn mạnh suốt quá trình tuyển mộ và đào tạo.[41] Các thành viên tiếp thu chính sách chủng tộc của nhà nước Quốc xã và được dạy rằng những người bị chính sách đó cho là hạ đẳng cần phải được loại bỏ ra khỏi nước Đức.[42] Những nghi lễ bí truyền và việc trao tặng biểu chương và phù hiệu nhân dịp các dấu mốc trong sự nghiệp của một thành viên SS khiến họ ngày càng thấm nhuần tư tưởng Quốc xã.[43] Thành viên được kỳ vọng từ bỏ đức tin Kitô và lễ Giáng sinh bị thay bằng một lễ kỷ niệm điểm chí.[44] Himmler còn sáng chế nên một nghi lễ ngoại giáo gọi là SS Ehewein dùng để thay thế đám cưới nhà thờ.[45] Các lễ nghi giả tôn giáo này thường diễn ra gần những tượng đài dành riêng cho SS hay tại những địa điểm đặc biệt được SS chỉ định.[46] Himmler mua lâu đài WewelsburgWestfalen vào năm 1933, ban đầu dự định dùng nó làm trung tâm đào tạo của SS. Tuy nhiên về sau Wewelsburg trở thành nơi tổ chức tiệc và nghi thức tân ngoại giáo.[47]

Tư tưởng SS bao gồm áp dụng khủng bố và bạo lực làm giải pháp cho các vấn đề chính trị và quân sự.[48] SS cường điệu lòng trung thành tuyệt đối và tuân theo mệnh lệnh cho đến chết. Dựa vào đó, Hitler khai thác SS như một công cụ hữu hiệu để xúc tiến mục tiêu của đảng và bản thân. SS nhận uỷ thác chấp hành hành động hung ác, hoạt động phi pháp cùng tội ác chiến tranh. Himmler từng viết rằng một người SS "không do dự một nháy mắt, chấp hành mà không cần suy nghĩ" mọi mệnh lệnh của Führer.[49] Khẩu hiệu chính thức của họ là "Meine Ehre heißt Treue" (danh dự của tôi là lòng trung thành).[50]

Là một phần của các nhiệm vụ liên quan tới vấn đề chủng tộc trong chiến tranh thế giới thứ hai, SS giám sát hoạt động cách ly và chuyển dời người Do Thái khỏi nhóm dân cư trên các lãnh thổ bị chinh phạt, chiếm hữu tài sản và đày ải họ đến các trại tập trungghetto – nơi họ làm lao động khổ sai hoặc bị giết ngay lập tức.[36] Được chọn để thực hiện Endlösung (giải pháp cuối cùng), SS được xem là thủ phạm số một chịu trách nhiệm về việc giết hại và diệt chủng từ 15 tới 20 triệu người trong Holocaust, bao gồm khoảng 5,2[51] đến 6 triệu[4] người Do Thái và 10,5 triệu người Slav.[51] Một số lượng nạn nhân đáng kể là người thuộc những nhóm sắc tộc khác như 258.000 người Di-gan.[51] Ngoài ra, SS tham gia giết hại, loại trừ những thành phần bao gồm người tâm thần, tàn tật, đồng tính, bất đồng chính kiến vốn được xem là mối đe dọa đến tính ưu việt của chủng tộc Arya hay ý thức hệ của đảng. Thành viên của các tổ chức công đoàn và những người được coi là có liên kết với các nhóm phản động (tôn giáo, chính trị, xã hội…), hoặc những người bị xem là không phù hợp với mục tiêu của Đảng Quốc xã đã bị vây bắt số lượng lớn; những người này gồm giáo sĩ thuộc mọi tôn giáo, tín đồ Nhân chứng Jehovah, hội viên Hội Tam Điểm, người Cộng sản và thành viên Rotary Club.[52] Theo phán quyết đưa ra tại tòa án Nürnberg cùng nhiều phiên điều tra và xét xử tiến hành sau đó, đa phần tội ác chiến tranh của Đức Quốc xã là do SS gây ra. Đặc biệt SS cũng là tổ chức chủ đạo thực hiện Holocaust.[53]

Nước Đức thời tiền chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Reinhard Heydrich (phải) protégé[b] của Himmler và nhân vật SS hàng đầu đến khi bị ám sát năm 1942

Sau khi Hitler và Đảng Quốc xã lên cầm quyền vào ngày 30 tháng 1 năm 1933, SS được xem là tổ chức nhà nước và ban ngành chính phủ.[54] Việc chấp pháp dần đi vào phạm vi chức quyền của SS, nhiều tổ chức SS thực tế đã trở thành cơ quan chính phủ.[55]

SS thiết lập một nhà nước cảnh sát, sử dụng lực lượng an ninh và cảnh sát mật do Himmler quản lý để đàn áp mọi hành vi chống đối Hitler.[56] Năm 1933, Hermann Göring trong vai Thủ tướng Phổ đã lập ra lực lượng cảnh sát mật Phổ là Geheime Staatspolizei, viết tắt Gestapo, và bổ nhiệm Rudolf Diels làm chỉ huy. Vì lo ngại Diels không đủ tàn nhẫn để vận hành Gestapo để triệt tiêu thế lực của SA một cách hiệu quả, Göring đã giao nó cho Himmler kiểm soát vào ngày 20 tháng 4 năm 1934.[57] Cũng trong ngày hôm đó, Hitler bổ nhiệm Himmler làm trưởng cục cảnh sát mọi lực lượng cảnh sát trên lãnh thổ Đức bên ngoài nước Phổ, khác với thông lệ lâu đời của Đức rằng chấp pháp là vấn đề địa phương và của từng nước trực thuộc. Himmler chỉ định phụ tá và protégé[b] Reinhard Heydrich làm thủ lĩnh Gestapo vào ngày 22 tháng 4 năm 1934. Heydrich đồng thời vẫn là chỉ huy của Sicherheitsdienst (SD; sở an ninh).[58]

Himmler tiếp quản Gestapo là tiền đề cho Nacht der langen Messer (đêm của những con dao dài), vụ bắt giữ và hành hình số đông lãnh đạo SA mà chủ yếu do SS và Gestapo thực hiện.[59] Vào ngày 20 tháng 7 năm 1934, Hitler tách SS ra khỏi SA khi mà SA đã không còn là một thế lực sau cuộc thanh trừng. SS trở thành một đội quân ưu tú độc lập của Đảng Quốc xã, chỉ tuân theo mệnh lệnh của Hitler. Quân hàm Reichsführer-SS của Himmler giờ đây trở thành cấp bậc thực tế của ông, đồng thời là cấp bậc cao nhất trong SS, tương đương với cấp bậc thống chế trong quân đội (cấp bậc trước đây của ông là Obergruppenführer).[60] Khi địa vị và quyền hạn của Himmler ngày càng tăng, thì cấp bậc của ông cũng tăng theo.[61]

Vào ngày 17 tháng 6 năm 1936, toàn bộ lực lượng cảnh sát ở Đức thống nhất dưới sự cai quản của Himmler và SS.[55] Vì lẽ đó Himmler và Heydrich trở thành hai nhân vật quyền lực nhất trong chính quyền Quốc xã.[62] Lực lượng cảnh sát và tình báo do họ kiểm soát hành chính bao gồm SD, Gestapo, Kriminalpolizei (Kripo; cảnh sát điều tra tội phạm), và Ordnungspolizei (Orpo; cảnh sát mặc đồng phục thông thường).[63] Trên cương vị là chánh cảnh sát, Himmler trên danh nghĩa là cấp dưới của Bộ trưởng Nội vụ Wilhelm Frick. Tuy vậy, do SS chỉ tuân thủ mệnh lệnh của Hitler nên sự hợp nhất trên thực tế giữa SS và cảnh sát khiến lực lượng cảnh sát không nằm trong phạm vi kiểm soát của Frick.[54][64] Vào tháng 9 năm 1939, các cơ quan an ninh và cảnh sát, bao gồm Sicherheitspolizei (SiPo; cảnh sát an ninh) và SD (nhưng không phải Orpo) hợp nhất thành Reichssicherheitshauptamt (RSHA, Cơ quan an ninh trung ương) do Heydrich đứng đầu.[65] Chính điều này đã góp phần làm tăng sức mạnh tập thể của SS.[66]

Trong Kristallnacht (9–10 tháng 11 năm 1938), các bộ phận an ninh SS như Gestapo, SD, Kripo, SiPo và lực lượng cảnh sát chính quy đã đã bí mật phối hợp để đảm bảo trong lúc giáo đường và những trung tâm hội họp của người Do Thái bị phá hủy, nhưng nhà ở và các cơ sở kinh doanh của họ vẫn nguyên vẹn để sung công.[67] Kết quả là hàng nghìn cơ sở kinh doanh, nhà cửa và nghĩa địa Do Thái bị phá hoại và cướp bóc, chủ yếu bởi các thành viên SA, cùng tầm 500 đến 1.000 giáo đường bị đốt phá.[68] Vào ngày 11 tháng 11, Heydrich báo cáo có 36 người chết nhưng những ước định sau này quy số người thiệt mạng là 2.000.[69][70] Theo lệnh của Hitler, khoảng 30.000 người Do Thái đã bị bắt và đưa đến các trại tập trung vào ngày 16 tháng 11.[71] Có tới 2.500 người trong số này đã không còn sống sót trong những tháng tiếp đó.[69] Chính tại thời điểm này, nhà nước SS đã khởi động gắt gao chiến dịch khủng bố nhằm vào các đối thủ chính trị và tôn giáo, bỏ tù bất kỳ ai bị nghi ngờ không thông qua xét xử hay giám sát tư pháp vì mục đích "an ninh, cải tạo hoặc phòng ngừa".[72][73]

Tháng 9 năm 1939, uy quyền của SS mở rộng hơn nữa khi sĩ quan SS cao cấp nhất ở mỗi quân khu cũng trở thành chánh cảnh sát quân khu đó.[74] Hầu hết các chỉ huy SS và cảnh sát này đều đeo hàm từ SS-Gruppenführer trở lên và chịu trách nhiệm trực tiếp với Himmler mọi vấn đề trên địa bàn mình phụ trách.[75] Vai trò của họ là cảnh giới dân chúng, giám sát hoạt động của SS viên trong khu vực. Bằng cách ban bố tình trạng khẩn cấp, họ có thể bỏ qua các cơ quan hành chính địa phương và nắm quyền quản lý trực tiếp hoạt động của SS, SD, SiPo, SS-Totenkopfverbände (SS-TV; lính gác trại tập trung) và Orpo.[76]

Vệ sĩ riêng của Hitler[sửa | sửa mã nguồn]

Xét duyệt binh sĩ Leibstandarte Adolf Hitler tại Berlin, 1938

Quy mô và tầm quan trọng của ba nhóm SS chính bảo vệ Hitler ngày càng tăng.[77] Vào năm 1933, đội vệ sĩ riêng đông đảo của Hitler (trước là SS-Standarte số 1) được triệu tập đến Berlin để thay đội Lực lượng Vệ binh Phủ Thủ tướng Đức.[78] Sepp Dietrich chỉ huy đơn vị mới gọi là SS-Sonderkommando Berlin đổi tên từ SS-Stabswache Berlin. Tháng 11 cùng năm, đơn vị đổi tên thành Leibstandarte Adolf Hitler. Đến tháng 4 năm 1934 Himmler sửa lại thành Leibstandarte SS Adolf Hitler, viết tắt là LSSAH. LSSAH đảm nhận canh gác nơi ở và văn phòng của Hitler, tạo ra một vòng bảo vệ bên ngoài cho Führer và khách.[79] Họ còn lập các chốt gác trên các lối vào Phủ Thủ tướng cũ và mới.[80] Số lính gác LSSAH tăng lên vào mỗi dịp đặc biệt.[81] Tại dinh thự Berghof của Hitler ở Obersalzberg, có một nhóm LSSAH đông đảo đảm nhận tuần tra một khu vực an ninh rộng lớn.[82]

Kể từ năm 1941 trở đi, Leibstandarte được phân làm bốn bộ phận riêng biệt: sư đoàn Waffen-SS (không tham gia bảo vệ Hitler mà là đội hình trực thuộc Waffen-SS), nhóm canh giữ phủ thủ tướng Berlin, trung đoàn an ninh SS được giao đến Obersalzberg và một nhóm vệ sĩ đặt trụ sở tại München giữ trọng trách bảo vệ Hitler mỗi khi ông đến căn hộ riêng và sở chỉ huy Nhà Nâu (Braunes Haus).[83][84] Tuy danh nghĩa là dưới quyền Himmler nhưng Dietrich mới là chỉ huy thực sự và là người điều hành công việc hàng ngày.[85]

Hai đơn vị SS còn lại tạo nên vòng bảo vệ bên trong của Hitler. SS-Begleitkommando des Führers thành lập tháng 2 năm 1932, gồm tám người luân phiên túc trực theo ca suốt ngày đêm, là nhóm hộ tống Hitler khi di chuyển.[86] SS-Begleitkommando về sau phát triển thành Führerbegleitkommando (FBK), vẫn nhận lệnh riêng và bảo vệ Hitler.[87] Führer Schutzkommando (FSK) là đội cận vệ do Himmler lập vào tháng 3 năm 1933,[88] ban đầu chỉ phụ trách bảo vệ Hitler ở trong địa phận Bayern nhưng đến đầu năm 1934 thì thay thế SS-Begleitkommando để bảo vệ Hitler trên phạm vi toàn quốc.[89] Tháng 8 năm 1935, FSK đổi tên thành Reichssicherheitsdienst (RSD).[90] Johann Rattenhuber, giám đốc RSD, gần như chỉ nhận lệnh trực tiếp từ Hitler.[90] Trong khi đó, giám đốc FBK hiện tại chỉ đóng vai trò phụ tá của Rattenhuber. Các thành viên RSD và FBK có mặt tại bất kỳ nơi nào Hitler cư trú. Người của RSD đảm nhiệm công việc tuần tra xung quanh còn FBK thì bảo vệ an ninh chặt chẽ bên trong. Vào mỗi chuyến đi hay sự kiện công cộng, người RSD và FBK phối hợp để đảm bảo an ninh và bảo vệ cá nhân Hitler nhưng vẫn đi theo hai nhóm và sử dụng xe riêng.[91] Đến tháng 3 năm 1938, cả hai đều mặc đồng phục xám ngả lục tiêu chuẩn của SS.[92] Đồng phục của RSD có nút hình thoi với chữ SD ở nửa dưới ống tay áo bên trái.[93]

Thành lập trại tập trung[sửa | sửa mã nguồn]

Lò thiêu tại trại tập trung Dachau, tháng 5 năm 1945 (ảnh chụp sau giải phóng)

