Giải Booker Quốc tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Giải Booker Quốc tế
Ismail Kadare.jpg
Ismail Kadare, người đoạt giải đầu tiên
Quốc giaVương quốc Anh
Được trao bởiMan Group
Phần thưởng50.000 bảng Anh
Lần đầu tiên2005; 16 năm trước (2005)
Trang chủthemanbookerprize.com/international

Giải Booker Quốc tế (trước là Giải Man Booker Quốc tế) là một giải thưởng văn học quốc tế của Anh. Giải thưởng được giới thiệu tháng 6 năm 2004 để bổ sung cho Giải Man Booker.[1] Tài trợ bởi Man Group, từ năm 2005 đến 2015 giải thưởng được trao hai năm một lần cho tác giả còn sống bất kể quốc tịch vì một công trình bằng tiếng Anh hoặc được dịch sang tiếng Anh.[2] Giải thưởng ghi nhận "sức sáng tạo và phát triển bền bỉ cũng như đóng góp chung cho văn học hư cấu trên trường quốc tế",[3] và trao cho toàn bộ công trình của tác giả thay vì một tác phẩm duy nhất.

Kể từ năm 2016, giải thưởng được trao hàng năm cho một quyển sách dịch sang tiếng Anh và xuất bản ở Anh và Ireland, với số tiền thưởng 50.000 bảng Anh chia đều cho tác giả và dịch giả của tác phẩm đoạt giải.[4][5]

Từ ngày 1 tháng 6 năm 2019, Crankstart, quỹ từ thiện của Sir Michael Moritz và vợ Harriet Heyman, bắt đầu tài trợ cho Giải Booker. Kể từ đó, giải đổi tên thành Giải Booker và Giải Booker Quốc tế. Về quyết định hỗ trợ Quỹ Giải Booker và giải thưởng, Moritz nói, "Cả hai chúng tôi đều không thể tưởng tượng một ngày mà không đọc sách. Giải thưởng Booker là cách chúng tôi lan truyền những hiểu biết, những khám phá, những niềm vui và sự lý thú mà những tác phẩm hư cấu xuất sắc mang lại".

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Giải Man Booker chỉ dành cho tác giả từ khối Thịnh vượng chung, Ireland, và Zimbabwe, Giải Quốc tế dành cho tác giả mọi quốc tịch có tác phẩm bằng tiếng Anh, kể cả bản dịch.[6] Giải thưởng trị giá 60.000 bảng Anh và được trao hai năm một lần cho toàn bộ sự nghiệp của một tác giả còn sống, tương tự như Giải Nobel Văn học.[3] Giải Man Booker Quốc tế cũng có một giải cho bản dịch. Nếu áp dụng được, tác giả đoạt giải có thể chọn dịch giả của mình để nhận số tiền thưởng 15.000 bảng Anh.[7]

Năm 2005, nhà văn Albania Ismail Kadare đoạt giải thưởng Man Booker Quốc tế đầu tiên. Ca ngợi sự đánh giá toàn diện, nhà báo Hephzibah Anderson cho rằng Giải Man Booker Quốc tế "nhanh chóng trở thành một giải thưởng quan trọng, một lựa chọn thay thế sáng giá cho giải Nobel".[8]

Năm Tác giả Quốc gia Dịch giả Ngôn ngữ
2005 Ismail Kadare Albania N/A Tiếng Albania
2007 Chinua Achebe Nigeria N/A Tiếng Anh
2009 Alice Munro Canada N/A Tiếng Anh
2011 Philip Roth Hoa Kỳ N/A Tiếng Anh
2013 Lydia Davis Hoa Kỳ N/A Tiếng Anh
2015 László Krasznahorkai Hungary George SzirtesOttilie Mulzet Tiếng Hungary

Sau 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2015, Giải Văn học hư cấu Nước ngoài Independent thông báo ngừng tổ chức.[5] Tiền thưởng của giải sẽ được góp vào Giải Man Booker Quốc tế, và sẽ hoạt động giống với giải Independent: hàng năm trao tặng một quyển sách hư cấu được dịch sang tiếng Anh, với số tiền thưởng 50.000 bảng Anh chia đều giữa tác giả và dịch giả.[9] Mỗi tác giả và dịch giả được shortlist sẽ nhận 1.000 bảng Anh. Mục đích của giải thưởng là để khuyến khích việc xuất bản và đọc những tác phẩm dịch chất lượng và đề cao vai trò của dịch giả. Các giám khảo chọn một longlist gồm mười quyển sách vào tháng 3, lọc ra shortlist vào tháng 4, và tác phẩm đoạt giải được thông báo vào tháng 5.[10]

