HMS Sikh (F82)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
HMS Sikh (F82).jpg
Tàu khu trục HMS Sikh (F82) trên đường đi sau khi hoàn tất
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Sikh (F82)
Hãng đóng tàu: Alexander Stephen and Sons, Glasgow, Scotland
Đặt lườn: 24 tháng 9 năm 1936[1]
Hạ thủy: 17 tháng 12 năm 1937
Nhập biên chế: 12 tháng 10 năm 1938
Số phận: Bị đánh chìm ngoài khơi Tobruk, Bắc Phi, 14 tháng 9 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Tribal
Trọng tải choán nước: 1.850 tấn Anh (1.880 t) (tiêu chuẩn)
2.520 tấn Anh (2.560 t) (đầy tải)
Độ dài: 377 ft (115 m) (chung)
Sườn ngang: 36,5 ft (11,1 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 44.000 shp (33.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.560 km; 6.560 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Tầm hoạt động: 524 tấn Anh (532 t) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
190[2]
Vũ trang:

như thiết kế:

cải biến trong chiến tranh:

  • 6 x hải pháo 4.7 inch L/45 QF Mk. XII trên bệ CP Mk. XIX (3x2);
  • 2 x pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk. XVI trên bệ góc cao Mk. XIX (1x2);
  • 4 x pháo QF 2 pounder Mk. VII phòng không (1x4);
  • 4 x pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng đơn và nòng đôi;
  • 4 x ống phóng ngư lôi 21 inch Mk. IX (1x4);
  • 1 x đường ray và 2 x máy ném mìn sâu

HMS Sikh (L82/F82/G82) là một tàu khu trục lớp Tribal được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó đã phục vụ trong Thế Chiến II cho đến khi bị đánh chìm bởi hỏa lực pháo phòng thủ duyên hải ngoài khơi Tobruk, Bắc Phi vào tháng 9 năm 1942.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Sikh được đặt hàng cho hãng Alexander Stephen and Sons tại Glasgow, Scotland trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1935. Nó được đặt lườn vào ngày 24 tháng 9 năm 1936, được hạ thủy vào ngày 17 tháng 12 năm 1937, và nhập biên chế vào ngày 12 tháng 10 năm 1938.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1941, đang khi thuộc quyền Bộ chỉ huy Stokes, Sikh đã tham gia vào việc truy đuổi và tiêu diệt thiết giáp hạm Bismarck của Hải quân Đức. Trong đêm trước khi Bismarck bị đánh chìm, nó đã phóng một loạt bốn quả ngư lôi vào đối phương, tự nhận đã bắn trúng đích một quả sau khi nghe một tiếng nổ dưới nước, nhưng thực ra không có quả nào trúng đích.

Sau đó Sikh được điều động sang khu vực Địa Trung Hải trong thành phần Lực lượng H. Vào ngày 13 tháng 12 năm 1941, nó đã cùng HMS Legion, HMS Maori và chiếc HNLMS Isaac Sweers của Hà Lan đánh chìm các tàu tuần dương Ý Alberico da BarbianoAlberto di Giussano. Đến ngày 4 tháng 8 năm 1942, nó cùng với HMS Zulu, HMS CroomeHMS Tetcott đánh chìm tàu ngầm U-boat U-372 ngoài khơi Haifa.

Vào ngày 14 tháng 9, SikhZulu cho đổ bộ lực lượng biệt kích Comando rồi hỗ trợ cho Chiến dịch Agreement, một cuộc đột kích vào Tobruk. Sikh bị một khẩu đội phòng không FlaK 88 mm bắn trúng và đắm ở tọa độ 32°5′52″B 24°0′0″Đ / 32,09778°B 24°Đ / 32.09778; 24.00000Tọa độ: 32°5′52″B 24°0′0″Đ / 32,09778°B 24°Đ / 32.09778; 24.00000; 115 thành viên thủy thủ đoàn đã thiệt mạng trong trận này, nhiều người khác bị bắt làm tù binh. Zulu cũng bị hư hại rồi bị trúng bom và chìm trong ngày hôm sau.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Helgason, Guðmundur. “HMS Sikh (F 82)”. Uboat.net. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2009. 
  2. ^ Helgason, Guðmundur. “Tribal class”. Uboat.net. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2009. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brice, Martin H. (1971). The Tribals. London: Ian Allan. ISBN 0-7110-0245-2. 
  • English, John (2001). Afridi to Nizam: British Fleet Destroyers 1937–43. Gravesend, Kent: World Ship Society. ISBN 9780905617954. OCLC 49841510. 
  • Landsborough, Gordon (1968). Tobruk Commando. Mayflower. 
  • Smith, Peter C. (2008). Massacre at Tobruk: The British Assault on Rommel, 1942. Stackpole Co. ISBN 0-7183-0664-3.