SS có liên hệ chặt chẽ với hệ thống trại tập trung của Đức Quốc xã. Vào ngày 26 tháng 6 năm 1933, Himmler bổ nhiệm SS-Oberführer Theodor Eicke làm chỉ huy một trong những trại tập trung đầu tiên tại Đức là Dachau.[94] Trại này ra đời nhằm hợp nhất nhiều trại nhỏ từng được Đảng Quốc xã và nhiều cơ quan cảnh sát dựng lên để giam cầm tù nhân chính trị.[95] Cơ cấu tổ chức Eicke áp dụng tại Dachau đã trở thành hình mẫu cho tất cả trại tập trung sau này.[96] Sau năm 1934, Eicke được chỉ định là chỉ huy của SS-Totenkopfverbände (SS-TV), đội hình SS phụ trách điều hành các trại tập trung do SS và Himmler quản lý.[97] Được biết đến với cái tên "Đơn vị Đầu lâu", SS-TV ban đầu được tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn đóng tại một trong những trại tập trung lớn của Đức. Tổ lãnh đạo tại các trại được chia làm gồm năm bộ phận: chỉ huy và phụ tá, nhóm làm công việc chính trị, giam giữ bảo vệ, quản lý, và nhân viên y tế.[98] Đến năm 1935, Himmler có được sự phê chuẩn của Hitler và tài chính cần thiết để xây dựng và vận hành các trại bổ sung.[99] Sáu trại tập trung[c] giam giữ 21.400 tù nhân (chủ yếu là tù nhân chính trị) tồn tại khi chiến tranh bắt đầu vào tháng 9 năm 1939.[101] Khi chiến tranh kết trúc, hàng trăm trại với quy mô và chức năng khác nhau đã mọc lên, chứa gần 715.000 người mà hầu hết bị chính quyền Đức Quốc xã nhằm vào chỉ vì chủng tộc của họ.[102][103] Nhân khẩu các trại tập trung tăng lên song song với những thất bại mà Đức Quốc xã phải hứng chịu; tình hình ngày càng tồi tệ đồng nghĩa với nỗi sợ bị lật đổ càng lớn. Điều này đã thúc đẩy SS tăng cường đàn áp và khủng bố tù nhân.[104]

SS trong chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời điểm chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, SS đã phát triển thành diện mạo cuối cùng, bao gồm ba tổ chức chính là Allgemeine SS, SS-Totenkopfverbände và Waffen-SS. Trong đó, lực lượng vũ trang SS đã được thành lập vào năm 1934 dưới cái tên SS-Verfügungstruppe (SS-VT), đến năm 1940 thì đổi tên thành Waffen-SS.[105][106] Trong quá trình của cuộc chiến, Waffen-SS đã phát triển thành đội quân thứ hai của Đức, hoạt động song song cùng Wehrmacht, đặc biệt là với Heer (lục quân Đức).[107] Tuy nhiên, đơn vị này chưa từng được hoàn toàn độc lập tác chiến hay là "địch thủ đáng gờm" của quân đội Đức. Thành viên của SS không thể gia nhập hàng ngũ Bộ Tư lệnh Tối cao Đức và SS buộc phải phụ thuộc vào quân đội để trang bị những loại vũ khí hạng nặng.[108] Dù cấp hàm SS nhìn chung có sự tương đương với những binh chủng khác nhưng hệ thống quân hàm của SS không sao chép những cái tên và cấp bậc được sử dụng trong các nhánh của Wehrmacht. Thay vào đó, cấp hàm của SS được phỏng theo hệ thống do Freikorps và SA thiết lập sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều này chủ yếu được thực hiện nhằm nhấn mạnh rằng SS độc lập với Wehrmacht.[109]

Cuộc xâm lược Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Sicherheitsdienst (SD) và cảnh sát bắt người Do Thái Ba Lan, tháng 9 năm 1939

Trong cuộc xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, hai lực lượng LSSAH và SS-VT tham chiến trong vai các trung đoàn bộ binh cơ động riêng biệt.[110] LSSAH trở nên khét tiếng với các vụ đốt phá làng mạc mà không có bất kỳ lý do quân sự chính đáng nào.[111] Thành viên LSSAH ra tay tàn độc tại nhiều thành thị, bao gồm sát hại 50 người Do Thái Ba Lan ở Błonie, dùng súng máy bắn chết 200 người (bao gồm cả trẻ em) ở Złoczew. Các vụ nổ súng còn tiếp diễn Bolesławiec, Torzeniec, Goworowo, Mława, và Włocławek.[112] Một số thành viên cấp cao của Wehrmacht không tin các đơn vị này được chuẩn bị đầy đủ cho chiến đấu. Các đơn vị này thường chấp nhận rủi ro không cần thiết và có tỷ lệ thương vong cao hơn quân đội.[113] Generaloberst Fedor von Bock phê phán điều này khá gay gắt. Sau chuyến thăm sư đoàn SS-Totenkopf vào tháng 4 năm 1940, ông phát hiện họ chưa được đào tạo bài bản, "chưa đủ" cho việc tác chiến trên chiến trường.[114] Về phía Hitler, ông cho rằng lời chỉ trích này đơn thuần chỉ là một chứng minh điển hình của "quan niệm tinh thần thượng võ cổ hủ".[115] Trong động thái bào chữa, SS nhấn mạnh rằng các nhóm vũ trang của họ bị cản trở bởi việc phải chiến đấu tách rời và không được quân đội trang bị phù hợp.[113]

Sau khi cuộc xâm lược Ba Lan kết thúc, Hitler giao cho SS thực hiện các hành động trừ khử có mật danh là Chiến dịch TannenbergAB-Aktion nhằm loại bỏ các thủ lĩnh tiềm tàng có thể gây dựng phong trào kháng chiến chống quân Đức chiếm đóng. Các vụ giết người được Einsatzgruppen (lực lượng đặc nhiệm; các nhóm triển khai) thực hiện và được hỗ trợ bởi các nhóm bán quân sự địa phương. Nhân lực của Einsatzgruppen vốn đa phần lấy từ thành viên của SS, SD và lực lượng cảnh sát.[116] Đến hết năm 1939 đã có khoảng 65.000 công dân Ba Lan bị giết, bao gồm các nhà hoạt động, trí thức, học giả, giáo viên, diễn viên, cựu sĩ quan cùng những người khác.[117][118] Khi ban lãnh đạo quân đội bày tỏ phàn nàn về sự tàn bạo của Einsatzgruppen, Reinhard Heydrich đáp lại rằng mình chỉ đang hành động "theo mệnh lệnh đặc biệt của Führer".[119] Vụ xử bắn hàng loạt người Do Thái có hệ thống đầu tiên mà Einsatzgruppen thực hiện diễn ra vào ngày 6 tháng 9 năm 1939 khi quân Đức tấn công Kraków.[120]

Einsatzgruppen xử bắn thường dân ở Kórnik, 1939

Hài lòng với màn thể hiện của SS ở Ba Lan, Hitler cho phép mở rộng thêm các đơn vị SS vũ trang khác, nhưng ông khẳng định các đơn vị mới vẫn phải chịu sự quản lý của quân đội.[121] Trong khi SS-Leibstandarte duy trì là trung đoàn độc lập hoạt động như đội vệ sĩ riêng của Hitler thì các trung đoàn khác như SS-Deutschland, SS-GermaniaSS-Der Führer đã kết hợp thành SS-Verfügungs-Division.[122][113] Sư đoàn SS thứ hai, SS-Totenkopf, được cấu thành từ các lính canh trại tập trung của SS-TV. Còn sư đoàn SS thứ ba, SS-Polizei, được thành lập từ các tình nguyện viên cảnh sát.[123][124] Vào thời điểm này, SS đã dành quyền quản lý công tác tuyển mộ, hậu cần, và hệ thống cung ứng cho các đội hình vũ trang của mình.[124] SS, Gestapo và SD phụ trách cơ quan hành chính quân sự lâm thời ở Ba Lan cho đến khi Hans Frank được bổ nhiệm làm Toàn quyền vào ngày 26 tháng 10 năm 1939.[125][126]

Trận chiến nước Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 10 tháng 5 năm 1940, Hitler phát động tấn công Pháp và các nước thuộc vùng đất thấp, mở màn trận chiến nước Pháp.[127] SS tham gia tiếp tế 2 trong số 89 sư đoàn tham chiến.[128] Lực lượng LSSAH và các đơn vị thuộc SS-VT tham gia cuộc xâm lược trên bộ trong trận Hà Lan.[129] Nhiều lính dù đồng thời được thả để chiếm những sân bay, cây cầu, và cung đường sắt trọng yếu của Hà Lan. Trong năm ngày chiến dịch, LSSAH hội ngộ với các đơn vị lục quân và lính dù sau một số phen đụng độ với quân phòng thủ Hà Lan.[129]

Himmler kiểm tra chiếc Sturmgeschütz III thuộc Sư đoàn Panzer SS số 1 Leibstandarte SS Adolf Hitler tại Metz, Pháp, tháng 9 năm 1940

Lính SS không tham gia cuộc tấn công xuyên qua rừng Ardennessông Meuse.[129] Thay vào đó, SS-Totenkopf được triệu tập từ nhóm dự bị để trợ chiến Sư đoàn Panzer số 7 của Generalmajor Erwin Rommel đang tiến về phía eo biển Manche.[130] Vào ngày 21 tháng 5, quân Anh sử dụng thiết giáp mở một cuộc phản công nhằm vào hai bên sườn của Sư đoàn Panzer số 7 và SS-Totenkopf. Quân Đức sau đó bẫy quân Anh và Pháp trong một vòng vây khổng lồ ở Dunkerque.[131] Vào ngày 27 tháng 5, Đại đội 4, SS-Totenkopf đã gây ra vụ thảm sát Le Paradis, nơi 97 người thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Hoàng gia Norfolk đã bị sát hại bằng súng máy sau khi đầu hàng, những người sống sót bị giết bằng lưỡi lê. Trong số những lính Anh, chỉ có duy nhất 2 người sống sót.[132] Vào ngày 28 tháng 5, SS-Leibstandarte chiếm được Wormhout nằm cách Dunkerque 10 kilômét (6,2 dặm). Tại đây các binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 2 đã giết chết 80 lính Anh và Pháp sau khi họ đầu hàng, gây ra cuộc thảm sát Wormhoudt.[133] Theo nhà sử học Charles Sydnor, "sự liều lĩnh cuồng tín trong tấn công, quyết tử phòng thủ chống lại kẻ thù và tàn ác man rợ với những mục tiêu yếu đuối" mà sư đoàn SS-Totenkopf biểu lộ trong cuộc xâm lược là nét đặc trưng của toàn thể binh sĩ SS.[134]

Vào thời điểm chiến dịch đi vào hồi kết, Hitler đã bày tỏ sự hài lòng đối với màn thể hiện của SS-Leibstandarte. Ông nói với họ rằng "kể từ nay về sau, các bạn, đội quân mang tên tôi, sẽ vinh dự dẫn đầu mọi cuộc tấn công của quân Đức".[135] SS-VT được đổi tên thành Waffen-SS trong một bài phát biểu của Hitler vào tháng 7 năm 1940.[106] Hitler sau đó cho phép tuyển mộ "những người được cho là có dòng dõi liên quan", như Himmler đã nói, nhằm nới rộng hàng ngũ.[136] Nhiều người Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan tình nguyện gia nhập Waffen-SS chiến đấu dưới sự chỉ huy của sĩ quan Đức.[137] Họ được tập hợp để lập ra sư đoàn mới mang tên SS-Wiking.[136] Sư đoàn SS-Verfügungs đổi tên thành SS-Reich (sư đoàn cơ giới) vào tháng 1 năm 1941 rồi Sư đoàn Panzer SS số 2 Das Reich khi được tái cơ cấu làm một sư đoàn Panzergrenadier năm 1942.[138]

Chiến dịch ở Balkan[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 1941, quân Đức xâm lược Nam TưHy Lạp. LSSAH và Das Reich lần lượt tham gia các quân đoàn Panzer riêng biệt của lục quân. Một đại đội trưởng thuộc Das ReichFritz Klingenberg dẫn quân của mình băng qua Nam Tư đến thủ đô Beograd. Tại đây, một nhóm nhỏ trong đội tiên phong tiếp nhận sự đầu hàng của thành phố vào ngày 13 tháng 4. Vài ngày sau, toàn bộ Nam Tư đầu hàng.[139][140] Các đơn vị cảnh sát SS ngay lập tức bắt đầu bắt giữ con tin và thực hiện các hành động trả thù, một thực tiễn đã trở nên phổ biến. Trong một số trường hợp, Wehrmacht cũng tham gia vào các cuộc trừ khử do SS thực hiện.[141] Tương tự như Ba Lan, chính sách của Đức Quốc xã ở Balkan dẫn đến sự chiếm đóng tàn bạo và những cuộc tàn sát mang đậm màu sắc phân biệt chủng tộc. Serbia trở thành quốc gia thứ hai (sau Estonia) tuyên bố Judenfrei (không có người Do Thái).[142]

Ở Hy Lạp, Wehrmacht và Waffen-SS vấp phải sự phản kháng từ Lực lượng Viễn chinh Anh (BEF) và quân đội Hy Lạp.[143] Cuộc chiến thêm phần khốc liệt bởi địa hình núi với những con đèo hẹp được phòng thủ nghiêm ngặt. LSSAH là lực lượng tiên phong dẫn đầu cuộc tấn công của quân Đức.[144] BEF di tản bằng đường biển đến đảo Crete, nhưng phải tháo chạy một lần nữa vào cuối tháng 5 khi quân Đức đến.[145] Cũng như Nam Tư, cuộc xâm lược Hy Lạp của Đức mang hiểm nguy đến cho người Do Thái nơi đây vì Đức Quốc xã đã ngay lập tức tiến hành nhiều biện pháp chống lại họ.[146] Ban đầu bị giam giữ trong các khu ghetto, người Do Thái hầu hết được chuyển đến trại tập trung Auschwitz vào tháng 3 năm 1943 rồi bị giết trong những phòng hơi ngạt khi đến nơi. Chỉ 20% trong số 80.000 người Do Thái Hy Lạp sống sót qua chiến tranh.[147]

Mặt trận phía đông[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 22 tháng 6 năm 1941, Hitler phát động chiến dịch Barbarossa xâm lược Liên Xô.[148] Chiến tranh lan rộng và nhu cầu quản lý lãnh thổ chiếm đóng tạo điều kiện cho Himmler củng cố thêm các bộ phận quân sự và cảnh sát của SS.[149] Việc quân Đức nhanh chóng giành được những lãnh thổ rộng lớn ở phía đông gây nên khó khăn đáng kể cho các tổ chức cảnh sát SS khi mà họ phải vật lộn để thích nghi với những thách thức an ninh đang thay đổi.[150]

Lữ đoàn bộ binh SS số 1 và số 2, được thành lập từ lính canh trại tập trung dư thừa thuộc SS-TV và Lữ đoàn Kỵ binh SS tiến vào Liên Xô theo sau quân đội. Ban đầu họ giao chiến với kháng quân Liên Xô nhưng đến mùa thu năm 1941 đã giao vai trò này lại cho những đơn vị khác và tích cực tham gia Holocaust. Trong khi hỗ trợ lực lượng Einsatzgruppen, họ lập ra những tổ nã súng tham gia thủ tiêu nhóm dân Do Thái của Liên Xô.[151][152]