Năm Tác giả Quốc gia Dịch giả Quốc gia Tác phẩm Ngôn ngữ
2016 Han Kang Hàn Quốc Deborah Smith Vương quốc Anh The Vegetarian
(채식주의자)
Tiếng Hàn
2017 David Grossman Israel Jessica Cohen Israel/Anh/Mỹ A Horse Walks Into a Bar
(סוס אחד נכנס לבר‎)
Tiếng Hebrew
2018 Olga Tokarczuk Ba Lan Jennifer Croft Hoa Kỳ Flights
(Bieguni)
Tiếng Ba Lan
2019 Jokha al-Harthi Oman Marilyn Booth Hoa Kỳ Celestial Bodies
(سـيّـدات الـقـمـر، روايـة)
Tiếng Ả Rập
2020 Marieke Lucas Rijneveld Hà Lan Michele Hutchison Vương quốc Anh The Discomfort of Evening
(De avond is ongemak)
Tiếng Hà Lan
2021 David Diop Pháp Anna Moschovakis Hoa Kỳ At Night All Blood is Black
(Frère d'âme)
Tiếng Pháp

Đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

2005[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Man Booker Quốc tế đầu tiên được quyết định bởi John Carey, Alberto ManguelAzar Nafisi.[11] Các ứng viên được thông báo vào ngày 2 tháng 5 năm 2005 ở Đại học Georgetown tại Washington, D.C.[3] Tiểu thuyết gia người Albania Ismail Kadare đoạt Giải Man Booker Quốc tế đầu tiên năm 2005.[11] Trưởng ban giám khảo, Giáo sư John Carey nói Kadare là "một nhà văn toàn diện trong truyền thống kể chuyện bắt đầu từ Homer."[11] Kadare nói anh "hết sức vinh dự" được nhận giải thưởng,[11] và đã chọn một dịch giả để nhận số tiền thưởng 15.000 bảng Anh.[11] Ngày 27 tháng 6, Kadare nhận giải thưởng của mình ở Edinburgh.[11]

Người đoạt giải
Người được đề cử

2007[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2007 được chấm bởi Elaine Showalter, Nadine GordimerColm Tóibin.[6] Các ứng cử viên cho Giải Man Booker Quốc tế thứ hai được thông báo vào ngày 12 tháng 4 năm 2007 tại Đại học Massey, Toronto.[6] Tác giả người Nigeria Chinua Achebe được công bố là người đoạt giải thưởng Quốc tế năm 2007.[12] Giám khảo Nadine Gordimer nói Achebe là "cha đẻ của văn học châu Phi hiện đại" và rằng anh là một phần "không thể thiếu" cho văn học thế giới.[12] Ngày 28 tháng 6, Achebe nhận giải thưởng của mình ở Oxford.[12]

Người đoạt giải
Người được đề cử

2009[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2009 được chấm bởi Jane Smiley, Amit ChaudhuriAndrey Kurkov.[13] Các ứng cử viên cho Giải Man Booker Quốc tế thứ ba được thông báo ngày 18 tháng 3 năm 2009 tại Thư viện Công cộng New York.[14] Nhà văn truyện ngắn người Canada Munro đoạt giải thưởng năm 2009 cho những tác phẩm của cô.[13] Giám khảo Jane Smiley nói việc chọn một người duy nhất là "một thử thách", nhưng Munro đã chiến thắng ban giám khảo.[13] Về công trình của Munro, Smiley nói "Văn của cô ấy về cơ bản là hoàn hảo. Bất kỳ nhà văn nào cũng phải kinh ngạc trước những tác phẩm tinh tế và chính xác của cô. Sự thấu hiểu về mọi lĩnh vực của cô thật sắc bén".[13] Munro, người nói cô "hoàn toàn bất ngờ và vui mừng" trước kết quả, nhận giải thưởng tại Đại học Trinity Dublin ngày 25 tháng 6.[2][13]

