Dave Farrell

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Dave Farrell
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhDavid Michael Farrell
Nghệ danhPhoenix
Sinh8 tháng 2, 1977 (44 tuổi)[1]
Plymouth, Massachusetts, Mỹ
Thể loại
Nghề nghiệpNhạc sĩ
Nhạc cụBass
Năm hoạt động1995–nay
Hợp tác với
Websitelinkinpark.com

David Michael Farrell, được biết đến với nghệ danh Phoenix (Phượng hoàng) (sinh ngày 8 tháng 2 năm 1977) là một nhạc sĩ người Mỹ, được biết đến với vai trò là tay guitar bass và hát bè của ban nhạc rock Linkin Park. [2] Ông cũng là thành viên của Snax, một ban nhạc pop punk.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Farrell được mẹ dạy chơi guitar khi còn học trung học. [3] Ông lớn lên ở Plymouth, sau đó chuyển đến Mission Viejo, California khi mới 5 tuổi.

Tasty Snax[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đang học trung học, Farrell tham gia ban nhạc rock Ska-Punk Công giáo tên là 'Tasty Snax', sau này đổi tên thành 'The Snax'. [4] Phoenix chuyển từ guitar điện sang bass để phù hợp với The Snax. Ban nhạc bao gồm Mark Fiore, người bạn đại học lâu năm của Farrell và là người đã hợp tác thực hiện nhiều album video khác nhau cho Linkin Park. Ban nhạc đã thu âm hai album phòng thu và một album tổng hợp, và ký hợp đồng với Screaming Giant Records. [5] Farrell rời ban nhạc vào năm 2000.

Linkin Park[sửa | sửa mã nguồn]

Dave Farrell trình diễn cùng Linkin Park tại The Globe Arena ở Stockholm.

Farrell gia nhập Xero, tiền thân của Linkin Park, sau khi gặp Brad Delson tại trường UCLA. [6] Ông đã đóng góp cho băng demo cùng tên của ban nhạc vào năm 1997, nhưng sau đó đã rời đi để lưu diễn với Tasty Snax. Khoảng trống của Farrell tạm thời được thay thế bởi Delson, Ian Hornbeck và Scott Koziol, tất cả đều đã đóng góp cho Hybrid Theory, album đầu tay của Linkin Park. [7] Farrell trở lại Linkin Park vào năm 2000 sau một năm vắng mặt. Tương lai của Linkin Park không chắc chắn sau cái chết của giọng ca chính Chester Bennington vào ngày 20 tháng 7 năm 2017. [8] Sau gần ba năm gián đoạn, Farrell tiết lộ rằng Linkin Park đang tạo ra âm nhạc mới. [9]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Với Linkin Park[sửa | sửa mã nguồn]

Với Tasty Snax[sửa | sửa mã nguồn]

  • Run Joseph Run (1998)
  • Snax (2000)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Biography
  2. ^ “Dave Farrell”. Last.FM. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  3. ^ “Dave "Phoenix" Farrell”. lpzistas.com. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  4. ^ “Dave Farrell (Phoenix)”. Spirit of Metal. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  5. ^ “Tasty Snax Discography”. AllMusic.com. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  6. ^ Kendall, Rebecca (25 tháng 3 năm 2014). “Congressman, entertainment luminaries honored at UCLA environment gala”. UCLA Newsroom. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019.
  7. ^ Childers, Chad (24 tháng 10 năm 2016). “18 Years Ago: Linkin Park Unleashed Hybrid Theory”. KBAT. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019.
  8. ^ Sharp, Tyler (19 tháng 7 năm 2018). “Linkin Park Bassist Dave Farrell Writes Open Letter to Chester Bennington Read More: Linkin Park Bassist Writes Open Letter to Chester Bennington”. Loudwire. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019.
  9. ^ “Linkin Park Have Been Working On New Music”. Kerrang!. 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]