Vào ngày 31 tháng 7 năm 1941, Göring trao giấy ủy quyền cho Heydrich nhằm đảm bảo lãnh đạo hành chính của các phòng ban chính phủ khác nhau hợp tác để tiến hành diệt chủng người Do Thái ở những lãnh thổ Đức kiểm soát.[153] Heydrich được sử dụng làm công cụ thực thi những cuộc thảm sát này, vì Gestapo đã sẵn sàng tổ chức các cuộc trục xuất người Do Thái ở phương Tây trong khi Einsatzgruppen của ông ta tiến hành các hoạt động giết người trên diện rộng ở phía đông.[154] Vào ngày 20 tháng 1 năm 1942, Heydrich chủ trì một cuộc họp gọi là hội nghị Wannsee nhằm bàn luận cách thực thi kế hoạch.[155]

Waffen-SS hứng chịu thương vong nặng nề trong các trận đánh ở Liên Xô những năm 1941 và 1942. LSSAH và Das Reich mất hơn nửa quân số do giao tranh và bệnh tật.[156] Vì nhu cầu nhân lực, Himmler chấp nhận những binh sĩ không đáp ứng được yêu cầu chủng tộc của SS ban đầu.[157] Vào đầu năm 1942, SS-Leibstandarte, SS-Totenkopf, và SS-Das Reich được rút về phía Tây để tái trang bị và chuyển đổi thành các sư đoàn Panzergrenadier.[158] Quân đoàn SS-Panzer trở lại Liên Xô vào năm 1943 và tham gia Trận Kharkov lần thứ ba vào tháng 2 và tháng 3.[159]

Holocaust[sửa | sửa mã nguồn]

Einsatzgruppen sát hại người Do Thái tại Ivanhorod, Ukraina, 1942

SS được xây dựng dựa trên nền tảng bạo lực, thể hiện qua hình thái cùng cực nhất bằng việc giết hại hàng loạt dân thường và tù nhân chiến tranh ở Mặt trận phía Đông.[160] Einsatzgruppen tiếp nhận thêm nhân sự từ Kripo, Orpo (cảnh sát trật tự), Waffen-SS và đạt tổng binh lực là 3.000 người.[161] Einsatzgruppen A, B và C lần lượt tham gia các Cụm tập đoàn quân Bắc, Trung tâmNam trong khi Einsatzgruppe D thuộc biên chế của Tập đoàn quân số 11. Einsatzgruppe dành cho Mục đích Đặc biệt hoạt động ở miền đông Ba Lan bắt đầu từ tháng 7 năm 1941.[162] Sử gia Richard Rhodes mô tả họ "ở ngoài ranh giới đạo đức", là "thẩm phán, bồi thẩm, và đao phủ tất cả trong một" với quyền giết bất kỳ ai tùy ý.[163] Sau Chiến dịch Barbarossa, các đơn vị Einsatzgruppen này cùng với Waffen-SS và Cảnh sát Trật tự đã tham gia giết hại hàng loạt người Do Thái ở miền đông Ba Lan và tại các vùng đất Liên Xô bị chiếm đóng.[163][164][165] Quy mô hoạt động của Einsatzgruppen đạt đỉnh vào năm 1941 và 1942 ở Ukraina và Nga.[166] Trước cuộc xâm lược, khắp cõi Liên Xô có hơn năm triệu người Do Thái đăng ký, ba triệu sống ở những lãnh thổ bị quân Đức chiếm đóng. Khi chiến tranh kết thúc, hơn hai triệu người trong số này đã bị sát hại.[167]

Các hành động giết chóc của Einsatzgruppen thường tuân theo một quy trình tiêu chuẩn. Một chỉ huy Einsatzgruppen sẽ liên lạc với tư lệnh đơn vị Wehrmacht gần nhất để thông báo về hành động sắp tới, điều này khiến họ có thể phối hợp kiểm soát mọi sự tiếp cận khu vực hành quyết.[168] Ban đầu, các nạn nhân bị hành quyết bằng cách xử bắn, nhưng phương pháp này tỏ ra không khả thi đối với một chiến dịch quy mô tầm cỡ.[169] Thêm nữa, sau khi quan sát thấy 100 người Do Thái bị bắn tại Minsk vào tháng 8 năm 1941, Himmler trở nên lo ngại về tác động của việc làm này đến tinh thần của lính SS. Ông quyết định rằng cần phải tìm các phương pháp giết người thay thế, dẫn tới sự ra đời của các xe hơi ngạt.[170][171] Tuy nhiên, phương pháp này không được ưa chuộng bởi việc chuyển xác chết ra khỏi xe rồi mang đi chôn là một thử thách khủng khiếp đối với những người lính. Tù nhân hoặc người phụ giúp thường được chỉ định làm nhiệm vụ này để tránh binh lính SS bị sang chấn tâm lý.[172]

Tiêu diệt quân kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Để giải quyết những khó khăn mà kháng quân Liên Xô gây ra cho quân đội, Hitler quyết định chuyển giao hoạt động chống quân kháng chiến cho phía cảnh sát xử lý vào tháng 7 năm 1942. Vấn đề này vì vậy lọt vào phạm vi phụ trách của Himmler.[173][174] Vào ngày 8 tháng 7 năm 1941, khi Hitler ra lệnh rằng tất cả người Do Thái đều là quân kháng chiến thì cụm từ "chiến dịch chống kháng quân" được dùng làm uyển ngữ ám chỉ tàn sát người Do Thái và đấu tranh tiêu diệt những phần tử kháng chiến.[175][176] Tháng 7 năm 1942 Himmler chỉ thị dùng từ "kẻ cướp" thay thế "kháng quân" để mô tả những kẻ chống đối sự cai trị của Đức Quốc xã.[177]

Himmler chỉ định SS và SD bắt tay phát triển thêm các sách lược chống kháng quân và mở một chiến dịch tuyên truyền.[178] Tháng 6 năm 1943, Himmler ban hành lệnh Bandenbekämpfung (đánh cướp) và thông báo sự tồn tại của Bandenkampfverbände (các đội đánh cướp) với thủ lĩnh là Obergruppenführer Erich von dem Bach-Zelewski. Bandenkampfverbände chủ yếu tuyển mộ nhân sự từ cảnh sát SS và Waffen-SS, gồm bốn bộ phận chính: truyên truyền, quản lý tập trung và điều phối các hoạt động an ninh, huấn luyện quân đội và hoạt động chiến đấu.[179] Khi Wehrmacht bảo đảm các mục tiêu lãnh thổ, Bandenkampfverbände đầu tiên tiếp quản cơ sở liên lạc, đường bộ, đường sắt, đường thủy rồi đến nhóm dân nông thôn, tòa nhà hành chính và cơ sở kinh tế như nhà máy. Một ưu tiên khác là đảm bảo các nguồn tài nguyên nông nghiệp và lâm nghiệp. SS giám sát việc thu hoạch vụ mùa, điều được cho là rất quan trọng đối với hoạt động chiến lược.[180] Bất kỳ người Do Thái nào sống trong khu vực đều bị vây bắt và sát hại. Những người cộng sản và những người gốc Á bị giết một cách đoán chừng vì giả định rằng họ là mật vụ Liên Xô.[181]

Trại tử thần[sửa | sửa mã nguồn]

Người Do Thái từ Zakarpattia bị đưa đến trại tập trung Auschwitz, 1944

Sau khi chiến tranh bùng nổ, Himmler đã đẩy mạnh hoạt động của SS ở Đức và ở các vùng lãnh thổ châu Âu do Đức Quốc xã chiếm đóng. Số lượng người Do Thái, công dân Đức bị tình nghi về chính trị, hay người ngoài xã hội, bị bắt ngày một đông.[182] Khi chế độ Quốc xã trở nên áp chế hơn, hệ thống trại tập trung ngày càng phát triển về kích thước và hoạt động giết người đồng thời quy mô ngày càng lớn khi tham vọng kinh tế của SS gia tăng.[183]

Cường độ tàn sát trở nên ác liệt hơn vào cuối năm 1941 khi SS bắt đầu xây dựng những cơ sở hơi ngạt để thay thế Einsatzgruppen trong các hoạt động giết người hàng loạt.[184][185] Nạn nhân của trại hành quyết bị giết bằng khí cacbon monoxit thải từ động cơ xe hơi.[186] Trong chiến dịch Reinhard do người của Totenkopfverbände điều hành, có ba trại hành quyết được xây ở Ba Lan chiếm đóng: Bełżec (hoạt động vào tháng 3 năm 1942), Sobibór (hoạt động vào tháng 5 năm 1942) và Treblinka (hoạt động vào tháng 7 năm 1942).[187] Các sĩ quan này tuyên thệ giữ bí mật, cùng với các đội Trawnikimänner (cộng tác viên người Đông Âu) giám sát hàng trăm tù nhân Sonderkommando,[d] những người bị bắt làm việc ở phòng hơi ngạt và lò thiêu trước khi chính họ cũng bị giết.[188] Theo lệnh của Himmler, trại tập trung tại Auschwitz đã được mở rộng quy mô lớn vào đầu năm 1942 để xây thêm những phòng hơi ngạt mà tại đó thuốc trừ sâu Zyklon B được dùng để giết nạn nhân.[189][190]

Vì lý do hành chính, tất cả lính canh trại tập trung và nhân viên hành chính đều trở thành thành viên chính thức của Waffen-SS vào năm 1942. Các trại tập trung được đặt dưới quyền chỉ huy của SS-Wirtschafts-Verwaltungshauptamt (Văn phòng hành chính và kinh tế chính SS; WVHA) do Oswald Pohl đứng đầu.[191] Richard Glücks từng là Thanh tra Trại tập trung, năm 1942 trở thành văn phòng "D" trực thuộc WVHA.[192][193] Bóc lột và hành quyết được suy xét khi tình hình quân sự xấu đi. Vì nhu cầu lao động của nền kinh tế chiến tranh, đặc biệt là lao động có tay nghề cao, nên một số người Do Thái đã may mắn thoát khỏi nạn diệt chủng.[194] Vào ngày 30 tháng 10 năm 1942, tình trạng thiếu hụt nhân công trầm trọng khiến Himmler ra lệnh bắt nhiều người khỏe mạnh từ các vùng lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng đưa sang Đức làm lao động khổ sai.[195]

Tới năm 1944, SS-TV đã được tổ chức thành ba bộ phận: cán bộ trại tập trung ở Đức và Áo, cán bộ trại tập trung ở lãnh thổ chiếm đóng, và cán bộ trại hành quyết ở Ba Lan. Việc thay người ở các trại đã trở thành thông lệ tiêu chuẩn, một phần dựa trên nhu cầu nhân sự nhưng cũng là một phương pháp để phân việc cho những thành viên SS bị thương một cách dễ dàng hơn.[196] Điều này đồng nghĩa gần như toàn thể nhân sự SS biết những gì diễn ra bên trong các trại tập trung khiến cả tổ chức chịu trách nhiệm về tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[197]

Đế chế kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1934, Himmler thành lập phi vụ đầu tư kinh doanh đầu tiên của SS là Nordland-Verlag, một nhà phát hành tài liệu tuyên truyền và sách hướng dẫn đào tạo SS. Himmler sau đó mua lại hãng gốm sứ Allach, hãng khi ấy bắt đầu chế tạo kỷ vật SS.[198] Vì thiếu hụt lao động và mong muốn kiếm lợi, SS bắt đầu bóc lột tù nhân trại tập trung, ép họ lao động khổ sai.[199] Hầu hết các doanh nghiệp SS đều thua lỗ cho đến khi Himmler giao chúng cho Verwaltung und Wirtschaftshauptamt Hauptamt (Văn phòng quản lý và kinh doanh; VuWHA) của Pohl quản lý vào năm 1939.[193] Ngay cả khi đó, hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động kém hiệu quả vì nhân viên SS thiếu kinh nghiệm làm ăn còn công nhân thì đang đói khổ.[200] Tháng 7 năm 1940 Pohl lập ra Deutsche Wirtschaftsbetriebe GmbH (Công ty trách nhiệm hữu hạn Kinh tế Đức; DWB), một tập đoàn bảo trợ mà qua đó ông ta tiếp quản mọi hãng trực thuộc SS.[201] Tổng cộng SS đã lập ra gần 200 công ty mẹ phục vụ kinh doanh.[202]

Hành quyết qua lao động. Tại trại tập trung Mauthausen-Gusen, tù nhân bị ép khuân những khối đá granit nặng ra khỏi mỏ đá trên những "bậc thang chết chóc".

Tháng 5 năm 1941 VuWHA thành lập Deutsche Ausrüstungswerke GmbH (Vật liệu thiết bị Đức; DAW) để hợp nhất doanh nghiệp SS với hệ thống trại tập trung đang mọc lên.[203] Himmler tiếp đó đã cho dựng nên bốn trại tập trung lớn vào năm 1941 là Auschwitz, Gross-Rosen, Natzweiler-Struthof, và Neuengamme. Mỗi trại đều có ít nhất một nhà máy hoặc mỏ đá gần đó nơi các tù nhân bị buộc phải làm việc.[204] Himmler đặc biệt quan tâm đến việc cung cấp nhân công cho IG Farben đang xây dựng một nhà máy sản xuất cao su tổng hợp tại Auschwitz III – Monowitz.[205] Vào thời điểm nhà máy bị Hồng quân Liên Xô đánh sập vào năm 1945, nó gần như đã sẵn sàng để bắt đầu sản xuất.[206] Tù nhân tại Monowitz sống bình quân được tầm ba tháng.[207] Đây là một đặc điểm điển hình ở các trại vì các tù nhân thiếu ăn và phải sống trong điều kiện sống tệ hại. Họ bị bắt làm một khối lượng công việc nhiều đến mức không thể tưởng tượng được một cách cố ý dưới chính sách hành quyết qua lao động.[208]

Năm 1942, Himmler hợp nhất mọi cơ quan do Pohl phụ trách làm một, tạo ra Văn phòng Hành chính và Kinh tế Chính của SS (Wirtschafts- und Verwaltungshauptamt; viết tắt là WVHA).[191] Toàn bộ hệ thống trại tập trung được đặt dưới quyền của WVHA.[192] SS sở hữu Sudetenquell GmbH, một nhà máy sản xuất nước khoáng ở Sudetenland. Đến năm 1944, SS đã mua 75% hãng nước khoáng tại Đức và có ý đồ chiếm độc quyền trong ngành này.[209] Một số trại tập trung sản xuất vật liệu xây dựng như đá, gạch và xi măng cho Deutsche Erd- und Steinwerke thuộc sở hữu của SS (Nhà máy Đất và Đá Đức; viết tắt là DEST).[210] Tại các vùng lãnh thổ phía Đông bị chiếm đóng, SS giành được độc quyền sản xuất gạch bằng cách chiếm giữ tất cả 300 xưởng gạch còn tồn tại.[209] DWB còn lập ra Ost-Deutsche Baustoffwerke (Vật liệu cung ứng xây dựng Đông Đức; GmbH hay ODBS) và Deutsche Edelmöbel GmbH (Nội thất Cao cấp Đức). Những hãng này hoạt động trong các nhà máy mà SS đã tịch thu từ người Do Thái và người Ba Lan.[211]

