Lưu vực Hồ Uvs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu vực Hồ Uvs
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Uvs núr.JPG
Quốc gia  Nga & Flag of Mongolia.svg Mông Cổ
Tọa độ 50°18′B 92°42′Đ / 50,3°B 92,7°Đ / 50.300; 92.700Tọa độ: 50°18′B 92°42′Đ / 50,3°B 92,7°Đ / 50.300; 92.700
Kiểu Thiên nhiên
Hạng mục ix, x
Tham khảo 769
Lịch sử công nhận
Công nhận 2003 (kì thứ 27)

Lưu vực Hồ Uvs (tiếng Nga: Увс нуурын хотгор, tiếng Mông Cổ: : Увс нуурын хотгор, Uws núrīn hotgor) là một Lòng chảo nội lục nhỏ nằm trên biên giới của Mông CổCộng hòa Tuva, Liên bang Nga. Nó được đặt theo tên của Hồ Uvs, một hồ nước rộng, nông và rất mặn nằm tại trung tâm của lưu vực. Một số hồ nhỏ hơn nằm rải rác gần đó.[1] Đây là sự kết hợp bởi các vùng đất thấp nằm giữa các dãy núi Tannu-OlaAltay. Ở đây, vùng sa mạc cực Bắc giao tiếp với khu vực đài nguyên cực Nam ở Bắc bán cầu.[2] Tổng diện tích của lưu vực này là 70.000 km vuông, phần lớn nằm tại các tỉnh Khövsgöl, Zavkhan, Uvs thuộc Mông Cổ, phần nhỏ phía Bắc thuộc Cộng hòa Tuva của Nga. Năm 2003, lưu vực Hồ Uvs đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới nhờ hệ động thực vật vô cùng đa dạng và quý hiếm.

Động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu vực nằm trên biên giới Mông Cổ và Nga, nơi đây có sự thay đổi đáng ngạc nhiên về khí hậu và cảnh quan tự nhiên, từ những sông băng, lãnh nguyên núi cao, tiểu đồng cỏ núi cao cho đến những cánh rừng taiga, thảo nguyên rừng, thảo nguyên, đồng cỏ, sa mạc và cồn cát khiến nó trở thành một trong những khu vực có phong cảnh và môi trường sống đa dạng nhất Trung Á.[3]

Chính vì vậy, hệ động thực vật tại đây vô cùng đa dạng. Tại đây có cả những loài động vật sống tại núi cao và lãnh nguyên, chẳng hạn như Hoẵng Siberia, Gà tuyết Altai và cả loài Báo tuyết đang bên bờ vực tuyệt chủng. Trong các cánh rừng taiga là sự phong phú của Hươu Maral, Linh miêu, Chồn sói, trong khi trên thảo nguyên là sự có mặt của Sơn ca Mông Cổ, Sếu khuê tú, Sóc. Sa mạc phía bắc là môi trường sống lý tưởng của Ô tác, Chuột. Theo thống kê, lưu vực này là nhà của 359 loài chim và rất nhiều loài được cho là đã tuyệt chủng tại nhiều nơi nhưng đã tìm thấy ở khu vực.

Khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc lều tròn Yurts trên vùng thảo nguyên rộng lớn.

Đây là nơi quan trọng nhất ở Trung Á về giá trị khảo cổ học khi rất nhiều các mộ chôn cất, đá chạm trổ, điêu khắc đá, tàn tích của khu định cư thời Trung Cổ cùng các đền đài Phật giáo được tìm thấy tại đây. Tại đây có 20.000 gò, mộ chôn cất, nhiều trong số chúng có tuổi đời còn lâu hơn cả Kim tự tháp Ai Cập.[4] Chính vì vậy, nó đã từng được đề cử vào Danh sách Di sản thế giới vào năm 1995 như là một trong những lưu vực thoát nước nguyên sinh nhất tại Trung Á và giá trị khảo cổ học của 40.000 địa điểm khảo cổ có thể được tìm thấy như là dấu tích còn sót lại của các bộ lạc du cư nổi tiếng trong lịch sử bao gồm Scythia, Turk, Hung.[5]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Mật độ dân cư tại đây khá thấp. Do thiếu máy móc cùng sự phụ thuộc của người dân vào các lối sống truyền thống như du canh du mục ít ảnh hưởng đến cảnh quan và cho phép hệ sinh thái giữ được tương đối tính toàn vẹn và tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực mà sự hiện diện của con người có thể tạo ra. Khu vực xung quanh hồ tại cả hai quốc gia dân cư chủ yếu là những người du mục với hoạt động chủ yếu là chăn thả gia súc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Uvs Nuur Basin in Mongolia”. Nasa.gov. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008. 
  2. ^ Elena Petrova (2002). “Problems of Recreational Use of the World Natural Heritage Territories (Ubsunur Hollow Example)” (PDF). 
  3. ^ “Uvs Nuur Basin, Russian Federation (Tuva) & Mongolia”. United Nations Environment Programme. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2008. 
  4. ^ “The Ubsunur Hollow”. Greenpeace. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008. 
  5. ^ “Russia's First World Heritage Site”. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]