Người đoạt giải
Người được đề cử

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2011 được chấm bởi Rick Gekoski, Carmen Callil (rút lui để phản đối kết quả) và Justin Cartwright.[15] Các ứng viên cho Giải Man Booker Quốc tế lần thứ tư được thông báo ngày 30 tháng 3 năm 2011 tại Sydney, Úc.[16] John le Carré yêu cầu được loại khỏi danh sách, nói rằng anh rất "hãnh diện", nhưng không muốn tranh tài ở giải thưởng văn học.[17] Tuy nhiên, giám khảo Dr Rick Gekoski nói mặc dù anh thất vọng khi le Carré muốn rút lui, tên của anh sẽ vẫn có trên danh sách.[17] Ngày 18 tháng 5 năm 2011, tiểu thuyết gia người Mỹ Roth tại Lễ hội Nhà văn Sydney.[18] Về giải thưởng của mình, Roth nói, "Đây là một vinh dự lớn và tôi rất vui được nhận nó".[18] Anh hy vọng rằng giải thưởng sẽ giúp anh nhận được sự quan tâm của độc giả toàn thế giới, những người không biết đến những tác phẩm của anh.[18] Ngày 28 tháng 6, Roth nhận giải thưởng của mình ở Luân Đôn; tuy nhiên, anh không thể tham dự trực tiếp vì lý do sức khỏe nên đã gửi một đoạn video ngắn.[18][19] Sau khi Roth được công bố là người đoạt giải, Carmen Callil xin rút khỏi ban giám khảo, nói rằng "Tôi không coi anh ta là nhà văn... trong 20 năm nữa liệu còn ai đọc anh ta nữa?" Callil sau đó viết một bài xã luận trong tờ The Guardian giải thích quan điểm của mình và tại sao cô rời khỏi ban giám khảo.[7][20]

Người đoạt giải
Người được đề cử

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2013 được chấm bởi Christopher Ricks, Elif Batuman, Aminatta Forna, Lý Dực VânTim Parks.[21] Các ứng viên cho giải thưởng Man Booker Quốc tế lần thứ năm được công bố ngày 24 tháng 1 năm 2013.[22] Marilynne Robinson là người duy nhất trong mười ứng cử viên là từng được đề cử trước đây.[22] Ngày 22 tháng 5, nhà văn truyện ngắn Lydia Davis được công bố là người đoạt giải thưởng năm 2013 tại một buổi lễ ở Bảo tàng Victoria và Albert, Luân Đôn.[23] Thông báo chính thức về giải thưởng của Davis trên trang web giải thưởng Man Booker mô tả văn chương của cô có "sự súc tích và chính xác của thơ ca". Trưởng ban giám khảo Christopher Ricks nói rằng, "Có sự cảnh giác trong những câu chuyện của cô ấy, và There is vigilance to her stories, và sự chú ý đầy mộng tưởng. Cảnh giác ở cách cảm nhận sự vật đến từng con chữ và âm tiết; cảnh giác ở từng động cơ đen tối và cảm giác mờ ảo của mỗi người".[24]

Người đoạt giải
Người được đề cử

2015[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2015 được chấm bởi Marina Warner, Nadeem Aslam, Elleke Boehmer, Edwin Frank và Wen-chin Ouyang.[25] Ngày 24 tháng 3 năm 2015, các ứng viên cho Giải Man Booker Quốc tế lần thứ sáu được công bố.[25] László Krasznahorkai trở thành tác giả Hungary đầu tiên nhận giải thưởng Man Booker, cho những "đóng góp trong văn học hư cấu trên trường quốc tế" của anh. Trưởng ban tác giả Marina Warner so sánh văn chương của anh với KafkaBeckett. Hai dịch giả của Krasznahorkai, George SzirtesOttilie Mulzet, cùng nhận số tiền thưởng 15.000 bảng Anh cho dịch giả.[26]

Người đoạt giải
Người được đề cử

2016[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2016 được chấm bởi Boyd Tonkin, Tahmima Anam, David Bellos, Daniel Medin và Ruth Padel.[28] Các ứng viên cho giải Man Booker Quốc tế lần thứ bảy được công bố ngày 14 tháng 4 năm 2016.[29] Sáu ứng cử viên được chọn từ longlist gồm 13 người.[28][30] Han trở thành tác giả Hàn Quốc đầu tiên nhận giải thưởng, và theo hình thức mới cho năm 2016, Smith trở thành dịch giả đầu tiên cùng nhận giải. Nhà báo Anh Boyd Tonkin, trưởng ban giám khảo, nói rằng toàn bộ ban giám khảo nhất trí với quyết định ấy. Về quyển sách, anh nói, "bằng một văn phong bay bổng và sắc bén, nó cho thấy tác động của sự chối từ lên nữ chính và những người xung quanh cô. Quyển sách đặc kín, thanh nhã và đáng sợ này sẽ tồn đọng trong tâm trí, và có khi là giấc mơ, của độc giả rất lâu".[31]

