HMCS Athabaskan (G07)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hmcs athabaskan g07.jpg
Tàu khu trục HMCS Athabaskan (G07)
Phục vụ (Canada) Naval Ensign of the United Kingdom.svg Royal Canadian Navy Jack
Tên gọi: HMCS Athabaskan (G07)
Đặt hàng: 5 tháng 4 năm 1940
Hãng đóng tàu: Vickers-Armstrong, High Walker Yard, Newcastle-on-Tyne; Anh Quốc
Đặt lườn: 31 tháng 10 năm 1940
Hạ thủy: 15 tháng 11 năm 1941
Nhập biên chế: 3 tháng 2 năm 1943
Số phận: Đắm do trúng ngư lôi trong eo biển Manche, 29 tháng 4 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Tribal
Trọng tải choán nước: 1.850 tấn Anh (1.880 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (đầy tải)
Độ dài: 377 ft (115 m) (chung)
Sườn ngang: 36,5 ft (11,1 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 44.000 shp (33.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.560 km; 6.560 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Tầm hoạt động: 524 tấn Anh (532 t) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
190 (219 trong vai trò soái hạm)
Vũ trang:

như thiết kế:

HMCS Athabaskan (G07) là một tàu khu trục lớp Tribal được hãng Vickers ArmstrongNewcastle upon Tyne, Anh Quốc chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Canada trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Canada mang cái tên này.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1943, Athabaskan đã hộ tống cho Đoàn tàu RA 55A tại Bắc Cực vốn đã tham gia vào Trận chiến mũi North thiết giáp hạm Đức Scharnhorst bị đánh chìm. Nó bị hư hại nặng bởi một quả bom lượn Henschel Hs 293, trong một cuộc săn đuổi chống tàu ngầm ngoài khơi mũi Ortegal trong vịnh Biscay vào ngày 27 tháng 8 năm 1943, nó bị loại khỏi vòng chiến trong hơn ba tháng.[1] Chiếc tàu xà lúp HMS Egret đã bị đánh chìm trong cùng sự kiện này.[2]

Athabaskan đã hoạt động tích cực trong khu vực eo biển Manche trước Chiến dịch Overlord, đánh chìm hay làm hư hại một số tàu đối phương.[1] Nó bị mất trong eo biển Manche vào đêm 29 tháng 4 năm 1944 do trúng ngư lôi từ tàu phóng lôi Đức T-24. Hạm trưởng của nó, Thiếu tá Hải quân John Stubbs, tử trận trong đêm này khi ông từ chối để chiếc tàu chị em Haida kéo lên và bơi trở lại để tìm cách cứu thêm những người khác. 128 thành viên thủy thủ đoàn đã thiệt mạng cùng con tàu; 42 người sống sót đã được Haida cứu vớt,[3] trong khi 83 người khác bị bắt làm tù binh. Athabaskan đắm ở tọa độ 48°43′B 4°32′T / 48,717°B 4,533°T / 48.717; -4.533Tọa độ: 48°43′B 4°32′T / 48,717°B 4,533°T / 48.717; -4.533.

Cũng có giả thuyết khác cho rằng Athabaskan bị đắm do trúng ngư lôi từ một xuồng phóng lôi Anh; hoặc con tàu chịu đựng một vụ nổ bên trong làm phá hủy con tàu. Tuy nhiên, do tình trạng quá kém của xác tàu đắm cũng như không có ghi chép đầy đủ của các con tàu khác ở cùng khu vực vào lúc nó bị đắm, hầu như không thể chứng minh các giả thuyết này.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Mason, Geoffrey B. (2001). “HMCS Athabaskan. naval-history.net. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2008. 
  2. ^ HMCS Athabaskan (i) (G 07)
  3. ^ Mason, Geoffrey B. (2003). “HMCS Haida. naval-history.net. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2008. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brice, Martin H. (1971). The Tribals. London: Ian Allan. ISBN 0-7110-0245-2. 
  • English, John (2001). Afridi to Nizam: British Fleet Destroyers 1937–43. Gravesend, Kent: World Ship Society. ISBN 9780905617954. OCLC 49841510. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]