SS sở hữu các trang trại thử nghiệm, tiệm bánh, nhà máy đóng gói thịt, xưởng da thuộc, nhà máy sản xuất quần áo và đồng phục và các nhà máy sản xuất vũ khí nhỏ.[212][213] Dưới sự chỉ đạo của WVHA, SS đã bán lao động trong trại cho các nhà máy khác nhau với giá từ ba đến sáu Reichsmark mỗi tù nhân mỗi ngày.[214] SS đã tịch thu và bán tài sản của các tù nhân trong trại tập trung, tịch thu danh sách vốn đầu tư và tiền mặt của họ, thu lợi từ xác của họ bằng việc bán tóc làm nỉ và nấu chảy vàng từ vật liệu trám răng.[215] Tổng giá trị tài sản cướp được từ các nạn nhân của Chiến dịch Reinhard (không bao gồm Auschwitz) được Odilo Globocnik liệt kê là 178.745.960,59 Reichsmark. Vật dụng chiếm đoạt gồm 2.909,68 kg vàng trị giá 843.802,75 RM, 18.733,69 kg bạc, 1.514 kg bạch kim, 249.771,50 đô-la Mỹ, 130 trang sức kim cương, 13.458,62 cara kim cương, 2.511,87 cara kim cương đa mặt, 114 kg ngọc trai.[216] Tài sản của người Do Thái theo luật thuộc về nhà nước nhưng nhiều chỉ huy và lính gác trại thường lấy cắp kim cương, tiền mặt để trục lợi hoặc những mặt hàng thực phẩm và rượu bị tịch thu để bán trên thị trường chợ đen.[217]

Tình thế đảo chiều[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 7 năm 1943, quân Đức khai màn trận Kursk, cuộc tấn công được lên kế hoạch nhằm tiêu diệt chỗ lồi tại Kursk.[218] Waffen-SS vào thời điểm này đã được mở rộng thành 12 sư đoàn và hầu hết tham gia trận đánh.[219] Vì phía Liên Xô kháng cự quyết liệt, Hitler hoãn tấn công vào ngày 12 tháng 7. Tới ngày 17, Hitler ngừng chiến dịch và ra lệnh lui binh.[220] Sau đó quân Đức bị ép về thế thủ khi mà Hồng quân bắt đầu giải phóng miền tây nước Nga.[221] Vào lúc Waffen-SS và Wehrmacht đang hứng chịu thiệt hại trong trận Kursk, quân Đồng Minh phát động tấn công Ý, mở ra mặt trận thứ hai cho Đức.[222]

Cuộc đổ bộ Normandie[sửa | sửa mã nguồn]

Lính thuộc Quân đoàn Ấn Độ của Waffen-SS canh gác bức tường Đại Tây Dương ở Bordeaux, 21 tháng 3 năm 1944.

Bị báo động bởi những cuộc oanh tạc của Không quân Đồng Minh ở Saint-NazaireDieppe trong năm 1942, Hitler đã chỉ thị xây công sự mà ông gọi là bức tường Đại Tây Dương dọc hết bờ biển Đại Tây Dương từ Tây Ban Nha đến Na Uy để ngăn chặn Đồng Minh đổ bộ.[223] Các ụ súng bằng bê tông được xây dựng tại các điểm chiến lược dọc theo bờ biển và trên bãi biển có bố trí cọc gỗ, khối kim loại ba chân, mìn, và chướng ngại chống tăng để trì hoãn việc tiếp cận tàu đổ bộ và cản trở sự di chuyển của xe tăng.[224] 11 sư đoàn Panzer và Panzergrenadier được triển khai gần đó bên cạnh một vài sư đoàn bộ binh cố định[225][226] và bốn trong số đội hình này là sư đoàn thuộc Waffen-SS.[227] SS-Das Reich đóng ở miền nam nước Pháp và LSSAH ở Bỉ đã được tái trang sau khi tham chiến ở Liên Xô. SS-Hitlerjugend, sư đoàn Panzer mới lập bao gồm những thành viên 17-18 tuổi của Đoàn Thanh niên Hitler được hỗ trợ bởi các cựu binh và sĩ quan không ủy nhiệm từng trải, đóng quân ở phía tây Paris.[228] Thành lập SS-Hitlerjugend là dấu hiệu cho thấy Hitler đang tuyệt vọng muốn có thêm lính, nhất là những người vâng lời một cách mù quáng.[229]

Cuộc đổ bộ Normandie diễn ra bắt đầu từ ngày 6 tháng 6 năm 1944. Sư đoàn Panzer số 21 dưới quyền của Generalmajor Edgar Feuchtinger bố trí ở phía nam Caen, là sư đoàn thiết giáp duy nhất đóng gần bờ biển. Sư đoàn này có 150 xe tăng và 50 pháo tự hành tấn công, cộng với bộ binh và pháo binh yểm trợ.[230] Vào lúc 02:00, Generalleutnant Wilhelm Richter, tư lệnh Sư đoàn Bộ binh cố định số 716, lệnh cho Sư đoàn Panzer 21 sẵn sàng phản công. Tuy nhiên, vì sư đoàn này là một phần của đội dự bị thiết giáp, Feuchtinger buộc phải được sự cho phép của OKW rồi mới có thể ra quân.[231] Feuchtinger không nhận được chỉ thị cho đến gần 09:00 nhưng trong lúc chờ đợi ông đã điều một nhóm (có xe tăng) đấu với quân Anh ở bờ đông sông Orne.[232] SS-Hitlerjugend bắt đầu được triển khai vào chiều ngày 6 tháng 6 và tiến hành phòng thủ ngày hôm sau. Họ còn tham gia trận Caen (tháng 6–tháng 8 năm 1944).[233] Vào ngày 7–8 và 17 tháng 6, người của SS-Hitlerjugend đã sát hại 20 tù binh Canada trong vụ thảm sát ở tu viện Ardenne.[234]

Quân Đồng Minh tiếp tục đạt được tiến bộ trong công cuộc giải phóng Pháp. Vào ngày 4 tháng 8, Hitler ra lệnh phản công (Chiến dịch Lüttich) từ Vire về phía Avranches.[235] Tham chiến có LSSAH, Das Reich, Sư đoàn Panzer số 2, 116 cùng sự yểm trợ của bộ binh và các bộ phận thuộc Sư đoàn Panzergrenadier SS số 17 Götz von Berlichingen do SS-Oberstgruppenführer Paul Hausser chỉ huy. Lực lượng này tiến hành một cuộc tấn công gần Mortain và dồn về phía tây qua Avranches đến bờ biển. Quân Đồng Minh đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tấn công này và một cuộc không kích vào đội hình kết hợp đã gây ra những tổn thất kinh hoàng cho Đức.[236] Vào ngày 21 tháng 8, 50.000 lính Đức, trong đó có đa phần lực lượng LSSAH, bị Đồng Minh bao vây trong vòng vây Falaise.[237] Tàn quân LSSAH buộc phải tháo chạy về Đức để tái trang bị.[238] Paris được giải phóng vào ngày 25 tháng 8 và những lực lượng Đức cuối cùng tháo lui qua sông Seine trong cuối tháng 8, kết thúc chiến dịch Normandie.[239]

Trận chiến nước Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị Waffen-SS tồn tại qua chiến dịch mùa hè được rút khỏi tiền tuyến để tái trang bị. Hai trong số đó, Sư đoàn Panzer SS số 9Sư đoàn Panzer số 10 SS, đã làm như vậy tại khu vực Arnhem của Hà Lan vào đầu tháng 9 năm 1944. Trùng hợp là vào ngày 17 tháng 9, quân Đồng Minh tiến hành Chiến dịch Market Garden kết hợp các cuộc tấn công trên bộ lẫn trên không nhằm chiếm kiểm soát vùng hạ lưu sông Rhine.[240] Sư đoàn Panzer SS số 9 và 10 là hai trong số các đơn vị đã tham gia đẩy lùi cuộc tấn công này.[241]

Bộ binh Đức cuốc bộ ở Ardennes, tháng 12 năm 1944

Tháng 12 năm 1944, Hitler phát động chiến dịch phản công Ardennes với mục đích tiếp cận Antwerp nhằm bao vây quân Đồng Minh trong khu vực.[242] Cuộc tấn công mở màn bằng một trận pháo kích ngay trước bình minh ngày 16 tháng 12. Mũi nhọn của cuộc tấn công là hai đội quân panzer được tạo thành chủ yếu từ các sư đoàn Waffen-SS.[243] Các nhóm chiến đấu ban đầu tiến triển ổn ở phần bắc song gặp khó khi băng qua rừng đồi Ardennes trong thời tiết mùa đông. Họ sớm gặp sự phản kháng mạnh mẽ từ Sư đoàn Bộ binh số 299 của Hoa Kỳ. Đến ngày 23 tháng 12, thời tiết tốt lên đủ cho không lực Đồng Minh tấn công quân Đức và bộ phận tiếp tế gây thiếu hụt nhiên liệu. Trong tình cảnh ngày càng khó khăn, bước tiến của quân Đức bị chậm và chặn lại.[244] Chiến dịch thất bại của Hitler làm tổn thất 700 xe tăng, đa số lực lượng cơ động còn lại ở phía tây[245] cũng như phần lớn nhân lực và vật lực dự trữ không thể thay thế.[246]

Trong trận đánh, SS-Obersturmbannführer Joachim Peiper đã để lại một con đường hủy diệt trước khi rút lui, binh sĩ Waffen-SS dưới quyền ông ta đã sát hại tù binh Mỹ và dân thường Bỉ không khí giới trong vụ thảm sát Malmedy.[247] Các binh sĩ SS bị bắt thuộc Kampfgruppe Peiper bị đưa ra xét xử trong phiên tòa sau chiến tranh vì những hành động tàn sát trong khu vực. Nhiều thủ phạm bị tuyên án treo cổ song được giảm án. Peiper với vai trò của mình đã bị kết án 11 năm tù.[248]

Tù binh Mỹ bị lực lượng SS của Joachim Peiper sát hại trong vụ thảm sát Malmedy trong trận Ardennes, tháng 12 năm 1944

Ở phía đông, Hồng quân Liên Xô tiếp tục cuộc tấn công vào ngày 12 tháng 1 năm 1945. Trên mặt trận phía đông, quân Đức bị áp đảo số lượng 20/1 về máy bay, bộ binh 11/1, xe tăng 7/1.[249] Đến cuối tháng, Hồng quân tạo được đầu cầu bên bờ tây sông Oder, chướng ngại địa lý cuối cùng trước Berlin.[250] Đồng Minh phương Tây cũng tiếp tục đạt được những tiến triển song không nhanh bằng Hồng quân.[251] Quân đoàn Panzer đã thực hiện thành công một chiến dịch phòng thủ vào ngày 17–24 tháng 2 tại sông Hron, chặn bước Đồng Minh đến Viên.[252] Quân đoàn Panzer số 12 tiến về Áo nhưng chậm do đường sắt hư hại.[253]

Budapest thất thủ vào ngày 13 tháng 2.[254] Hitler lệnh cho Tập đoàn quân Panzer SS số 6 của Dietrich đến Hungary để bảo vệ những mỏ dầu và xưởng lọc dầu tại Nagykanizsa mà ông cho là nguồn dự trữ nhiên liệu quan trọng nhất về chiến lược ở mặt trận phía đông.[255][252] Cuộc tấn công cuối cùng của Đức ở phía đông, Frühlingserwachsen (Chiến dịch mùa xuân thức tỉnh), diễn ra vào đầu tháng 3. Quân Đức tấn công gần hồ Balaton với Tập đoàn quân Panzer SS số 6 tiến lên phía bắc đến Budapest và Tập đoàn quân Panzer số 2 di chuyển về phía đông và nam.[256] Quân của Dietrich lúc đầu tiến triển tốt song bị chặn khi đến gần Danube bởi địa hình bùn lầy và sự phản kháng mạnh mẽ của Liên Xô.[257] Đến ngày 16 tháng 3, kế hoạch phản công của quân Đức đã bị phá sản.[258] Tức giận vì thất bại, Hitler ra lệnh cho các đơn vị Waffen-SS có liên quan phải tháo danh hiệu trên tay áo như một dấu hiệu của sự ô nhục. Dietrich từ chối thực hiện mệnh lệnh này.[259]

Đến lúc này, ở cả hai mặt trận đông tây, quân Đồng Minh đã biết rõ những hành vi của SS sau khi giải phóng các trại tập trung và hành quyết.[260] Binh lính Đồng Minh hoài nghi và ghê tởm trước bằng chứng về sự tàn bạo của Quốc xã ở những trại này.[261]

Vào ngày 9 tháng 4 năm 1945 Königsberg rơi vào tay Hồng quân và đơn vị SS của Dietrich bị đẩy khỏi Viên vào ngày 13.[262] Trận Berlin bắt đầu lúc 03:30 ngày 16 tháng 4 với loạt pháo ác liệt.[263] Trong vòng một tuần, giao tranh đã diễn ra trong thành phố. Thành phần phòng thủ Berlin có lính Waffen-SS người Pháp, Latvia và Scandinavia.[264][265] Hitler hiện đang sống trong Führerbunker phía dưới phủ thủ tướng vẫn hy vọng số binh sĩ SS còn sót lại của mình có thể cứu thủ đô. Mặc tình cảnh vô vọng, quân SS tuần tra thành phố tiếp tục bắn hoặc treo cổ người lính hoặc dân nào có hành vi bị xem là hèn nhát và chủ bại.[266] Quân phòng thủ Berlin đầu hàng vào ngày 2 tháng 5, hai ngày sau khi Hitler tự sát.[263] Vì không trông đợi nhiều vào sự nhân từ của Hồng quân, thành viên SS cố gắng chạy về phía tây để chọn đầu hàng Đồng Minh phương Tây thay thế.[267]

Các đơn vị và chi nhánh SS[sửa | sửa mã nguồn]

Reichssicherheitshauptamt[sửa | sửa mã nguồn]

Heydrich giữ chức Chef der Sicherheitspolizei und des SD (Chánh Cảnh sát an ninh và SD) cho đến ngày 27 tháng 9 năm 1939, khi ông trở thành giám đốc Reichssicherheitshauptamt (Văn phòng An ninh Chính của Đế chế; viết tắt là RSHA) mới thành lập.[65][268] Từ thời điểm đó trở đi, RSHA phụ trách các lực lượng bảo mật SS, bao gồm SD, Kripo, Gestapo, cùng một vài cơ quan để xử lý tài chính, quản trị và nguồn cung.[65] Heinrich Müller, người từng là giám đốc điều hành của Gestapo, lúc đó được bổ nhiệm làm thủ lĩnh Gestapo.[269] Arthur Nebe là chỉ huy trưởng của Kripo, còn hai nhánh SD do một loạt sĩ quan SS như Otto OhlendorfWalter Schellenberg chỉ huy. SD được coi là lực lượng tinh nhuệ của SS; thành viên SD được rèn luyện tốt hơn và thường tham vọng hơn những người trong hàng ngũ Allgemeine SS.[48] Các thành viên của SD được đào tạo bài bản tội phạm học, tình báo và phản tình báo. Họ cũng nổi tiếng tàn nhẫn và kiên định tận tụy với ý thức hệ Đức Quốc xã.[270]