Người đoạt giải
Shortlist
Longlist

2018[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2018 được chấm bởi Lisa Appignanesi, , Michael Hofmann, Hari Kunzru, Tim Martin và Helen Oyeyemi. Danh sách ứng viên longlist cho Giải Man Booker Quốc tế lần thứ chín được công bố ngày 12 tháng 3 năm 2018. Ngày 12 tháng 4 năm 2018, sáu quyển sách lọt vào shortlist được công bố tại Somerset House ở Luân Đôn. Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại Bảo tàng Victoria và Albert ở Luân Đôn, Tokarczuk được công bố là người đoạt giải, trờ thành tác giả Ba Lan đầu tiên nhận giải thưởng này,[32] cùng với dịch giả Croft.[33] Lisa Appignanesi mô tả Tokarczuk là một "nhà văn với sự hóm hỉnh, trí tưởng tượng tài tình và màu sắc văn chương chói lóa."[34]

Người đoạt giải
Shortlist
Longlist
  • Laurent Binet (Pháp), Sam Taylor (dịch giả), cho The 7th Function of Language (Harvill Secker) (La Septième Fonction du langage)
  • Javier Cercas (Tây Ban Nha), Frank Wynne (dịch giả), cho The Impostor (MacLehose Press) (El impostor)
  • Jenny Erpenbeck (Đức), Susan Bernofsky (dịch giả), cho Go, Went, Gone (Portobello Books) (Gehen, ging, gegangen)
  • Ariana Harwicz (Argentina), Sarah Moses & Carolina Orloff (dịch giả), cho Die, My Love (Charco Press) (Matate, amor)
  • Christoph Ransmayr (Áo), Simon Pare (dịch giả), cho The Flying Mountain (Seagull Books) (Der fliegende Berg)
  • Ngô Minh Ích (Đài Loan), Darryl Sterk (dịch giả), cho The Stolen Bicycle (Text Publishing) (單車失竊記)
  • Gabriela Ybarra (Tây Ban Nha), Natasha Wimmer (dịch giả), cho The Dinner Guest (Harvill Secker) (El comensal)

2019[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2019 được chấm bởi Bettany Hughes, Maureen Freely, Angie Hobbs, Pankaj MishraElnathan John. Ngày 13 tháng 3 năm 2019, longlist cho giải Man Booker Quốc tế lần thứ 10 được công bố.[37] Ngày 9 tháng 4 năm 2019, danh sách shortlist được công bố.[38] Jokha Alharthi được công bố là tác giả Ả Rập đầu tiên nhận giải Man Booker Quốc tế ngày 21 tháng 5 năm 2019.[39]

Tác phẩm đoạt giải
Shortlist
Longlist
  • Love in the New Millennium (新世纪爱情故事) bởi Tàn Tuyết (Trung Quốc), dịch từ tiếng Trung bởi Annelise Finegan Wasmoen (Yale University Press)
  • At Dusk (해질무렵) bởi Hwang Sok-yong (Hàn Quốc), dịch từ tiếng Hàn bởi Sora Kim-Russell (Scribe)
  • Jokes for the Gunmen (نكات للمسلحين) bởi Mazen Maarouf (Palestine-Iceland), dịch từ tiếng Ả Rập bởi Jonathan Wright (Granta)
  • Four Soldiers (Quatre Soldats) bởi Hubert Mingarelli (Pháp), dịch từ tiếng Pháp bởi Sam Taylor (Portobello)
  • Mouthful of Birds (Pájaros en la boca) bởi Samanta Schweblin (Argentina), dịch từ tiếng Tây Ban Nha bởi Megan McDowell (Oneworld)
  • The Faculty of Dreams (Drömfakulteten) bởi Sara Stridsberg (Thụy Điển), dịch từ tiếng Thụy Điển bởi Deborah Bragan-Turner (MacLehose Press)
  • The Death of Murat Idrissi (De dood van Murat Idrissi) bởi Tommy Wieringa (Hà Lan), dịch từ tiếng Hà Lan bởi Sam Garrett (Scribe)

