Trại hủy diệt Sobibór

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sobibór
Trại hủy diệt
Poland Sobibor - death camp mausoleum.jpg
Đài tưởng niệm tại trại Sobibór, với kim tự tháp làm từ cát trộn với tro người chết
Blank.png
WW2-Holocaust-Poland.PNG
Vị trí trại Sobibór (giữa bên phải) trên bản đồ các trại hủy diệt của Đức Quốc xã được đánh dấu bằng hình đầu lâu xương chéo. Biên giới của Ba Lan trong hình là trước khi chiến tranh xảy ra.
Trại hủy diệt Sobibór trên bản đồ Ba Lan
Trại hủy diệt Sobibór
Vị trí của trại Sobibór tại Ba Lan hiện nay
Tọa độ 51°26′50″B 23°35′37″Đ / 51,44722°B 23,59361°Đ / 51.44722; 23.59361Tọa độ: 51°26′50″B 23°35′37″Đ / 51,44722°B 23,59361°Đ / 51.44722; 23.59361
Tên khác SS-Sonderkommando Sobibór
Nổi tiếng vì diệt chủng trong thảm sát người Do Thái Holocaust
Vị trí Gần làng Sobibór, General Government (lãnh thổ Ba Lan bị chiếm đóng)
Chỉ huy xây dựng
Điều hành 3rd SS Division Logo.svg SS-Totenkopfverbände
Chỉ huy trại
  • Franz Stangl (ngày 28 tháng 4 năm 1942 – ngày 30 tháng 8 năm 1942)
  • Franz Reichleitner (ngày 1 tháng 9 năm 1942 – ngày 17 tháng 10 năm 1943)
Mục đích ban đầu Trại hủy diệt
Xây dựng tháng 3 năm 1942 – tháng 5 năm 1942
Thời gian hoạt động ngày 16 tháng 5 năm 1942 – ngày 17 tháng 10 năm 1943
Số phòng hơi ngạt 3 (6 sau khi mở rộng)[1]
Loại tù nhân người Do Thái (và tù binh Liên Xô)
Số lượng tù nhân Khoảng 600–650 vào bất kỳ lúc nào
Số tù nhân bị giết Tối thiểu 200,000–250,000 theo ước đoán
Được giải phóng bởi Đóng cửa trước khi chiến tranh kết thúc
Tù nhân đáng chú ý Thomas Blatt, Leon Feldhendler, Alexander Pechersky
Sách đáng chú ý From the Ashes of Sobibor

Sobibór (phát âm [sɔˈbʲibur], or Sobibor) là một trại hủy diệt của Đức Quốc xã nằm ở vùng ngoại ô của làng Sobibor ở vùng lãnh thổ Ba Lan bị chiếm đóng  của General Government trong Thế chiến II. Trại là một phần của chiến dịch Reinhard bí mật, đánh dấu giai đoạn nguy hiểm nhất của quá trình hủy diệt người Do Thái (Holocaust) ở lãnh thổ Ba Lan bị Đức chiếm đóng. Trại nằm gần thị trấn vùng nông thôn của Włodawa (tiếng Đức: Wolzek), 85 km về phía nam của tỉnh lỵ, Brest-on-the-Bug (Brześć nad Bugiem theo tiếng Ba Lan). Tên chính thức của nó là SS-Sonderkommando Sobibór.[2] Người Do Thái từ Ba Lan, Pháp, Đức, Hà Lan, Tiệp KhắcLiên Xô, cũng như các tù binh chiến tranh của Liên Xô, được vận chuyển đến Sobibór bằng đường sắt và chết ngạt trong các phòng hơi ngạt bị phun khí xả của động cơ xăng lớn.[3] Số người đã bị sát hại tại Sobibor lên tới gần 200.000,[4] và có thể còn nhiều hơn. Tại phiên toà xét sau chiến tranh chống lại các cựu nhân viên SS tại Sobibór, được tổ chức trong hai thập kỷ tại Hagen trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, Giáo sư Wolfgang Scheffler ước tính tổng số người Do Thái bị sát hại tại trại tối thiểu là 250.000.[5][6]

Trong cuộc nổi dậy ngày 14 tháng 10 năm 1943, khoảng 600 tù nhân đã cố gắng để chạy trốn; khoảng một nửa trong số đó  vượt qua hàng rào thành công, trong đó khoảng 50 đã chạy thoát. Ngay sau cuộc nổi dậy, người Đức đóng cửa trại, san đất và trồng thông lên trên để che giấu vị trí của nó. Hiện tại vị trí trại Sobibor đã trở thành Bảo tàng Sobibor, tại đó đã xây dựng một kim tự tháp từ tro và xương người bị nghiền nát của các nạn nhân được thu thập từ những hố hỏa táng sau đó.

Vào tháng 9 năm 2014, một nhóm các nhà khảo cổ khai quật được các hài cốt trong những buồng hơi ngạt dọc theo con đường nhựa. Cũng vào năm 2014 họ đã phát hiện ra một mặt dây chuyền có ghi chữ "Palestine", bằng tiếng Hebrew, tiếng Anhtiếng Ả Rập, có niên đại từ năm 1927, bông tai, và nhẫn cưới với chữ Hebrew, và các chai nước hoa của các nạn nhân Do Thái. Các vật trên đã được tìm thấy trong một bể nước do người Đức lấp kín khi xóa sổ trại này.[7]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lest we forget (ngày 14 tháng 3 năm 2004), "Extermination camp Sobibor" tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2005) The Holocaust. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013.
  2. ^ William L. Shirer (1990). The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany (3 ed., 1960). Simon and Schuster. tr. 968. ISBN 0671728687. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ Schelvis 2007, p. 100: Testimony of SS-Scharführer Erich Fuchs about his own installation of the (at least) 200 HP, V-shaped, 8 cylinder, water-cooled petrol engine at Sobibor.
  4. ^ Raul Hilberg.
  5. ^ Sobibor − The Forgotten Revolt (Internet Archive).
  6. ^ Peter Hayes, Dagmar Herzog (2006). Lessons and Legacies VII: The Holocaust in International Perspective. Northwestern University Press. tr. 272. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2014. Between May 1942 and October 1943 some 200,000 to 250,000 Jews were killed at Sobibor according to the recently published Holocaust Encyclopedia edited by Judith Tydor Baumel. 
  7. ^ Ofer Aderet (ngày 19 tháng 9 năm 2014). “Archaeologists make more historic finds at site of Sobibor gas chambers”. Haaretz.com. 

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]