HMS Mashona (F59)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
HMS Mashona (F59).jpg
Tàu khu trục HMS Mashona (F59)
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Mashona (F59)
Hãng đóng tàu: Vickers Armstrongs
Đặt lườn: 5 tháng 8 năm 1936
Hạ thủy: 3 tháng 9 năm 1937
Nhập biên chế: 28 tháng 3 năm 1939
Số phận: Bị không kích đánh chìm tại Đại Tây Dương, 28 tháng 5 năm 1941
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Tribal
Trọng tải choán nước: 1.850 tấn Anh (1.880 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (đầy tải)
Độ dài: 377 ft (115 m) (chung)
Sườn ngang: 36,5 ft (11,1 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 44.000 shp (33.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.560 km; 6.560 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Tầm hoạt động: 524 tấn Anh (532 t) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang:

như thiết kế:

cải biến trong chiến tranh:

  • 6 x hải pháo 4.7 inch L/45 QF Mk. XII trên bệ CP Mk. XIX (3x2);
  • 2 x pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk. XVI trên bệ góc cao Mk. XIX (1x2);
  • 4 x pháo QF 2 pounder Mk. VII phòng không (1x4);
  • 4 x pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng đơn và nòng đôi;
  • 4 x ống phóng ngư lôi 21 inch Mk. IX (1x4);
  • 1 x đường ray và 2 x máy ném mìn sâu

HMS Mashona (L59/F59) là một tàu khu trục lớp Tribal được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó đã phục vụ trong Thế Chiến II cho đến khi bị đánh chìm bởi một cuộc không kích ngoài khơi Đại Tây Dương vào tháng 5 năm 1941.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mashona được đặt hàng cho hãng Vickers-Armstrong trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1935. Nó được đặt lườn vào ngày 5 tháng 8 năm 1936, được hạ thủy vào ngày 3 tháng 9 năm 1937,[1] và hoàn tất vào ngày 30 tháng 3 năm 1939.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 9 năm 1939, Mashona phục vụ cùng Chi hạm đội Khu trục 6 đặt căn cứ tại Scapa Flow. Nó đã tham gia vào cuộc săn đuổi và tiêu diệt thiết giáp hạm Đức Bismarck vào ngày 27 tháng 5 năm 1941. Tuy nhiên, trên đường quay trở về cảng vào ngày hôm sau, nó chịu đựng một cuộc không kích nặng nề của Không quân Đức, bị trúng bom và đắm ngoài khơi bờ biển Galway ở tọa độ 52°58′B 11°36′T / 52,967°B 11,6°T / 52.967; -11.600Tọa độ: 52°58′B 11°36′T / 52,967°B 11,6°T / 52.967; -11.600, với tổn thất 48 thành viên thủy thủ đoàn. Tàu khu trục chị em HMS Tartar đã cứu vớt những người sống sót và đưa họ đến Greenock.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Times (London), Saturday, ngày 4 tháng 9 năm 1937, p.12

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brice, Martin H. (1971). The Tribals. London: Ian Allan. ISBN 0-7110-0245-2. 
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475. 
  • English, John (2001). Afridi to Nizam: British Fleet Destroyers 1937–43. Gravesend, Kent: World Ship Society. ISBN 9780905617954. OCLC 49841510.