Hoàng Kiện
Hoàng Kiện | |
|---|---|
Chức vụ | |
Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao | |
| Nhiệm kỳ | 1981 – 1986 |
Viện trưởng Học viện Hậu cần | |
| Nhiệm kỳ | 1974 – 1981 |
| Tiền nhiệm | Trần Chí Cường |
| Kế nhiệm | Bùi Nam Hà |
Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 | |
| Nhiệm kỳ | 1972 – 1974 |
Phó Tư lệnh Quân khu 4 | |
| Nhiệm kỳ | 1970 – 1972 |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 1921 Đô Lương, Nghệ An, Trung Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 21 tháng 4 năm 2000 |
Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Năm tại ngũ | 1945-1986 |
| Cấp bậc | |
Hoàng Kiện (1921–2000) là một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng. Ông từng là chỉ huy trưởng của đơn vị phòng không cấp sư đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam: Đại đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 367, nay là Sư đoàn Phòng không 367.
Thân thế
[sửa | sửa mã nguồn]Tên đúng của ông là Hoàng Văn Kiện, người xã Đông Sơn, huyện Đô Lương (nay là xã Lương Sơn), tỉnh Nghệ An. Ngày sinh của ông không được xác định rõ, vào khoảng tháng 3 năm 1921. Theo gia phả họ Hoàng ở Đô Lương thì thủy tổ của ông vốn thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Mạc. Khi vua nhà Mạc bị nhà Lê đuổi lên Cao Bằng, gia tộc ông đổi sang họ Hoàng, sau dời đến khai khẩn lập ấp ở Đô Lương.[1]
Tham gia Cách mạng
[sửa | sửa mã nguồn]Thời thanh niên, nhà nghèo, để sinh kế, ông tham gia lực lượng lính khố đỏ của chính quyền thực dân Pháp. Khi Nhật đảo chính Pháp, ông bỏ ngũ về quê, tham gia huấn luyện quân sự trong phong trào Việt Minh. Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, ông tham gia cướp chính quyền và phong trào Nam tiến, trở thành Tiểu đội trưởng Giải phóng quân ở Huế. Sau đó, tháng 11 năm 1945, ông trở lại Nghệ An, làm Trung đội trưởng Giải phóng quân ở Vinh, sau đó được cử tham gia hoạt động cách mạng ở Mường Xén (Lào). Tháng 4 năm 1946, ông là Đại đội trưởng rồi Tiểu đoàn phó Tiếp phòng quân. Ông được kết nạp vào Đảng tháng 7 năm 1946 (chính thức tháng 11 năm 1946).
Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tháng 12 năm 1946, khi đó ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 (Tiểu đoàn Đống Đa) trực thuộc Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thăng Long). Tháng 5 năm 1947, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 48 trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 316. Từ tháng 10 năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 rồi Trung đoàn 66. Năm 1953, ông là Tham mưu trưởng Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến Thắng), tham gia trận Điện Biên Phủ, công kích đồi Him Lam.
Trở thành chỉ huy cao cấp
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 9 năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn pháo cao xạ 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh. Sau khi cùng đơn vị tiếp quản miền Bắc, năm 1955 ông được cử đi học pháo binh ở Trung Quốc, trở về nước ông tiếp tục giữ chức vụ Đại đoàn trưởng Đại đoàn pháo cao xạ 367. Tháng 5 năm 1958, ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không. Từ tháng 11 năm 1958, ông lần lượt giữ quyền Tư lệnh rồi Tư lệnh (tháng 11 năm 1960) Bộ Tư lệnh Phòng không với cấp bậc Đại tá.
Năm 1962, ông được biệt phái về Cục Phòng không Nhân dân trực thuộc Phủ thủ tướng. Tháng 8 năm 1962, ông được cử đi học tại Học viện quân sự Vô-rô-si-lốp (Liên xô). Sau khi trở về, ông tiếp tục tham gia biệt phái ở Cục Phòng không Nhân dân, rồi đến tháng 11 năm 1964 được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 304.
Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương về chủ trương thành lập các đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên, giữa năm 1965, Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Kiện lúc đó đang là Tư lệnh Sư đoàn 304 cùng các đơn vị thuộc Sư đoàn 304 vào chiến trường Tây Nguyên (B3) để nghiên cứu thành lập sư đoàn chủ lực mới.[2]
Ngày 15-8-1965, đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Kiện, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 và đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Chính ủy Lữ đoàn 305: "Bộ quyết định điều một số đơn vị vào tăng cường cho Mặt trận B3, nhưng do yêu cầu phải giữ bí mật nên không thể trao quyết định cho các đồng chí...". Ngày 22 tháng 9 năm 1965, đồng chí Hoàng Kiện và Nguyễn Nam Khánh cùng bộ khung của Sư đoàn đã có mặt tại Sở Chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên để nhận nhiệm vụ thành lập Sư đoàn Bộ binh 1. Tuy nhiên do yêu cầu phải khẩn trương triển khai Chiến dịch Pleime nên nhiệm vụ này được lùi lại. Sau khi Chiến dịch Pleime giành thắng lợi, ngày 20 tháng 12 năm 1965, Mặt trận Tây Nguyên đã tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Sư đoàn Bộ binh 1 (mật danh là Đoàn Lê Lợi) cho toàn Mặt trận. Sư đoàn Bộ binh 1 được thành lập trên cơ sở ba trung đoàn bộ binh vừa tham gia Chiến dịch Pleime (320, 33, 66). Bộ Tư lệnh gồm có các đồng chí: Hoàng Kiện - Tư lệnh Sư đoàn, Huỳnh Đắc Hương - Chính ủy, Hà Vi Tùng - Phó Tư lệnh, Nguyễn Nam Khánh - Phó Chính ủy.
Đầu năm 1966 là đồng chí Hoàng Kiện là Tham mưu trưởng mặt trận Tây Nguyên (B3). Tháng 1 năm 1967, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Tư lệnh Phòng không Quân khu. Tháng 5 năm 1970, ông vào làm Phó Tư lệnh Mặt trận 968. Tháng 10 năm 1970, ông trở lại chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4, đến năm 1972, chuyển sang làm Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559.
Trong giai đoạn nay, đồng chí Hoàng Kiện đã trực tiếp chỉ huy tham gia nhiều chiến dịch quan trọng, góp phần tạo thế chuyển biến chiến lược trên chiến trường. Trên cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận X chỉ huy Chiến dịch tiến công giải phóng tỉnh Attapeu và một số vùng rộng lớn cao nguyên Boloven, tiến tới giải phóng Saravane, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào – năm 1970. Trên cương vị Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Tư lệnh Mặt trận Y (968), tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào, hoàn thành nhiệm vụ ở hướng phía Nam Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, góp phần đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy, đánh bại một bước quan trọng trong chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trên cương vị Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Tư lệnh Mặt trận Y, tham gia chỉ huy chiến dịch tiến công mở rộng vùng giải phóng Trung – Hạ Lào (18/10/1972 – 08/02/1973)
Tháng 8 năm 1974, ông giữ chức vụ Viện trưởng Học viện Hậu cần. Đầu năm 1975, ông được cử đi học bổ túc tại Học viện Hậu cần Lê-nin-grát của Liên Xô cho đến tháng 8 năm 1975. Sau khi về nước, ông tiếp tục giữ chức Viện trưởng Học viện Hậu cần. Năm 1977, ông được nhà nước Việt Nam phong hàm Thiếu tướng.
Tháng 2 năm 1981, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, Ủy viên Hội đồng khoa học của Viện cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 3 năm 1986.
Ông mất ngày 21 tháng 4 năm 2000. Mộ ông được chôn cất bên cạnh con sông Đào.
Tôn vinh
[sửa | sửa mã nguồn]Tướng Hoàng Kiện nổi tiếng về tính liêm khiết, được Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương trước toàn quân bằng câu nói "Tướng Thanh,[3] tá Kiện". Cả đời ông không lập gia đình, không vợ, không con. Sau khi nghỉ hưu ông không nhận trợ cấp, trả lại nhà cho Nhà nước và về quê sinh sống cho đến khi qua đời.
Ông được nhà nước Việt Nam tặng thưởng:
- 02 Huân chương Quân công hạng Nhất
- 01 Huân chương Quân công hạng Nhì
- 01 Huân chương Chiến công hạng Nhất
- 01 Huân chương Chiến công hạng Nhì
- 01 Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất
- 01 Huân chương Chiến thắng hạng Nhì
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ (hạng Nhất, Nhì, Ba)
- Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba)
- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)
- Huy chương Quân kỳ quyết thắng
- Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Hoàng Văn Đồng, "Họ Hoàng ở xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An".
- ^ Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 1, Nxb. Quân đội Nhâ dân Việt Nam (Hà Nội - 2024). "Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 1 (1965 - 1974)". Nhà xuất bản Quân đội Nhâ dân Việt Nam. tr. 23.
{{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ^ tức Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.