Vào ngày 27 tháng 5 năm 1942, một tổ binh sĩ người Séc và Slovak do Anh đào tạo đã tấn công Heydrich ở Praha. Họ là những người được chính phủ lưu vong Tiệp Khắp cử đi giết Heydrich trong chiến dịch Anthropoid. Heydrich bị thương và qua đời một tuần sau.[271][e] Himmler đích thân điều hành RSHA đến ngày 30 tháng 1 năm 1943, lúc mà Ernst Kaltenbrunner lên tiếp quản những vị trí từng do Heydrich nắm giữ.[273]

SS-Sonderkommandos[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ năm 1938 cũng như trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai, SS ban hành một thủ tục cho phép phòng ban và đơn vị SS tạo lập những đơn vị con gọi là SS-Sonderkommandos để thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt, bao gồm cả các hoạt động giết người quy mô lớn. SS-Sonderkommandos được sử dụng trên diện rộng. Theo lời của cựu SS Sturmbannführer Wilhelm Höttl, ngay cả giới lãnh đạo SS cũng không biết có bao nhiêu SS-Sonderkommando từng được lập, giải thể và cải tổ cho các nhiệm vụ khác nhau, đặc biệt là ở Mặt trận phía Đông.[274]

Đơn vị SS-Sonderkommando của SS-Sturmbannführer Herbert Lange đã sát hại 1.201 bệnh nhân của bệnh viện tâm thần Tiegenhofthành phố tự do Danzig,[275] 1.100 ở Owińska, 2.750 ở Kościan, 1.558 ở Działdowo, cùng hàng trăm người Ba Lan ở trại Pháo đài VII nơi có xe và buồng hơi ngạt.[276][277] Trong các năm 1941–42, SS-Sonderkommando Lange đã xây dựng và quản lý trại hành quyết đầu tiên tại Chełmno, nơi 152.000 người Do Thái đã bị giết bằng xe hơi ngạt.[278]

Tháng 2 năm 1943, sau trận Stalingrad, Himmler linh cảm thấy rằng nước Đức sẽ thua và lệnh thành lập Sonderkommando 1005, một đội đặc nhiệm dưới quyền SS-Standartenführer Paul Blobel. Nhiệm vụ của đơn vị này là đến những hố chôn tập thể ở mặt trận phía đông để khai quật rồi đốt thi thể nhằm cố gắng che giấu tội ác diệt chủng. Khi chiến tranh kết thúc nhiệm vụ này chưa hoàn thành và nhiều hố chôn vẫn không được đánh dấu hay khai quật.[279]

Eichmann Sonderkommando là đội đặc nhiệm do Adolf Eichmann chỉ huy đến Budapest vào ngày 19 tháng 3 năm 1944, cùng ngày phe Trục xâm lược Hungary. Họ trực tiếp phụ trách công tác trục xuất người Do Thái Hungary đến Auschwitz. Lực lượng SS-Sonderkommandos đã tranh thủ sự trợ giúp của các phần tử bài Do Thái thuộc lực lượng hiến binh Hungary và những nhà quản lý thân Đức từ Bộ Nội vụ Hungary.[280] Hoạt động vây bắt khởi động vào ngày 16 tháng 4. Từ ngày 14 tháng 5, bốn đoàn tàu chở 3.000 người Do Thái rời Hungary đến Auschwitz II-Birkenau mỗi ngày, vào nhánh đường ray mới xây có điểm kết cách khu phòng hơi ngạt vài trăm mét.[281][282] Từ 10 đến 25% số người trên mỗi chuyến tàu được chọn làm lao động khổ sai, số còn lại bị giết trong vòng vài giờ sau khi đến.[281][283] Dưới áp lực quốc tế, chính phủ Hungary đã ngừng trục xuất vào ngày 6 tháng 7 năm 1944. Vào thời điểm đó hơn 437.000 trong số 725.000 người Do Thái của Hungary đã bị giết.[281][284]

Einsatzgruppen[sửa | sửa mã nguồn]

SS giết người ở Zboriv, 1941. Một cậu bé được đưa tới để nhìn những thi thể những người trong gia đình mình trước khi bị bắn.

Einsatzgruppen có nguồn gốc từ Einsatzkommando đặc biệt do Heydrich thành lập sau sự kiện Anschluss ở Áo vào tháng 3 năm 1938.[285] Vào tháng 10 năm 1938, có hai đơn vị Einsatzgruppen đồn trú tại Sudetenland. Khi mà hoạt động quân sự trở nên không còn cần thiết bởi hiệp ước München, Einsatzgruppen được giao nhiệm vụ tịch thu giấy tờ của chính phủ và tài liệu của cảnh sát. Họ canh giữ các tòa nhà chính phủ, thẩm vấn các công chức cấp cao và bắt giữ khoảng 10.000 người cộng sản Séc và công dân Đức.[285][286] Einsatzgruppen cũng đi theo quân Wehrmacht và ra tay sát hại những phần tử bị tình nghi là kháng quân.[287] Các nhóm tương tự được sử dụng vào năm 1939 cho việc chiếm đóng Tiệp Khắc.[288]

Hitler cảm thấy việc giết người Do Thái có kế hoạch là quá khó và quan trọng để có thể giao phó cho quân đội.[289] Năm 1941, Einsatzgruppen được cử đến Liên Xô để bắt đầu cuộc diệt chủng diện rộng người Do Thái, Di-gan và cộng sản.[290] Nhà sử học Raul Hilberg ước tính rằng từ năm 1941 đến năm 1945, Einsatzgruppen cùng các cơ quan liên quan đã giết hơn hai triệu người bao gồm 1,3 triệu người Do Thái.[291] Vụ xử bắn hàng loạt lớn nhất mà Einsatzgruppen thực hiện là tại Babi Yar ở ngoại ô Kiev, ở đó 33.771 người Do Thái đã bị giết trong một chiến dịch vào ngày 29–30 tháng 9 năm 1941.[292] Tháng 9–12 năm 1941 diễn ra vụ thảm sát Rumbula mà nạn nhân là 25.000 người từ khu ghetto Riga.[293] Một vụ xử bắn hàng loạt khác vào đầu năm 1942 đã cướp đi sinh mạng của hơn 10.000 người Do Thái ở Kharkiv.[294]

Einsatzgruppen cuối cùng giải thể vào giữa năm 1944 (dù một số vẫn tiếp tục tồn tại trên giấy tờ cho đến năm 1945) do quân Đức rút lui trên cả hai mặt trận khiến hoạt động tàn sát không thể tiếp tục. Các cựu thành viên Einsatzgruppen được giao nhiệm vụ tại Waffen-SS hoặc trại tập trung. Sau khi chiến tranh kết thúc, 24 thủ lĩnh Einsatzgruppen đã bị đưa ra xét xử vì những tội ác mà họ gây ra.[295]

Văn phòng tòa án chính SS[sửa | sửa mã nguồn]

Văn phòng tòa án chính SS (Hauptamt SS-Gericht) là một hệ thống pháp luật nội bộ để thực hiện các cuộc điều tra, xét xử và trừng phạt của SS và cảnh sát. Bộ phận này có hơn 600 luật sư trong những văn phòng chính ở Berlin và München. Quá trình tố tụng được tiến hành tại 38 tòa án SS địa phương trên khắp nước Đức. Đây là cơ quan duy nhất được phép xét xử các nhân viên SS, ngoại trừ các thành viên SS đang hoạt động trong Wehrmacht (trong những trường hợp như vậy, thành viên SS được đề cập sẽ được xét xử bởi một tòa án quân sự tiêu chuẩn). Việc tạo ra Tòa án này đã khiến SS vượt ngoài tầm xử lý của cơ quan thẩm quyền dân sự. Himmler đích thân can thiệp vào việc kết tội và trừng trị khi thấy thích hợp.[296] Nhà sử học Karl Dietrich Bracher mô tả hệ thống tòa án này là một yếu tố trong việc tạo ra nhà nước cảnh sát toàn trị của Đức Quốc xã, vì nó loại bỏ các thủ tục pháp lý khách quan, khiến công dân không thể tự vệ trước "công lý thiếu thủ tục của khủng bố SS".[297]

Kỵ binh SS[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi Hitler lên nắm quyền vào năm 1933, hầu hết các hiệp hội cưỡi ngựa đều do SA và SS tiếp quản.[298] Các thành viên được huấn luyện chiến đấu để phục vụ trong Reiter-SS (Quân đoàn kỵ binh SS).[299] Trung đoàn kỵ binh SS đầu tiên, được đặt tên là SS-Totenkopf Reitstandarte số 1, được thành lập vào tháng 9 năm 1939. Đơn vị nằm dưới sự chỉ huy của SS-Standartenführer Hermann Fegelein, được cử tới Ba Lan tham gia tiêu diệt giới trí thức nước này.[300][301] Các đội kỵ binh được bổ sung vào tháng 5 năm 1940, nâng số tổng số lên mười bốn.[302]

Đơn vị được tách thành hai trung đoàn vào tháng 12 năm 1939 đều do Fegelein phụ trách. Quân số họ tính đến tháng 3 năm 1941 là 3.500 người.[303][304] Tháng 7 năm 1941, họ được giao thực hiện chiến dịch trừng trị đầm lầy Pripyat, vây bắt rồi sát hại người Do Thái và quân kháng chiến.[305] Hai trung đoàn được hợp nhất thành Lữ đoàn kỵ binh SS vào ngày 31 tháng 7, mười hai ngày sau khi chiến dịch bắt đầu.[306] Báo cáo cuối cùng của Fegelein đề ngày 18 tháng 12 năm 1941 nói rằng họ đã giết 14.178 người Do Thái, 1.001 kháng quân, 699 lính Hồng quân, bắt giam 830 người.[307][308] Nhà sử học Henning Pieper ước tính số người Do Thái thực tế bị giết là gần 23.700.[309] Lữ đoàn kỵ binh SS đã bị tổn thất nghiêm trọng vào tháng 11 năm 1941 trong trận Moskva, với thương vong lên tới 60% trong một số đội.[310] Fegelein được bổ nhiệm làm chỉ huy Sư đoàn kỵ binh SS số 8 Florian Geyer vào ngày 20 tháng 4 năm 1943. Đơn vị này tấn công quân kháng chiến và dân thường ở Liên Xô.[311][312] Ngoài ra còn các trung đoàn kỵ binh SS phục vụ ở Croatia và Hungary.[313]

Đoàn y tế SS[sửa | sửa mã nguồn]

Người Do Thái Hungary trên Judenrampe (sân ga Do Thái) sau khi bước xuống từ những chuyến tàu vận chuyển. Ảnh từ Album Auschwitz (tháng 5 năm 1944).

Quân đoàn y tế SS ban đầu được gọi là Sanitätsstaffel (đơn vị y tế). Sau năm 1931, SS lập ra Amt V làm văn phòng trung ương cho những đơn vị y tế SS. Một học viện y SS được lập ở Berlin vào năm 1938 để đào tạo bác sĩ Waffen-SS.[314] Nhân viên y tế SS thường không thực hiện công tác chăm sóc mà chủ yếu là thúc đẩy công cuộc y tế hóa diệt chủng.[315] Tại Auschwitz, khoảng 3/4 số người mới đến, bao gồm hầu hết trẻ em, phụ nữ có con nhỏ, toàn bộ người già và những người bị cho không hoàn toàn khỏe mạnh sau một bài kiểm tra ngắn và hời hợt của bác sĩ SS, bị giết chỉ trong vài giờ từ lúc đến.[316] Trong vai trò là Desinfektoren (người khử trùng), các bác sĩ SS cũng đưa ra lựa chọn trong số các tù nhân hiện có theo tiêu chí thể lực để làm việc và giám sát công tác giết bỏ những người không phù hợp. Tù nhân có sức khỏe giảm sút bị bác sĩ SS kiểm tra và quyết định xem có thể khỏe lại trong dưới hai tuần không. Những người quá ốm hoặc bị thương không thể phục hồi trong khung thời gian đó sẽ bị giết.[317]

Tại Auschwitz, khâu cấp phát hơi độc đến nạn nhân luôn do SS thực hiện theo lệnh của bác sĩ SS giám sát.[318][319] Nhiều bác sĩ SS cũng tiến hành các thí nghiệm y tế vô nhân đạo trên các tù nhân trong trại.[320] Bác sĩ SS khét tiếng nhất, Josef Mengele, từng phục vụ trong vai trò cán bộ y tế tại Auschwitz dưới sự chỉ huy của Eduard Wirths thuộc lực lượng quân y của trại.[321] Mengele tiến hành các cuộc tuyển chọn ngay cả khi anh ta không được giao nhiệm vụ đó với hy vọng tìm được đối tượng cho các thí nghiệm của mình.[322] Ông đặc biệt quan tâm đến những cặp song sinh.[323] Trái ngược với hầu hết các bác sĩ, những người coi việc tìm đối tượng là một trong những nhiệm vụ căng thẳng và kinh khủng nhất của họ, Mengele làm việc này với vẻ khoa trương và thường mỉm cười hay huýt sáo một giai điệu.[324][325] Sau chiến tranh, nhiều bác sĩ SS bị cáo buộc tội ác chiến tranh vì những thí nghiệm y khoa vô nhân tính và vai trò trong công tác chọn lọc.[326]

Các đơn vị SS khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ahnenerbe[sửa | sửa mã nguồn]

Ahnenerbe (Tổ chức Di sản Tổ tiên) được thành lập vào năm 1935 bởi Himmler và trở thành một phần của SS vào năm 1939.[327] Ahnenerbe là cơ quan bảo trợ cho hơn năm mươi tổ chức có nhiệm vụ nghiên cứu bản sắc chủng tộc của người Đức và các truyền thống và ngôn ngữ German cổ đại.[327][328] Cơ quan này đã tài trợ cho các cuộc thám hiểm khảo cổ ở Đức, Scandinavia, Trung Đông, Tây Tạng cũng như một số nơi khác để tìm kiếm bằng chứng về nguồn gốc, ảnh hưởng và sự ưu việt của người Arya.[329] Các cuộc thám hiểm được lên kế hoạch tiếp theo đã bị hoãn lại vô thời hạn khi chiến tranh bắt đầu.[330]

SS-Frauenkorps[sửa | sửa mã nguồn]

SS-Frauenkorps là một đơn vị báo cáo và văn thư phụ trợ,[331] bao gồm SS-Helferinnenkorps (Quân đoàn trợ giúp phụ nữ), bao gồm các nữ tình nguyện viên. Các thành viên được chỉ định làm nhân viên hành chính và nhân viên cung ứng và phục vụ ở các vị trí chỉ huy và làm lính canh tại các trại tập trung phụ nữ.[332][333] Trong khi lính canh trại tập trung và hành quyết nữ là nhân viên dân sự của SS, thì các SS-Helferinnen hoàn thành khóa huấn luyện tại Reichsschule für SS-HelferinnenOberehnheim (Alsace) là thành viên của Waffen-SS.[334] Giống như những nam giới tương đương trong SS, phụ nữ cũng tham gia vào các hành động tàn ác chống lại người Do Thái, người Ba Lan và các dân tộc khác.[335]

