Myoui Mina

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mina
190324 미나생일기념.jpg
Mina vào ngày 29 tháng 4 năm 2018
Tên bản ngữミョウイミナ(名井南)
SinhMyoui Mina
24 tháng 3, 1997 (22 tuổi)
San Antonio, Texas, Mỹ
Quốc tịchCờ Nhật Bản Nhật Bản
Tên khácSharon Myoui
Nghề nghiệpCa sĩ
Năm hoạt động2014-nay
Quê quánNishinomiyaHyōgo, Kobe, Cờ Nhật Bản Nhật Bản
Chiều cao163 cm (5 ft 4 in)
Cân nặng46 kg (101 lb)
Cha mẹMyoui Akira (cha)
Myoui Sachiko (mẹ)
Người thânMyoui Kai (anh trai).
Sự nghiệp âm nhạc
170303 뮤직뱅크 출근길 트와이스 (3).jpg
Nghệ danhMina
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2015 – nay
Hãng đĩaJYP Entertainment
Hợp tác với
Myoui Mina
Hangul묘이미나
Hanja名井南
Romaja quốc ngữMyoi Mi-na
McCune–ReischauerMyoi Mina
Hán-ViệtDanh Tỉnh Nam

Myoui Mina (Hangul: 묘이 미나, tiếng Hán : 名井南 ; Kana: ミョウイミナ, Hán-Việt: Danh Tỉnh Nam, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1997), tên tiếng Anh là Sharon Myoui, được biết đến với nghệ danh Mina (Hangul: 미나) là nữ ca sĩ thần tượng người Nhật Bản, thành viên nhóm nhạc nữ đa quốc tịch có tên là TWICE được thành lập bởi công ty giải trí JYP Entertainment.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mina sinh ra tại San Antonio, Texas, Hoa Kỳ. Sau đó, gia đình cô chuyển đến thành phố NishinomiyaHyōgo, Kobe, Nhật Bản.[1] Được biết, bố Mina - ông Akira Myoui là giáo sư khoa chỉnh hình của bệnh viện Osaka Đại học Osaka. Ông còn là thành viên kỳ cựu của một hiệp hội chấn thương chỉnh hình ở Mỹ.

Cô học múa ba lê trong mười một năm trước khi gia nhập trường múa Urizip cho việc đào tạo múa hiện đại hơn.[2][3][4] Cô từng theo học tiểu học và trung học tại trường nữ sinh Obayashi Sacred Heart.

Năm 2013, trong khi mua sắm với mẹ trong một trung tâm mua sắm, cô được phát hiện bởi một nhân viên của JYP Entertainment và được mời tham gia JYP Entertainment Global. Cô đã tham dự một buổi thử giọng với ca khúc 'First love' của ca sĩ Nhật Utada Hikaru cho các công ty đang tại Nhật Bản và đã được chấp nhận vào chương trình thực tập tại Hàn Quốc ngày 2 tháng 1 năm 2014.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt, cô đã tham gia MV "Feel" (Japanese) của Junho, "Stop Stop It" của GOT7, "Rose" (Japanese) của Wooyoung và "Only You" của Miss A.

Cô từng là thành viên "Japanese Line" (dự án nhóm nhạc sẽ ra mắt tại Nhật của JYP Entertainment) cùng với các thành viên Sana, Momo và thực tập sinh cũ Sika. Tuy nhiên, sau đó Sika rời công ty nên nhóm đã không được ra mắt. 

2015: Ra mắt với TWICE[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Twice (nhóm nhạc)

Sau 1 năm là thực tập sinh, ngày 7 tháng 7 năm 2015, Mina chính thức trở thành một trong 9 thành viên của Twice qua chương trình tuyển chọn thực tế SIXTEEN. Cô đảm nhận vị trí nhảy chính và hát phụ trong nhóm.

Mina ra mắt với Twice chính thức vào 20 Tháng 10 năm 2015, và phát hành mini-album đầu tiên của họ "The Story Begins" và ca khúc chủ đề "Like Ooh-Ahh".

Mina được chú ý với khả năng múa ballet điêu luyện và vẻ ngoài sang trọng. Tính Mina khá trầm.

2019: Hội chứng sợ sân khấu, tạm ngưng hoạt động cùng Twice[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2019, khi Twice đang đi tour thế giới Twicelight, công ty chủ quán JYP đã thông báo rằng sau những dấu hiệu bất ổn từ Mina như là lo âu, sợ sệt khi ở sân khấu, công ty cùng bác sĩ chuyên khoa tâm lý đã xác nhận rằng cô đã bị hội chứng lo âu, và quyết định rằng cô sẽ phải tạm hoãn hoạt động với Twice để đảm bảo an toàn tối ưu nhất cho bản thân cô.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “트와이스 미나 고향 레코드점의 위엄”. Naver News (bằng tiếng Hàn) (Chosun Ilbo). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ Jeong, Ji-won. “트와이스TV' 미나 "11년 배운 발레 포기, 후회 없다". Xports News (bằng tiếng Hàn) (Xports Media). Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2016. 
  3. ^ “メッセージと卒業生”. Urizip Dance (bằng tiếng Japanese). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 
  4. ^ “女神のデビューが!!!”. Urizip Dance's blog (bằng tiếng Japanese). Ameblo. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]