2020[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2020 được chấm bởi Ted Hodgkinson, Jennifer Croft, Valeria Luiselli, Jeet Thayil và Lucie Campos.[40] Ngày 27 tháng 2 năm 2020, longlist cho giải thưởng được công bố.[41] Danh sách shortlist được công bố ngày 2 tháng 4 năm 2020.[42] Tác phẩm đoạt giải ban đầu dự kiến được công bố ngày 19 tháng 5 năm 2020, tuy nhiên do đại dịch COVID-19 phải hoãn đến ngày 26 tháng 8 năm 2020.[43]

Tác phẩm đoạt giải
Shortlist
Longlist

2021[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng năm 2021 được chấm bởi Lucy Hughes-Hallett, Aida Edemariam, Neel Mukherjee, Olivette OteleGeorge Szirtes.[45] Danh sách longlist được công bố ngày 30 tháng 3 năm 2021, shortlist ngày 22 tháng 4, và tác giả cùng dịch giả đoạt giải được công bố ngày 2 tháng 6 năm 2021.[46]

Tác phẩm đoạt giải
Shortlist[47]
  • The Dangers of Smoking in Bed (Los peligros de fumar en la cama) bởi Mariana Enríquez, dịch từ tiếng Tây Ban Nha bởi Megan McDowell (Granta Books)
  • The Employees (De ansatte) bởi Olga Ravn, dịch từ tiếng Đan Mạch bởi Martin Aitken (Lolli Editions)
  • When We Cease to Understand the World (Un verdor terrible) bởi Benjamín Labatut, dịch từ tiếng Tây Ban Nha bởi Adrian Nathan West (Pushkin Press)
  • In Memory of Memory (Памяти памяти) bởi Maria Stepanova, dịch từ tiếng Nga bởi Sasha Dugdale (Fitzcarraldo Editions)
  • The War of the Poor (La Guerre des pauvres) bởi Éric Vuillard, dịch từ tiếng Pháp bởi Mark Polizzotti (Picador)
Longlist
  • I Live in the Slums bởi Tàn Tuyết, dịch từ tiếng Trung bởi Karen Gernant & Chen Zeping (Yale University Press)
  • The Pear Field (მსხლების მინდორი) bởi Nana Ekvtimishvili, dịch từ tiếng Georgia bởi Elizabeth Heighway (Peirene Press)
  • The Perfect Nine: The Epic Gikuyu and Mumbi (Kenda Mũiyũru: Rũgano rwa Gĩkũyũ na Mũmbi) bởi Ngũgĩ wa Thiong'o, dịch từ tiếng Gikuyu bởi tác giả (Harvill Secker)
  • Summer Brother (Zomervacht) bởi Jaap Robben, dịch từ tiếng Hà Lan bởi David Doherty (World Editions)
  • An Inventory of Losses (Verzeichnis einiger Verluste) bởi Judith Schalansky, dịch từ tiếng Đức bởi Jackie Smith (MacLehose Press)
  • Minor Detail (تفصيل ثانوي) bởi Adania Shibli, dịch từ tiếng Ả Rập bởi Elisabeth Jaquette (Fitzcarraldo Editions)
  • Wretchedness (Eländet) bởi Andrzej Tichý, dịch từ tiếng Thụy Điển bởi Nichola Smalley (And Other Stories)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Readers debate world Booker prize”. BBC News. ngày 20 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  2. ^ a b Crerar, Simon (ngày 27 tháng 5 năm 2009). “Alice Munro announced as Man Booker International Prize winner”. The Times. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  3. ^ a b c “Spark heads world Booker nominees”. BBC News. ngày 18 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  4. ^ “The Booker Prizes”. Booker Prize Foundation.
  5. ^ a b Sarah Shaffi (ngày 7 tháng 7 năm 2015). 'Reconfiguration' of Man Booker International Prize”. The Bookseller. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015.
  6. ^ a b c “Atwood on World Booker shortlist”. BBC News. ngày 12 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  7. ^ a b Callil, Carmen (ngày 21 tháng 5 năm 2011). “Why I quit the Man Booker International panel”. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011.
  8. ^ Anderson, Hephzibah (ngày 31 tháng 5 năm 2009). “Alice Munro: The mistress of all she surveys”. The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2012.
  9. ^ Michael Orthofer (ngày 8 tháng 7 năm 2015). “Man Booker Independent International Foreign Fiction Prize”. complete review. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015.
  10. ^ “Evolution of the Man Booker International Prize announced | The Man Booker Prizes”. themanbookerprize.com. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016.
  11. ^ a b c d e f “Albanian wins first world Booker”. BBC News. ngày 2 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  12. ^ a b c “Nigeria author wins Booker honour”. BBC News. ngày 13 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  13. ^ a b c d e Flood, Alison (ngày 27 tháng 5 năm 2009). “Alice Munro wins Man Booker International prize”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  14. ^ “E.L. Doctorow Among Nominees For International Book Prize”. Huffington Post. ngày 18 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  15. ^ Roberts, Laura (ngày 19 tháng 5 năm 2011). “Feminist judge resigns after Philip Roth wins Man Booker International Prize”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  16. ^ Lea, Richard; Hill, Amelia (ngày 30 tháng 3 năm 2011). “Man Booker Prize: Shortlist unveiled for the 'Olympics of literature'. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  17. ^ a b Ginnane, Virginia (ngày 30 tháng 3 năm 2011). “Le Carre cold on book prize nomination”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  18. ^ a b c d “Philip Roth wins the Man Booker International Prize”. BBC News. ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011.
