Levin Öztunalı

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Levin Öztunalı
20161011 U21 AUT GER 9309.jpg
Öztunalı trong màu áo đội tuyển Đức năm 2016
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Levin Mete Öztunalı
Ngày sinh 15 tháng 3, 1996 (24 tuổi)
Nơi sinh Hamburg, Đức
Chiều cao 1,84 m (6 ft 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Mainz 05
Số áo 8
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
TuRa Harksheide
2004–2006 Eintracht Norderstedt
2006–2013 Hamburger SV
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2013–2016 Bayer Leverkusen 15 (0)
2015–2016Werder Bremen (mượn) 41 (2)
2016– Mainz 05 71 (5)
Đội tuyển quốc gia
2010–2011 U-15 Đức 4 (1)
2011–2012 U-16 Đức 5 (0)
2012–2013 U-17 Đức 14 (0)
2013–2014 U-19 Đức 11 (3)
2014–2015 U-20 Đức 11 (1)
2015–2019 U-21 Đức 30 (7)
* Số trận và số bàn thắng của câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải bóng đá vô địch quốc gia và chính xác tính đến 10:32, 1 tháng 9 năm 2019 (UTC)

Levin Mete Öztunalı (sinh ngày 15 tháng 3 năm 1996) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đức hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Mainz 05.

Sau bảy năm trong học viện của Hamburger SV, Öztunalı chính thức thi đấu chuyên nghiệp trong màu áo câu lạc bộ Bayer Leverkusen vào năm 2013. Anh đã có 15 lần ra sân trước khi gia nhập Werder Bremen theo hợp đồng cho mượn một mùa rưỡi hai năm sau đó. Sau khi hết hạn cho mượn vào năm 2016, Öztunalı đã gia nhập câu lạc bộ hiện tại Mainz 05.

Anh ấy cũng đã đại diện cho Đức thi đấu ở các cấp độ trẻ khác nhau và là một phần của đội giành chức vô địch UEFA châu Âu U-19 vào năm 2014 và Giải vô địch UEFA châu Âu U-21 vào năm 2017. Anh ấy đã có 30 lần khoác áo đội tuyển U-21 và ghi được 7 bàn thắng cho đến năm 2019.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 25 tháng 8 năm 2016, đối thủ của Leverkusen tại Bundesliga là Mainz 05 đã thông báo về việc ký hợp đồng với Öztunalı có thời hạn 5 năm.[1] Anh có trận ra mắt trước Borussia Dortmund vào ngày 27 tháng 8, vào sân ở hiệp hai thay cho Suat Serdar, và ghi bàn đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận đấu tuần sau trong trận hòa 4–4 với Hoffenheim.[2] Anh ghi bàn thắng đầu tiên ở châu Âu vào ngày 29 tháng 9, ghi bàn trong chiến thắng 3–2 tại UEFA Europa League trước đội bóng Azerbaijan, Qabala.[3] Cuối cùng, anh đã có 36 lần ra sân trong mùa giải trên tất cả các đấu trường, bao gồm 23 lần xuất phát từ đội hình chính và ghi 5 bàn thắng ở giải đấu khi Mainz suýt phải đá vòng play-off trụ hạng.[4]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển trẻ quốc gia Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Öztunalı (trái) trong trận đấu với Đức trước U21 Anh năm 2017.

Öztunalı đã đại diện cho đội tuyển Đức thi đấu ở nhiều cấp độ trẻ khác nhau kể từ khi anh ra mắt đội U-15 vào năm 2010.[5] Năm 2014, anh góp mặt trong đội hình tham dự Giải vô địch U19 châu Âu của UEFA tại Hungary. Anh ghi bàn thắng thứ ba trong chiến thắng ở trận bán kết trước Áo và bàn thắng duy nhất ở trận chung kết giúp U-21 Đức lên ngôi vô địch với chiến thắng 1–0 trước U-21 Bồ Đào Nha.[6][7]

Năm 2017, Öztunalı là một trong 23 cầu thủ được chọn vào đội hình của Stefan Kuntz cho Giải vô địch UEFA châu Âu U-21 tại Ba Lan.[8] Đức cuối cùng đã đánh bại Tây Ban Nha 1–0 trong trận chung kết để lên ngôi vô địch.[9]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Öztunalı là cháu trai của cựu danh thủ bóng đá quốc tế người Đức từng thi đấu tại chung kết World Cup Uwe Seeler.[10] Cha của anh là người Thổ Nhĩ Kỳ và trước đây từng là tuyển trạch viên cho Hamburger SV.[11]

Thống kê câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2019[12]
Số lần xuất hiện và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và cuộc thi
Câu lạc bộ Mùa Giải Cúp Cúp châu Âu Tổng cộng
Giải đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Bayer Leverkusen 2013–14 Bundesliga 9 0 0 0 0 0 9 0
2014–15 Bundesliga 6 0 1 0 1 0 8 0
Tổng số 15 0 1 0 1 0 17 0
Werder Bremen (cho mượn) 2014–15 Bundesliga 16 1 1 0 0 0 17 1
2015–16 Bundesliga 25 1 4 0 0 0 29 1
Tổng số 41 2 5 0 0 0 46 2
Mainz 2016–17 Bundesliga 30 5 1 0 5 1 36 6
2017–18 Bundesliga 25 0 1 0 0 0 26 0
2018–19 Bundesliga 15 0 0 0 0 0 15 0
Tổng cộng 70 5 2 0 5 1 77 6
Tổng cộng sự nghiệp 126 7 8 0 6 1 140 8

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đức

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Öztunalı is a Zerofiver”. Mainz 05. ngày 25 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2016.
  2. ^ “Augsburg keep down Werder Bremen; Hoffenheim storm back in Mainz draw”. ESPN. ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016.
  3. ^ “Zlatan Ibrahimovic lifts Man United as Inter lose again in Europa League”. ESPN. ngày 29 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2016.
  4. ^ Stanger, Matthew (ngày 7 tháng 10 năm 2017). “Scouting Spotlight: Jorginho, Mikel Oyarzabal, Levin Oztunali”. ESPN. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018.
  5. ^ Killen, Stephen (ngày 21 tháng 12 năm 2014). “German U-20 Levin Öztunalı joins Werder Bremen on loan 'til 2016”. Vavel. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2016.
  6. ^ a ă Haslam, Andrew (ngày 29 tháng 7 năm 2014). “Germany planning pays off for Öztunalı”. UEFA. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2017.
  7. ^ a ă “The UEFA Tehcnical Team Team of the Tournament”. UEFA. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2017. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “TOTT” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  8. ^ “Under-21 - Germany”. UEFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017.
  9. ^ “Germany won their second European Under-21 Championship with victory over four-time champions Spain in Poland”. BBC. ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2017.
  10. ^ Bogena, Kai Niels (ngày 7 tháng 11 năm 2015). “Die Karriere-Knick des Uwe-Seeler-Enkels”. Die Welt. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2016.(tiếng Đức)
  11. ^ “Seeler wütet nach Wechsel seines Enkels zu Bayer 04”. RD Online (bằng tiếng Đức). ngày 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.
  12. ^ “Levin Öztunalı Club matches”. World Football. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2016.
  13. ^ “Weisers Kopfball macht den EM-Traum wahr”. kicker.de (bằng tiếng Đức). ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]