Năm 1942, Himmler thành lập Reichsschule für SS Helferinnen (trường Đế chế dành cho những nữ phụ tá SS) ở Oberehnheim để đào tạo phụ nữ trong lĩnh vực liên lạc để họ có thể thay thế nam giới giúp họ có thể tham gia chiến đấu. Himmler cũng có ý định thay thế tất cả các nữ nhân viên dân sự phục vụ của mình bằng các thành viên SS-Helferinnen vì họ được lựa chọn và đào tạo theo hệ tư tưởng của Đức Quốc xã.[336][337] Trường phải đóng cửa vào ngày 22 tháng 11 năm 1944 trước cuộc tiến công của quân Đồng minh.[338]

SS-Mannschaften[sửa | sửa mã nguồn]

SS-Mannschaften không được coi là thành viên SS chính quy nhưng được tuyển mộ từ các nhánh khác thuộc quân đội Đức, NSDAP, SA và Volkssturm để phục vụ trong các trại tập trung và trại hành quyết.[339]

Lính lê dương và tình nguyện viên ngoại quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 1940, Himmler mở đợt tuyển mộ những người Đức không mang quốc tịch Đức gia nhập Waffen-SS.[340] Vào tháng 3 năm 1930, Văn phòng Chính của SS thành lập Germanische Leitstelle (Văn phòng Hướng dẫn German) để mở các văn phòng tuyển mộ Waffen-SS trên các vùng lãnh thổ châu Âu do Đức Quốc xã chiếm đóng.[341] Phần lớn thành viên của các đơn vị Waffen-SS nước ngoài được lập đều sẽ đeo phù hiệu cổ áo đại diện cho quốc gia xuất xứ. Tên gọi của các lực lượng Waffen-SS nước ngoài có tiền tố Waffen thay vì SS. Tình nguyện viên từ Scandinavia được chia đều thành hai sư đoàn là SS-WikingSS-Nordland.[342] Tình nguyện viên người Thụy Sĩ nói tiếng Đức tham gia với số lượng đáng kể.[343] Người Vlaanderen Bỉ gia nhập người Hà Lan để thành lập quân đoàn SS-Nederland[344] trong khi người Wallonie nói tiếng Pháp gia nhập lực lượng SS-Wallonien.[345] Đến cuối năm 1943, khoảng một phân tư binh sĩ SS là người gốc Đức đến từ khắp châu Âu.[346] Sang đến năm 1944, hơn một nửa nhân sự Waffen-SS (và SS) là người sinh ở nước ngoài.[347][348]

Đại Mufti thành Jerusalem Haj Amin al-Husseini chào các tình nguyện viên Bosniak SS trước khi họ khởi hành đến Mặt trận phía Đông, 1943

Waffen-SS bổ sung thêm nhân lực từ người Ukraina, người Albania từ Kosovo, người Serbia, người Croatia, người Đột Quyết, người da trắng, người Cossackngười Ấn Độ.[349] Lý do người Ukraina và người Tatar tình nguyện gia nhập SS có thể do phải chịu sự đàn áp dưới thời Stalin chứ không phải vì họ chia sẻ chung ý thức hệ với SS.[350] Hitler tranh thủ được sự ủng hộ của một số nhân vật có tiếng nói trong giới tăng lữ Hồi giáo. Đại Mufti lưu vong của Jerusalem Amin al-Husseini được Himmler phong làm SS-Gruppenführer (thiếu tướng SS) vào tháng 5 năm 1943.[351] Al-Husseini lợi dụng chủ nghĩa bài Do Thái và lòng căm thù người Serbia để tuyển mộ người Hồi giáo Bosnia gia nhập sư đoàn SS-Handschar.[352] Việc quân Liên Xô chiếm đóng các nước Baltic trong hơn 1 năm vào đầu Thế chiến thứ hai là động lực thúc đẩy tình nguyện viên Latvia và Estonia gia nhập các đơn vị Waffen-SS. Quân đoàn Estonia có 1.280 tình nguyện viên đang được huấn luyện vào cuối năm 1942.[353] Khoảng 25.000 người phục vụ trong sư đoàn Estonia của SS, cộng với hàng nghìn người tham gia vào các tiểu đoàn thuộc Mặt trận Cảnh sát và các đơn vị biên phòng.[354] Hầu hết người Estonia tham chiến để giành độc lập và có tới 15.000 người trong số họ hy sinh khi chiến đấu cùng quân Đức.[355] Vào đầu năm 1944, Himmler thậm chí còn liên lạc với Pohl để đề nghị thả các tù nhân Hồi giáo khỏi các trại tập trung để bổ sung vào lực lượng SS.[356]

Quân đoàn Ấn Độ là một đơn vị trực thuộc Wehrmacht được thành lập vào tháng 8 năm 1942. Các thành viên của lực lượng này phần nhiều là lính Ấn Độ trực thuộc quân đội Anh-Ấn bị bắt trong chiến dịch Bắc Phi.[357] Vào tháng 8 năm 1944, đơn vị được chuyển giao cho Waffen-SS quản lý với tên gọi Indische Freiwilligen-Legion der Waffen-SS. Bên cạnh đó, một sư đoàn tình nguyện của Pháp có tên là SS-Charlemagne được thành lập vào năm 1944, với nhân lực chủ yếu lấy từ tàn quân của Quân đoàn tình nguyện Pháp chống chủ nghĩa BolshevikSturmbrigade Pháp.[358]

Quân hàm và quân phục[sửa | sửa mã nguồn]

SS đã thiết lập biểu tượng, nghi lễ, phong tục, cấp bậc và đồng phục riêng để tạo sự khác biệt với các tổ chức khác. Trước năm 1929, SS mặc đồng phục màu nâu tương tự SA, mang thêm cà vạt đen và mũ lưỡi trai đen có biểu tượng hai khúc xương đặt chéo nhau và Totenkopf (đầu lâu). Năm 1932, SS chuyển sang sử dụng đồng phục toàn đen.[15][359] Năm 1935, các đội hình chiến đấu của SS đã áp dụng đồng phục phục vụ có màu xám dã chiến để mặc hàng ngày. SS cũng phát triển đồng phục dã chiến riêng, gồm áo khoác có thể lộn ngược và mũ đội có in hoa văn ngụy trang.[360] Phần lớn đồng phục SS được sản xuất tại hàng trăm nhà máy được cấp phép, có một số công nhân là tù nhân chiến tranh lao động cưỡng bức tuy nhiên cũng có số lượng không nhỏ được sản xuất tại các trại tập trung.[361]

Hitler và đảng Quốc xã hiểu được sức mạnh của biểu tượng và phù hiệu trong việc tác động dư luận.[362] Biểu trưng tia chớp cách điệu của SS được chọn vào năm 1932. Biểu tượng là một cặp chữ lấy từ bộ 18 chữ run Armanen được Guido von List tạo ra năm 1906. Chữ này có hình dáng tương tự như chữ run Sowilō cổ, vốn tượng trưng cho mặt trời, nhưng trong bộ chữ của List đã được đổi tên thành "Sig" mang hàm ý chiến thắng.[362] Totenkopf tượng trưng cho sự sẵn sàng quyết tử chiến đấu của người mang và cũng là một phương pháp để khiến kẻ thù khiếp sợ.[363]

Số thành viên SS ước tính (1925 – 45)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1933, sự nghiệp ở SS ngày càng trở nên hấp dẫn đối với tầng lớp xã hội của Đức. Họ bắt đầu tham gia phong trào với số lượng lớn, thường được thúc đẩy bởi chủ nghĩa cơ hội chính trị. Đến năm 1938, khoảng một phần ba lãnh đạo SS là thành viên của tầng lớp trung-thượng lưu. Xu hướng này đảo ngược sau cuộc phản công đầu tiên của Liên Xô năm 1942.[364]

Năm Số thành viên Reichsführer-SS
1925 &0000000000000200.000000200[10] Julius Schreck[365]
1926 &0000000000000200.000000200[366] Joseph Berchtold[367]
1927 &0000000000000200.000000200[366] Erhard Heiden[366]
1928 &0000000000000280.000000280[368] Erhard Heiden[366]
1929 &0000000000001000.0000001.000[369] Heinrich Himmler[370]
1930–33 &0000000000052000.00000052.000[10]
(hiệu ứng đoàn tàu)[371]
Heinrich Himmler[370] (Đế chế thứ ba thành lập)[372]
1934–39 &0000000000240000.000000240.000[373] Heinrich Himmler[370]
1940–44 &0000000000800000.000000800.000[374] Heinrich Himmler[370]
1944–45 Không rõ Heinrich Himmler[370]Karl Hanke[375]

Văn phòng SS[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 1942, mọi hoạt động của SS được quản lý thông qua mười hai văn phòng chính.[376][377]

SS Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Ernst Kaltenbrunner, Heinrich Himmler, August Eigruber, và các quan chức SS khác đến thăm trại tập trung Mauthausen, 1941

Thuật ngữ "SS Áo" thường được sử dụng để chỉ đến bộ phận thành viên SS đến từ Áo nhưng chưa bao giờ được công nhận là một phân nhánh thực sự. Khác với những thành viên SS đến từ các quốc gia khác, vốn thường được phân vào các Quân đoàn SS-German hoặc Quân đoàn Ngoại quốc của Waffen-SS, thành viên SS Áo là nhân viên SS chính quy. Về mặt kỹ thuật, SS Áo nằm dưới quyền chỉ huy của SS ở Đức nhưng thường hoạt động độc lập trong các vấn đề liên quan tới Áo. Lực lượng SS Áo được thành lập từ năm 1930 và đến năm 1934 đã hoạt bắt đầu hoạt động như một lực lượng bí mật để tiến hành và thúc đẩy quá trình thống nhất Áo với Đức, tức sự kiện Anschluss diễn ra vào tháng 3 năm 1938. Các nhà lãnh đạo SS Áo thời kỳ đầu gồm có Kaltenbrunner và Arthur Seyss-Inquart.[378] Các thành viên SS người Áo phục vụ trong mọi phân nhánh của SS. Nhà khoa học chính trị David Art của Đại học Tufts nói rằng người Áo chiếm 8% dân số của Đệ tam Đế chế và 13% của SS. Ông cũng bổ sung thêm rằng 40% nhân viên và 75% chỉ huy tại các trại tử thần là người Áo.[379]

Sau sự kiện Anschluss, các thành viên SS Áo được xếp thành SS-Oberabschnitt Donau. Trung đoàn SS-Verfügungstruppe (Der Führer) thứ ba và trung đoàn Totenkopf (Ostmark) thứ tư được biên chế tại Áo ngay sau đó. Theo lệnh của Heydrich, các cơ quan chức năng Đức Quốc xã đã tiến hành bắt giữ hàng loạt kẻ thù tiềm tàng của chế độ ngay sau Áo được sát nhập.[380] Mauthausen là trại tập trung đầu tiên được mở ở Áo sau sự kiện Anschluss.[381] Trước khi Liên Xô xâm lược, Mauthausen là trại tập trung tồi tệ nhất trong số các trại nằm trong lãnh thổ Đế chế Đại Đức.[382]

Khách sạn Metropole được biến thành trụ sở Gestapo tại Viên vào tháng 4 năm 1938. Với 900 nhân viên (80% trong số đó được tuyển dụng từ lực lượng cảnh sát Áo), đây là văn phòng Gestapo lớn nhất bên ngoài Berlin. Ước tính có khoảng 50.000 người bị thẩm vấn hoặc tra tấn tại đây. [383] Đứng đầu Gestapo chi nhánh Viên là Franz Josef Huber, người từng là giám đốc Cơ quan Trung ương về Di cư Do Thái ở Viên. Dù Adolf Eichmann và sau này là Alois Brunner mới là những chỉ huy trên thực tế, Huber vẫn phải chịu trách nhiệm việc trục xuất hàng loạt người Do Thái ở Áo.[384]

Hoạt động thời hậu chiến và hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Đức Quốc xã sụp đổ, SS chấm dứt tồn tại.[385] Nhiều thành viên SS còn trung thành với chế độ Quốc xã vẫn sống trong tự do ở Đức và khắp châu Âu.[386] Vào ngày 21 tháng 5 năm 1945, quân Anh bắt được Himmler khi ấy đang cải trang và dùng hộ chiếu giả. Tại một trại tạm giam gần Lüneburg, Himmler đã cắn một viên xyanua tự tử.[387] Nhiều thủ lĩnh SS khác cố gắng đào tẩu nhưng một số đã nhanh chóng bị bắt. Kaltenbrunner, lãnh đạo RSHA và trưởng phòng ban chủ chốt SS cấp cao nhất còn sống sau khi Himmler tự sát, bị bắt ở khu vực dãy Alpen ở Bayern.[388] Kaltenbrunner nằm trong số 24 bị cáo bị đưa ra xét xử tại Tòa án Quân sự Quốc tế vào năm 1945–46.[389]

Một số thành viên SS phải chịu sự hành quyết, tra tấn và đánh đập dưới bàn tay của các tù nhân được thả tự do, người tị nạn, hay lính Đồng Minh.[390][391] Lính Mỹ thuộc Trung đoàn số 157 khi tiến vào trại tập trung tại Dachau vào tháng 4 năm 1945 và chứng kiến sự khổ đau của con người và tàn ác của SS, đã bắn chết một số lính gác trại còn lại.[392] Ngày 15 tháng 4 năm 1945, quân đội Anh tiến vào Bergen-Belsen. Họ cho lính canh SS khẩu phần ăn ít ỏi, ép phải làm việc không nghỉ và xử lý đống tử thi còn lại, dùng lưỡi lê đâm hoặc báng súng đánh nếu làm chậm.[393] Một số thành viên của Quân đoàn Tình báo Phản gián của Quân đội Hoa Kỳ đã đưa những lính gác trại SS bị bắt đến các trại tị nạn vì biết rằng họ sẽ không thoát khỏi cái chết nếu rơi vào tay những nạn nhân sống sót.[394]

Tòa án quân sự quốc tế ở Nürnberg[sửa | sửa mã nguồn]

Thi thể Kaltenbrunner sau khi bị treo cổ vào ngày 16 tháng 10 năm 1946

Đồng Minh khởi động tố tụng hợp pháp những người Quốc xã bị bắt, lập ra Tòa án quân sự quốc tế ở Nürnberg vào năm 1945.[395] Phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh đầu tiên đối với 24 nhân vật nổi bật như Hermann Göring, Albert Speer, Joachim von Ribbentrop, Alfred Rosenberg, Hans Frank và Kaltenbrunner diễn ra bắt đầu từ tháng 11 năm 1945. Họ bị cáo buộc bốn tội danh: âm mưu, tiến hành chiến tranh xâm lược, tội ác chiến tranh, và tội ác chống lại loài người vi phạm luật pháp quốc tế.[395] 20 người nhận án tử hình, trong đó có Kaltenbrunner bị tuyên phạm tội ác chống nhân loại và bị xử tử vào ngày 16 tháng 10 năm 1946.[396] Rudolf Höss, cựu chỉ huy trại Auschwitz, người đã làm chứng thay mặt Kaltenbrunner và những người khác, đã bị xét xử và hành hình vào năm 1947.[397]