  19. ^ “Philip Roth win divided panel, Man Booker judge admits”. BBC News. ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2011.
  20. ^ Flood, Alison (ngày 18 tháng 5 năm 2011). “Judge withdraws over Philip Roth's Booker win”. The Guardian. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011.
  21. ^ Lea, Richard (ngày 24 tháng 1 năm 2013). “Man Booker International prize 2013 reveals shortlist”. The Guardian. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013.
  22. ^ a b “Man Booker International Prize 2013 Finalists Announced”. ngày 24 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013.
  23. ^ a b Stock, Jon (ngày 22 tháng 5 năm 2013). “Man Booker International Prize 2013: Lydia Davis wins”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013.
  24. ^ “Lydia Davis wins the Man Booker International Prize 2013”. Man Brooker Prize. ngày 22 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013.
  25. ^ a b “The Man Booker International Prize 2015 Finalists' List Announced”. The Man Booker Prizes. ngày 24 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015.
  26. ^ “Man Booker International prize 2015 won by 'visionary' László Krasznahorkai”. The Guardian. ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  27. ^ “Hungarian Laszlo Krasznahorkai wins Man Booker International Prize”. BBC News. ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  28. ^ a b Cain, Sian (ngày 14 tháng 4 năm 2016). 'Exhilarating' Man Booker International shortlist spans the world”. The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2016.
  29. ^ Lusa, Agência. “José Eduardo Agualusa entre os finalistas do Man Booker International Prize 2016”. Observador (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2016.
  30. ^ “The Man Booker International Prize 2016 Longlist Announced”. The Booker Prizes. ngày 10 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2021.
  31. ^ “Han Kang's The Vegetarian wins Man Booker International Prize”. BBC News. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016.
  32. ^ “Man Booker International Prize: Olga Tokarczuk is first Polish winner”. BBC News. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2018.
  33. ^ “Polish novelist Olga Tokarczuk wins Man Booker International Prize for translated novel 'Flights'. DW.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2018.
  34. ^ “Olga Tokarczuk becomes first Polish winner of International Man Booker Prize”. BT. ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018.
  35. ^ “Olga Tokarczuk of Poland Wins Man Booker International Prize” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018.
  36. ^ “Flights by Olga Tokarczuk | PenguinRandomHouse.com”. PenguinRandomhouse.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2018.
  37. ^ “Man Booker International 2019 longlist announced”. Books+Publishing (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2019.
  38. ^ “Man Booker International Prize 2019 shortlist announced”. Man Booker International. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2019.
  39. ^ Flood, Allison. “Man Booker International prize: Jokha Alharthi wins for Celestial Bodies”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2019.
  40. ^ “Judges announced for the 2020 International Booker Prize”. The Booker Prize.
  41. ^ “2020 International Booker Prize Longlist Announced”. The Booker Prizes. The Booker Prizes. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2020.
  42. ^ “The 2020 International Booker Prize Shortlist Announced”. The Booker Prizes. ngày 1 tháng 4 năm 2020.
  43. ^ The Booker Prizes. “The 2020 International Booker Prize Winner Announcement Postponed”. Booker Prizes. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
  44. ^ “The International Booker Prize 2020 | The Booker Prizes”. thebookerprizes.com. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2020.
  45. ^ “The 2021 International Booker Prize longlist announcement | The Booker Prizes”. thebookerprizes.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2021.
  46. ^ “The 2021 International Booker Prize Winner announcement | The Booker Prizes”. The Booker Prizes. ngày 2 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2021.
  47. ^ “International Booker Prize Shortlist”. ngày 22 tháng 4 năm 2021.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]