Hannah Arendt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sinh 14 tháng 10, 1906(1906-10-14)
Linden, Đế quốc Đức (hiện tại Hanover, Đức)
Mất 4 tháng 12, 1975 (69 tuổi)
New York City, Hoa Kỳ
Quốc tịch Đức (cho tới 1937)
(1951)
Thời đại Triết lý thế kỷ 20
Lĩnh vực Triết lý phương Tây
Tôn giáo không[1]
Trường phái Triết lý Âu Châu lục địa
Sở thích Lý thuyết chính trị, triết lý lịch sử
Alma mater University of Marburg
University of Heidelberg
Ý tưởng nổi trội Homo faber, animal laborans, the labor–work distinction, banality of evil, vita activa and vita contemplativa, praxis as the highest level of the vita activa,[2] auctoritas, natality[3]
Website www.hannaharendtcenter.org

Johanna "Hannah" Arendt[4] ( /ˈɛərənt/ hoặc /ˈɑrənt/; tiếng Đức: [ˈaːʀənt];[5] 14 tháng 10 năm 1906 – 4 tháng 12 năm 1975) là một lý thuyết gia chính trị sinh ra ở Đức. Mặc dù thường được xem là một triết gia nhưng bà không nhận danh tước này. Là người gốc Do Thái bà đã thoát khỏi Âu Châu trong thời kỳ Holocaust và trở thành công dân Hoa Kỳ. Những tác phẩm của bà Arendt liên hệ tới vấn đề bản chất quyền lực, các vấn đề chính trị, Dân chủ trực tiếp, uy quyền, và chủ nghĩa toàn trị. Để vinh danh bà người ta đã lấy tên để đặt cho Giải Hannah Arendt.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

nhà hồi nhỏ ở Lindener Marktplatz 2, Hannover (Phần trái nhà trắng góc đường)
Bảng tưởng niệm tại nơi sinh ra

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Johanna Arendt sinh năm 1906 là con của một gia đình Do thái thế tục ở Linden gần Hannover. Gia đình bà xuất thân ở Königsberg, và đã trở lại nơi đó khi bà được 3 tuổi. Sau khi cha chết, bà được mẹ, có khuynh hướng dân chủ xã hội, dạy dỗ theo tinh thần tự do. Qua ông bà, bà được biết tới phái Do thái cải tổ tự do. Tuy bà không thuộc một tổ chức tôn giáo nào, nhưng luôn xem mình là người Do thái.

Từ lúc 14 tuổi, bà đã bắt đầu đọc Kritik der reinen Vernunft của KantPsychologie der Weltanschauungen của Karl Jasper cũng như Sören Kierkegaard.[6] Vì tranh caci với một thầy giáo bà phải nghỉ học,[7], lên Berlin, vì không có bằng nên chir được dự thích trong số đó có thần học Ki tô, một trong những người thầy là Romano Guardini.[8] Trở về Königsberg, 1924 bà tự thi lấy bằng tú tài. Lúc còn đi học bà đã lập một nhóm triết học, qua đó 1920 bà gặp Ernst Grumach. Qua anh ta bà làm quen được Anne Mendelssohn[9], cả hai trở thành bạn bè tri kỷ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peter Baehr (2010). Hannah Arendt, Totalitarianism, and the Social Sciences. Stanford University Press. tr. 66. ISBN 9780804756501. Both Hannah Arendt and Aron were assimilated, agnostic Jews (so were Mannheim and Riesman) who became politically radicalized only with the rise of the Nazi movement;... 
  2. ^ Fry, Karin, "Arendt, Hannah" in Women-philosophers.com.
  3. ^ "Arendt" entry in the Stanford Encyclopedia of Philosophy: Section 4
  4. ^ Kelsey Wood (Pulaski Technical College). “Hannah Arendt bio at Literary Encyclopedia”. Litencyc.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  5. ^ "Arendt". Random House Webster's Unabridged Dictionary.
  6. ^ Vgl. Kurt Sontheimer: Hannah Arendt, Piper, München-Zürich 2005, 23.
  7. ^ Vgl. Kurt Sontheimer: Hannah Arendt, Piper, München-Zürich 2005, 23f.
  8. ^ Vgl. Kurt Sontheimer: Hannah Arendt, Piper, München-Zürich 2005, 24.
  9. ^ sau này tên là Anne Mendelssohn-Weil