Sau phiên tòa đầu tiên, nhiều phiên xử và bản án SS đã tiếp nối.[398] Nhiều bị cáo cố gắng tự bào chữa bằng lý do là chỉ đơn thuần làm theo lệnh cấp trên, điều họ phải tuân thủ vô điều kiện vì bổn phận và tuyên thệ. Tòa không coi đây là sự biện hộ chính đáng.[399] Trong một phiên tòa xét xử 40 sĩ quan SS và lính gác trại Auschwitz diễn ra ở Kraków vào tháng 11 năm 1947, hầu hết bị cáo đều bị kết tội, 23 người nhận án tử hình.[400] Bên cạnh Đồng Minh phương Tây, phía Liên Xô cũng xét xử và kết án khoảng 37.000 thành viên SS. Các bản án gồm treo cổ hoặc lao động khổ sai dài hạn.[401] Piotr Cywiński, giám đốc Bảo tàng Auschwitz-Birkenau, ước tính chỉ có 1.650 đến 1.700 trong số 70.000 thành viên SS dính dáng đến những tội ác trong trại tập trung bị xét xử sau chiến tranh.[402] Tòa án quân sự quốc tế tuyên bố SS là tổ chức tội phạm vào năm 1946.[403]

Chạy trốn[sửa | sửa mã nguồn]

Hộ chiếu Hội Chữ thập đỏ dưới tên "Ricardo Klement" mà Adolf Eichmann sử dụng để nhập cảnh Argentina năm 1950

Sau chiến tranh, nhiều cựu đảng viên Quốc xã tẩu thoát sang Nam Mỹ, đặc biệt là đến Argentina, nơi chế độ Juan Perón chào đón họ.[404] Trong những năm 1950, cựu tù Dachau Lothar Hermann phát hiện cư dân Buenos Aires Ricardo Klement thực chất là Adolf Eichmann, người mà năm 1948 kiếm được căn cước giả và giấy phép nhập cảnh vào Argentina nhờ một tổ chức do giám mục Alois Hudal đứng đầu. Hudal là một giáo sĩ người Áo ủng hộ Quốc xã khi ấy đang cư trú ở Ý.[405] Eichmann bị Mossad, cục tình báo của Israel, bắt ở Buenos Aires vào ngày 11 tháng 5 năm 1960. Tại phiên tòa ở Jerusalem năm 1961, Eichmann bị kết tội và kết án tử hình bằng treo cổ. Eichmann được cho là đã từng tuyên bố rằng: "Tôi sẽ vừa cười vừa nhảy vào mả của mình vì cảm giác là tôi có 5 triệu mạng người cắn rứt lương tâm của tôi đưa đến một nguồn thỏa mãn vô biên".[f][406] Franz Stangl, chỉ huy trại tập trung Treblinka, cũng trốn đến Nam Mỹ nhờ mạng lưới Hudal hỗ trợ. Stangl bị trục xuất về Đức năm 1967, nhận án tù chung thân năm 1970 và qua đời sau đó 1 năm.[407]

Sợ sẽ phải đối mặt với án tử hình khi bị bắt, Mengele trốn khỏi Đức vào ngày 17 tháng 4 năm 1949.[408] Nhờ một mạng lưới của các cựu thành viên SS, Mengele đến Genova và kiếm được hộ chiếu giả dưới danh tính "Helmut Gregor" từ Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế. Ông lên tàu đi đến Argentina trong tháng 7.[409] Biết rằng mình đang bị truy nã, Mengele chuyển đến Paraguay năm 1958 và Brasil năm 1960. Cả hai lần ông đều được cựu phi công Luftwaffe Hans-Ulrich Rudel giúp đỡ.[410] Mengele bị đột quỵ khi đang bơi và chết đuối vào năm 1979.[411]

Hàng nghìn người Quốc xã, bao gồm những cựu thành viên SS như cảnh vệ Trawniki Jakob Reimer và cộng tác viên người Adyghe Tscherim Soobzokov, trốn đến Hoa Kỳ dưới vỏ bọc người tị nạn và đôi khi dùng giấy tờ giả mạo.[412] Những người SS khác như Soobzokov, Wilhelm Höttl, Otto von Bolschwing (sĩ quan phụ tá của Eichmann) và tội phạm chiến tranh đã bị buộc tội Theodor Saevecke, được cục tình báo Hoa Kỳ thuê để chống Liên Xô. Nhân viên CIA Harry Rositzke nói rằng: "Việc lợi dụng bất kỳ tên khốn nào miễn là hắn chống Cộng là một công việc mang tính bản năng. Sự hăm hở hay khát khao tuyển cộng tác viên đồng nghĩa bạn không để ý quá kỹ thông tin của họ."[413] Tương tự như Mỹ, Liên Xô cũng dùng người SS sau chiến tranh. Ví dụ, Chiến dịch Theo đã lan truyền "tin đồn nổi loạn" ở các vùng của Đức do quân Đồng minh chiếm đóng.[414]

