HMS Bedouin (F67)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
HMS Bedouin (F67) off Iceland c1941.jpg
Tàu khu trục HMS Bedouin (F67) tại Hvalfjörður, Iceland
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Bedouin (F67)
Hãng đóng tàu: William Denny, Dumbarton
Đặt lườn: tháng 1 năm 1937
Hạ thủy: 21 tháng 12 năm 1937
Nhập biên chế: 15 tháng 3 năm 1939
Số phận: Bị đánh chìm tại Địa Trung Hải, 15 tháng 6 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Tribal
Trọng tải choán nước: 1.850 tấn Anh (1.880 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (đầy tải)
Độ dài: 377 ft (115 m) (chung)
Sườn ngang: 36,5 ft (11,1 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 44.000 shp (33.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.560 km; 6.560 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Tầm hoạt động: 524 tấn Anh (532 t) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang:

như thiết kế:

cải biến trong chiến tranh:

  • 6 x hải pháo 4.7 inch L/45 QF Mk. XII trên bệ CP Mk. XIX (3x2);
  • 2 x pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk. XVI trên bệ góc cao Mk. XIX (1x2);
  • 4 x pháo QF 2 pounder Mk. VII phòng không (1x4);
  • 4 x pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng đơn và nòng đôi;
  • 4 x ống phóng ngư lôi 21 inch Mk. IX (1x4);
  • 1 x đường ray và 2 x máy ném mìn sâu

HMS Bedouin (L67/F67) là một tàu khu trục lớp Tribal được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó đã phục vụ trong Thế Chiến II cho đến khi bị đánh chìm bởi hỏa lực kết hợp hải pháo và ngư lôi của Ý tại Địa Trung Hải vào tháng 6 năm 1942.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bedouin được đặt hàng cho xưởng tàu của hãng William Denny and Brothers tại Dumbarton trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1935. Nó được đặt lườn vào ngày tháng 1 năm 1937, được hạ thủy vào ngày 21 tháng 12 năm 1937 và nhập biên chế vào ngày 15 tháng 3 năm 1939.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Bedouin đã tham gia trận hải chiến Narvik thứ hai vào ngày 13 tháng 4 năm 1940 tại Na Uy, nơi nó bị hư hại nhẹ, cũng như trong Chiến dịch Claymore, một cuộc đột kích với lực lượng biệt kích Commando lên quần đảo Lofoten, Na Uy vào ngày 4 tháng 3 năm 1941.

Trong Chiến dịch Harpoon, một hoạt động tiếp vận cho Malta đang bị phong tỏa vào tháng 6 năm 1942, Bedouin bị đánh chìm vào ngày 15 tháng 6 bởi hỏa lực hải pháo từ các tàu tuần dương hạng nhẹ Ý Raimondo MontecuccoliEugenio di Savoia cũng như của một máy bay ném bom-ngư lôi Savoia-Marchetti SM.79. Nó bị bắn trúng ít nhất 12 phát đạn pháo 6-inch, nhiều phát suýt trúng, cùng một quả ngư lôi phóng từ máy bay trước khi bị đắm tại tọa độ 36°12′0″B 11°38′0″Đ / 36,2°B 11,63333°Đ / 36.20000; 11.63333Tọa độ: 36°12′0″B 11°38′0″Đ / 36,2°B 11,63333°Đ / 36.20000; 11.63333, nhưng cũng xoay xở bắn rơi chiếc máy bay ném ngư lôi đối phương vốn tung ra "phát ân huệ" cho nó. 28 người trong số thủy thủ đoàn của Bedouin thiệt mạng trong trận chiến; 213 người sống sót bị Hải quân Ý bắt làm tù binh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brice, Martin H. (1971). The Tribals. London: Ian Allan. ISBN 0-7110-0245-2. 
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475. 
  • English, John (2001). Afridi to Nizam: British Fleet Destroyers 1937–43. Gravesend, Kent: World Ship Society. ISBN 9780905617954. OCLC 49841510.