Simon Wiesenthal và nhiều người khác đã suy đoán về sự tồn tại của một mạng lưới đào tẩu của Đức Quốc xã với mật danh là ODESSA (từ viết tắt của Organization der ehemaligen SS-Angehörigen, Tổ chức các cựu thành viên SS) được cho là đã giúp tội phạm chiến tranh tìm nơi ẩn náu ở châu Mỹ Latinh.[415] Nữ nhà văn Anh Gitta Sereny, người từng phỏng vấn nhiều thành viên SS, không nghĩ vậy mà cho sự hỗn loạn hậu chiến và mạng lưới Hudal là những lối thoát giúp họ có cơ hội chạy trốn. Trong khi ODESSA tồn tại hay không chưa được chứng minh, Sereny lưu ý rằng "tất nhiên có những tổ chức cứu trợ Quốc xã khác nhau sau chiến tranh — sẽ là ngạc nhiên nếu không có".[416]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tại Cộng hòa Liên bang Ðức, ký hiệu ᛋᛋ được xem là công cụ tuyên truyền phản hiến pháp và bị cấm sử dụng công khai theo điều 86, đoạn 1, số 1, Bộ luật hình sự Đức (StGB)[1]
  2. ^ a ă Protégé (tiếng Pháp) có nghĩa là "Người được bảo trợ".
  3. ^ Buchenwald, Dachau, Flossenbürg, Mauthausen, RavensbrückSachsenhausen.[100]
  4. ^ Không nên nhầm lẫn với SS-Sonderkommandos, đơn vị đặc biệt cùng tên của SS.
  5. ^ Để trả thù, Hitler đã lệnh bắt hơn 10.000 người Séc; xử bắn 1.300 người, bao gồm tất cả nam giới từ thị trấn Lidice gần đó (được cho là nơi thích khách ám sát Heydrich ẩn náu). Thị trấn sau đó đã bị san phẳng.[272]
  6. ^ Eichmann bào chữa rằng đó là ông nói về những "kẻ thù của Đệ tam Đế chế Đức".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Simek, Rudolf. “Runen gestern, heute, morgen” [Chữ Rune của hôm qua, hôm nay và ngày mai]. Bundeszentrale für politische Bildung (bằng tiếng Đức). 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020. 
  2. ^ a ă Weale 2010, tr. 26.
  3. ^ McNab 2009, tr. 137.
  4. ^ a ă Evans 2008, tr. 318.
  5. ^ Evans 2003, tr. 228.
  6. ^ Michael & Doerr 2002, tr. 356.
  7. ^ McNab 2009, tr. 14, 16.
  8. ^ McNab 2009, tr. 14.
  9. ^ Weale 2010, tr. 16.
  10. ^ a ă â McNab 2009, tr. 16.
  11. ^ Hein 2015, tr. 10.
  12. ^ Weale 2010, tr. 26–29.
  13. ^ Koehl 2004, tr. 34.
  14. ^ Cook & Bender 1994, tr. 17, 19.
  15. ^ a ă Laqueur & Baumel 2001, tr. 604.
  16. ^ Weale 2010, tr. 30.
  17. ^ a ă Weale 2010, tr. 32.
  18. ^ Hein 2015, tr. 12.
  19. ^ a ă Weale 2010, tr. 45–46.
  20. ^ Weale 2010, tr. 32–33.
  21. ^ Miller & Schulz 2012, tr. 1–2.
  22. ^ McNab 2009, tr. 18.
  23. ^ Weale 2010, tr. 47.
  24. ^ Longerich 2012, tr. 113.
  25. ^ a ă Burleigh & Wippermann 1991, tr. 272–273.
  26. ^ Weale 2010, tr. 45–47, 300–305.
  27. ^ Miller & Schulz 2012, tr. 2–3.
  28. ^ Kershaw 2008, tr. 308–314.
  29. ^ Baranowski 2010, tr. 196–197.
  30. ^ Zentner & Bedürftig 1991, tr. 901.
  31. ^ Zentner & Bedürftig 1991, tr. 903.
  32. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. 606.
  33. ^ Allen 2002, tr. 112.
  34. ^ Höhne 2001, tr. 146, 147.
  35. ^ Stackelberg 2002, tr. 116.
  36. ^ a ă Jacobsen 1999, tr. 82, 93.
  37. ^ Weale 2010, tr. 62–67.
  38. ^ Weale 2010, tr. 63–65.
  39. ^ Langerbein 2003, tr. 19.
  40. ^ Yenne 2010, tr. 115.
  41. ^ Höhne 2001, tr. 148–149.
  42. ^ Weale 2010, tr. 65–66.
  43. ^ Höhne 2001, tr. 150–151.
  44. ^ Yenne 2010, tr. 93.
  45. ^ Yenne 2010, tr. 94.
  46. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. 608.
  47. ^ Yenne 2010, tr. 111–113.
  48. ^ a ă Langerbein 2003, tr. 21.
  49. ^ Himmler 1936, tr. 134.
  50. ^ Weale 2012, tr. 60–61.
  51. ^ a ă â Rummel 1992, tr. 12–13.
  52. ^ Rummel 1992, tr. 12.
  53. ^ Tòa án Quân sự Quốc tế 1946.
  54. ^ a ă Williams 2001, tr. 77.
  55. ^ a ă Buchheim 1968, tr. 157.
  56. ^ Hein 2015, tr. 66–71.
  57. ^ Evans 2005, tr. 54.
  58. ^ Williams 2001, tr. 61.
  59. ^ Hildebrand 1984, tr. 13–14.
  60. ^ Kershaw 2008, tr. 313, 316.
  61. ^ McNab 2009, tr. 9, 17, 26–27, 30, 46–47.
  62. ^ Reitlinger 1989, tr. 90.
  63. ^ Dear & Foot 1995, tr. 814–815.
  64. ^ Longerich 2012, tr. 204.
  65. ^ a ă â Longerich 2012, tr. 470.
  66. ^ Hein 2015, tr. 70–71.
  67. ^ Read 2005, tr. 512–514.
  68. ^ Evans 2005, tr. 584.
  69. ^ a ă Read 2005, tr. 515.
  70. ^ Evans 2005, tr. 590.
  71. ^ Evans 2005, tr. 591.
  72. ^ Hildebrand 1984, tr. 61–62.
  73. ^ Weale 2010, tr. 85.
  74. ^ Hildebrand 1984, tr. 61.
  75. ^ Koehl 2004, tr. 144, 148, 169, 176–177.
  76. ^ McNab 2009, tr. 165.
  77. ^ Spielvogel 1992, tr. 102–108.
  78. ^ Cook & Bender 1994, tr. 8, 9.
  79. ^ Cook & Bender 1994, tr. 9, 12, 17–19.
  80. ^ Hoffmann 2000, tr. 157, 160, 165.
  81. ^ Hoffmann 2000, tr. 166.
  82. ^ Hoffmann 2000, tr. 181–186.
  83. ^ Cook & Bender 1994, tr. 17–19.
  84. ^ Hoffmann 2000, tr. 157, 160, 165, 166, 181–186.
  85. ^ Cook & Bender 1994, tr. 19, 33.
  86. ^ Hoffmann 2000, tr. 32, 48, 57.
  87. ^ Hoffmann 2000, tr. 36–48.
  88. ^ Joachimsthaler 1999, tr. 288.
  89. ^ Hoffmann 2000, tr. 32.
  90. ^ a ă Hoffmann 2000, tr. 36.
  91. ^ Felton 2014, tr. 32–33.
  92. ^ Hoffmann 2000, tr. 36, 48.
  93. ^ Felton 2014, tr. 18.
  94. ^ Padfield 2001, tr. 128–129.
  95. ^ Weale 2010, tr. 95.
  96. ^ Evans 2005, tr. 85.
  97. ^ Hilberg 1985, tr. 222.
  98. ^ Hein 2015, tr. 63.
  99. ^ Wachsmann 2010, tr. 22.
  100. ^ Weale 2010, tr. 106–108.
  101. ^ Weale 2010, tr. 108.
  102. ^ Evans 2008, tr. 366–367.
  103. ^ Weale 2010, tr. 108–109.
  104. ^ Ayçoberry 1999, tr. 273.
  105. ^ Stein 2002, tr. 23.
  106. ^ a ă Flaherty 2004, tr. 156.
  107. ^ Stein 2002, tr. 285–287.
  108. ^ Stein 2002, tr. 18, 287.
  109. ^ Mollo 1991, tr. 1–3.
  110. ^ Stein 2002, tr. 27.
  111. ^ Butler 2001, tr. 45.
  112. ^ Rossino 2003, tr. 114, 159–161.
  113. ^ a ă â Flaherty 2004, tr. 149.
  114. ^ Hein 2015, tr. 82.
  115. ^ Stone 2011, tr. 127.
  116. ^ Longerich 2010, tr. 144–145.
  117. ^ Evans 2008, tr. 14–15.
  118. ^ Flaherty 2004, tr. 109–111.
  119. ^ Kershaw 2001, tr. 246.
  120. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. xxxi.
  121. ^ Reynolds 1997, tr. 6, 7.
  122. ^ Stein 2002, tr. 32.
  123. ^ Stein 2002, tr. 33–35.
  124. ^ a ă McNab 2009, tr. 66.
  125. ^ Hildebrand 1984, tr. 50.
  126. ^ Weale 2010, tr. 229.
  127. ^ Hellwinkel 2014, tr. 9.
  128. ^ Reitlinger 1989, tr. 147.
  129. ^ a ă â Stein 2002, tr. 61.
  130. ^ Butler 2003, tr. 64.
  131. ^ Manning 1999, tr. 59.
  132. ^ Sydnor 1977, tr. 93.
  133. ^ Weale 2012, tr. 251.
  134. ^ Sydnor 1977, tr. 102.
  135. ^ Flaherty 2004, tr. 143.
  136. ^ a ă Stein 2002, tr. 150, 153.
  137. ^ Koehl 2004, tr. 213–214.
  138. ^ Mattson 2002, tr. 77, 104.
  139. ^ Flaherty 2004, tr. 162, 163.
  140. ^ Weale 2012, tr. 297.
  141. ^ Bessel 2006, tr. 110–111.
  142. ^ Bessel 2006, tr. 110.
  143. ^ Flaherty 2004, tr. 163, 165.
  144. ^ Flaherty 2004, tr. 163–166.
  145. ^ Evans 2008, tr. 155.
  146. ^ Bessel 2006, tr. 111.
  147. ^ Frusetta 2012, tr. 266.
  148. ^ Glantz 2001, tr. 7–9.
  149. ^ Bracher 1970, tr. 409.
  150. ^ Blood 2006, tr. 64.
  151. ^ Windrow & Burn 1992, tr. 9.
  152. ^ Heer & Naumann 2000, tr. 136.
  153. ^ Browning 2004, tr. 315.
  154. ^ Hilberg 1985, tr. 164.
  155. ^ Kershaw 2008, tr. 696–697.
  156. ^ Flaherty 2004, tr. 168.
  157. ^ Flaherty 2004, tr. 171.
  158. ^ Reynolds 1997, tr. 9.
  159. ^ Flaherty 2004, tr. 173.
  160. ^ Fritz 2011, tr. 69–70, 94–108.
  161. ^ Krausnik 1968, tr. 77.
  162. ^ Longerich 2010, tr. 185.
  163. ^ a ă Rhodes 2003, tr. 159–160.
  164. ^ Bessel 2006, tr. 118–119.
  165. ^ Stackelberg 2007, tr. 163.
  166. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. 164.
  167. ^ Bessel 2006, tr. 119.
  168. ^ Zentner & Bedürftig 1991, tr. 227.
  169. ^ Evans 2008, tr. 256–257.
  170. ^ Longerich 2012, tr. 547.
  171. ^ Gerwarth 2011, tr. 199.
  172. ^ Rhodes 2003, tr. 243.
  173. ^ Blood 2006, tr. 70–71.
  174. ^ Longerich 2012, tr. 625.
  175. ^ Longerich 2010, tr. 198.
  176. ^ Longerich 2012, tr. 626, 629.
  177. ^ Longerich 2012, tr. 627.
  178. ^ Blood 2006, tr. 71–77.
  179. ^ Blood 2006, tr. 121.
  180. ^ Blood 2006, tr. 152–154.
  181. ^ Longerich 2012, tr. 628–629.
  182. ^ Wachsmann 2010, tr. 27.
  183. ^ Wachsmann 2010, tr. 26–27.
  184. ^ Gerwarth 2011, tr. 208.
  185. ^ Longerich 2010, tr. 279–280.
  186. ^ Evans 2008, tr. 283.
  187. ^ Evans 2008, tr. 283, 287, 290.
  188. ^ McNab 2009, tr. 141.
  189. ^ Evans 2008, tr. 295, 299–300.
  190. ^ Wachsmann 2010, tr. 29.
  191. ^ a ă Longerich 2012, tr. 559.
  192. ^ a ă Koehl 2004, tr. 182–183.
  193. ^ a ă Weale 2012, tr. 115.
  194. ^ Gruner 2012, tr. 174–175.
  195. ^ Longerich 2012, tr. 629.
  196. ^ Reitlinger 1989, tr. 265.
  197. ^ Stein 2002, tr. 258–263.
  198. ^ Weale 2012, tr. 114.
  199. ^ Flaherty 2004, tr. 119, 120.
  200. ^ Mazower 2008, tr. 312–313.
  201. ^ Longerich 2012, tr. 485.
  202. ^ Longerich 2012, tr. 482.
  203. ^ Allen 2002, tr. 95.
  204. ^ Longerich 2012, tr. 480–481.
  205. ^ Longerich 2012, tr. 480.
  206. ^ Steinbacher 2005, tr. 129.
  207. ^ Steinbacher 2005, tr. 56.
  208. ^ Longerich 2010, tr. 316.
  209. ^ a ă Longerich 2012, tr. 484.
  210. ^ Weale 2012, tr. 114–115.
  211. ^ Allen 2002, tr. 102.
  212. ^ Weale 2012, tr. 115–116.
  213. ^ Longerich 2012, tr. 483.
  214. ^ Frei 1993, tr. 128.
  215. ^ Weale 2012, tr. 116.
  216. ^ Tòa án Quân sự Quốc tế 1950.
  217. ^ Baxter 2014, tr. 67.
  218. ^ Evans 2008, tr. 486.
  219. ^ Bessel 2006, tr. 143.
  220. ^ Evans 2008, tr. 488–489.
  221. ^ McNab 2009, tr. 68, 70.
  222. ^ Fritz 2011, tr. 350.
  223. ^ Ford & Zaloga 2009, tr. 30.
  224. ^ Ford & Zaloga 2009, tr. 54–56.
  225. ^ Whitmarsh 2009, tr. 12, 13.
  226. ^ Ford & Zaloga 2009, tr. 60, 63, 122, 275.
  227. ^ Stein 2002, tr. 219.
  228. ^ McNab 2013, tr. 295.
  229. ^ Rempel 1989, tr. 233.
  230. ^ Whitmarsh 2009, tr. 73.
  231. ^ Ford & Zaloga 2009, tr. 230.
  232. ^ Wilmot 1997, tr. 282.
  233. ^ McNab 2013, tr. 297.
  234. ^ McNab 2009, tr. 73.
  235. ^ Wilmot 1997, tr. 399–400.
  236. ^ Stein 2002, tr. 222–223.
  237. ^ Wilmot 1997, tr. 420.
  238. ^ McNab 2013, tr. 197.
  239. ^ Shirer 1960, tr. 1085–1086.
  240. ^ Weinberg 1994, tr. 701.
  241. ^ Murray & Millett 2001, tr. 439–442.
  242. ^ Weinberg 1994, tr. 765–766.
  243. ^ Murray & Millett 2001, tr. 465.
  244. ^ Weinberg 1994, tr. 767–769.
  245. ^ Weinberg 1994, tr. 769.
  246. ^ Stein 2002, tr. 232.
  247. ^ Murray & Millett 2001, tr. 468.
  248. ^ Parker 2012, tr. 278.
  249. ^ Kershaw 2011, tr. 168.
  250. ^ Beevor 2002, tr. 70.
  251. ^ Beevor 2002, tr. 83.
  252. ^ a ă Duffy 2002, tr. 293.
  253. ^ Ziemke 1968, tr. 439.
  254. ^ Beevor 2002, tr. 82.
  255. ^ Seaton 1971, tr. 537.
  256. ^ Duffy 2002, tr. 294.
  257. ^ Stein 2002, tr. 238.
  258. ^ Ziemke 1968, tr. 450.
  259. ^ Messenger 2001, tr. 167–168.
  260. ^ Wachsmann 2015, tr. 542–548.
  261. ^ Fritz 2004, tr. 50–55.
  262. ^ Stein 2002, tr. 237.
  263. ^ a ă Kershaw 2011, tr. 302.
  264. ^ Stein 2002, tr. 246.
  265. ^ McNab 2013, tr. 328, 330, 338.
  266. ^ Moorhouse 2012, tr. 364–365.
  267. ^ Stein 2002, tr. 248–249.
  268. ^ Headland 1992, tr. 22.
  269. ^ Weale 2010, tr. 131.
  270. ^ Langerbein 2003, tr. 21–22.
  271. ^ Höhne 2001, tr. 494–495.
  272. ^ Höhne 2001, tr. 495–496.
  273. ^ Longerich 2012, tr. 661.
  274. ^ Diner 2006, tr. 123.
  275. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. 228.
  276. ^ Montague 2012, tr. 188–190.
  277. ^ Friedlander 1997, tr. 138.
  278. ^ Stackelberg 2007, tr. 220.
  279. ^ Rhodes 2003, tr. 258–260, 262.
  280. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. 195.
  281. ^ a ă â Longerich 2010, tr. 408.
  282. ^ Cesarani 2005, tr. 168, 172.
  283. ^ Cesarani 2005, tr. 173.
  284. ^ Cesarani 2005, tr. 160, 183.
  285. ^ a ă Streim 1989, tr. 436.
  286. ^ Longerich 2012, tr. 405, 412.
  287. ^ Stackelberg 2007, tr. 161.
  288. ^ Flaherty 2004, tr. 109.
  289. ^ Hilberg 1985, tr. 102.
  290. ^ Langerbein 2003, tr. 15–16.
  291. ^ Rhodes 2003, tr. 257.
  292. ^ Flaherty 2004, tr. 120–123.
  293. ^ Rhodes 2003, tr. 210–214.
  294. ^ Zentner & Bedürftig 1991, tr. 228.
  295. ^ Rhodes 2003, tr. 274.
  296. ^ McNab 2009, tr. 37, 40, 41.
  297. ^ Bracher 1970, tr. 214.
  298. ^ Krüger & Wedemeyer-Kolwe 2009, tr. 34.
  299. ^ Krüger & Wedemeyer-Kolwe 2009, tr. 35.
  300. ^ McNab 2013, tr. 224–225.
  301. ^ Pieper 2015, tr. 38.
  302. ^ McNab 2013, tr. 225.
  303. ^ Miller 2006, tr. 308.
  304. ^ Pieper 2015, tr. 52–53.
  305. ^ Pieper 2015, tr. 81–90.
  306. ^ Pieper 2015, tr. 81–82.
  307. ^ Pieper 2015, tr. 119–120.
  308. ^ Miller 2006, tr. 310.
  309. ^ Pieper 2015, tr. 120.
  310. ^ Pieper 2015, tr. 146–147.
  311. ^ McNab 2013, tr. 182.
  312. ^ Stockert 1997, tr. 229.
  313. ^ McNab 2013, tr. 225–230.
  314. ^ Proctor 1988, tr. 86.
  315. ^ Lifton 1986, tr. 147.
  316. ^ Levy 2006, tr. 235–237.
  317. ^ Lifton 1986, tr. 148–149.
  318. ^ Piper 1994, tr. 170.
  319. ^ Lifton & Hackett 1994, tr. 304.
  320. ^ Yahil 1990, tr. 368.
  321. ^ Yahil 1990, tr. 369.
  322. ^ Levy 2006, tr. 248–249.
  323. ^ Posner & Ware 1986, tr. 29.
  324. ^ Posner & Ware 1986, tr. 27.
  325. ^ Lifton 1985.
  326. ^ Pringle 2006, tr. 294–296.
  327. ^ a ă Spielvogel 1992, tr. 108.
  328. ^ Yenne 2010, tr. 132–133.
  329. ^ Yenne 2010, tr. 128–131, 139, 142.
  330. ^ Yenne 2010, tr. 141.
  331. ^ Lower 2013, tr. 108.
  332. ^ Schwarz 1997, tr. 223–244.
  333. ^ Lower 2013, tr. 108–109.
  334. ^ Mühlenberg 2011, tr. 13–14.
  335. ^ Lower 2013, tr. 109.
  336. ^ Century 2011.
  337. ^ Rempel 1989, tr. 223–224.
  338. ^ Mühlenberg 2011, tr. 27.
  339. ^ Benz, Distel & Königseder 2005, tr. 70.
  340. ^ Flaherty 2004, tr. 160.
  341. ^ Koehl 2004, tr. 212–213.
  342. ^ Koehl 2004, tr. 214–219.
  343. ^ Gutmann 2017, Chapter 3.
  344. ^ McNab 2013, tr. 272–273.
  345. ^ McNab 2013, tr. 321–323.
  346. ^ Höhne 2001, tr. 458.
  347. ^ Weale 2012, tr. 306.
  348. ^ Stein 1984, tr. 168.
  349. ^ Stein 1984, tr. 180-190.
  350. ^ Reitlinger 1989, tr. 200–204.
  351. ^ Reitlinger 1989, tr. 199.
  352. ^ Hale 2011, tr. 264–266.
  353. ^ Bishop 2005, tr. 93.
  354. ^ Bishop 2005, tr. 93–94.
  355. ^ Müller 2012, tr. 169.
  356. ^ Motadel 2014, tr. 242.
  357. ^ Stein 2002, tr. 189.
  358. ^ McNab 2013, tr. 326–330.
  359. ^ McNab 2013, tr. 90.
  360. ^ Flaherty 2004, tr. 88–92.
  361. ^ Givhan 1997.
  362. ^ a ă Yenne 2010, tr. 64.
  363. ^ Yenne 2010, tr. 69.
  364. ^ Ziegler 2014, tr. 132–134 và chú thích 13.
  365. ^ Weale 2012, tr. 26.
  366. ^ a ă â b Weale 2012, tr. 32.
  367. ^ Weale 2012, tr. 30.
  368. ^ Weale 2012, tr. 46.
  369. ^ Weale 2012, tr. 49.
  370. ^ a ă â b c Weale 2012, tr. 33.
  371. ^ Ziegler 2014, tr. 133.
  372. ^ Ziegler 2014, tr. 131.
  373. ^ Snyder 1994, tr. 330.
  374. ^ Laqueur & Baumel 2001, tr. 609.
  375. ^ Evans 2008, tr. 724.
  376. ^ Yerger 1997, tr. 13–21.
  377. ^ Stackelberg 2007, tr. 302.
  378. ^ Browder 1996, tr. 205–206.
  379. ^ Art 2006, tr. 43.
  380. ^ Gerwarth 2011, tr. 120–121.
  381. ^ Weale 2012, tr. 107.
  382. ^ Gerwarth 2011, tr. 121.
  383. ^ Anderson 2011.
  384. ^ Mang 2003, tr. 1–5.
  385. ^ Höhne 2001, tr. 580.
  386. ^ Evans 2008, tr. 739–741.
  387. ^ Longerich 2012, tr. 736.
  388. ^ Weale 2012, tr. 410.
  389. ^ Burleigh 2000, tr. 803–804.
  390. ^ MacDonogh 2009, tr. 3.
  391. ^ Murray & Millett 2001, tr. 565–568.
  392. ^ Lowe 2012, tr. 83–84.
  393. ^ Lowe 2012, tr. 84–87.
  394. ^ Brzezinski 2005.
  395. ^ a ă Evans 2008, tr. 741.
  396. ^ Evans 2008, tr. 741–742.
  397. ^ Evans 2008, tr. 743.
  398. ^ Burleigh 2000, tr. 804.
  399. ^ Ingrao 2013, tr. 240–241.
  400. ^ Evans 2008, tr. 743–744.
  401. ^ Burleigh 2010, tr. 549.
  402. ^ Bosacki, Uhlig & Wróblewski 2008.
  403. ^ Zentner & Bedürftig 1991, tr. 906.
  404. ^ Levy 2006, tr. 143–144.
  405. ^ Cesarani 2005, tr. 207.
  406. ^ Arendt 2006, tr. 46.
  407. ^ Evans 2008, tr. 746–747.
  408. ^ Levy 2006, tr. 263.
  409. ^ Levy 2006, tr. 264–265.
  410. ^ Levy 2006, tr. 269, 273.
  411. ^ Levy 2006, tr. 294–295.
  412. ^ Lichtblau 2014, tr. 2–3, 10–11.
  413. ^ Lichtblau 2014, tr. 29–30, 32–37, 67–68.
  414. ^ Biddiscombe 2000, tr. 131–143.
  415. ^ Segev 2010, tr. 106–108.
  416. ^ Sereny 1974, tr. 274.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]