Ngô Khải Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ngô Khải Hoa
Phồn thể吳啟華 (phồn thể)
Giản thể吴启华 (giản thể)
Sinh19 tháng 5, 1964 (55 tuổi)
Hong Kong
Tên khácLawrence Ng
Nguyên quánPanyu, Quảng Đông, Trung Quốc
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1983 - nay
Phối ngẫuThạch Dương Tử (2006-2014)
Giải thưởng
Giải thưởng thường niên TVB
Những cặp đôi được yêu thích nhất(Dramas)
1998 Bàn tay nhân ái
2001 Bàn tay nhân ái II
Những vai diễn xuất sắc nhất mọi thời đại
1999 Bàn tay nhân ái
Nhân vật truyền hình được yêu thích nhất
2001 Bàn tay nhân ái II

Ngô Khải Hoa (phồn thể: 吳啟華; giản thể: 吴启华, bính âm: Wú Qǐhuá; Tiếng Anh: Lawrence Ng) (sinh 19 tháng 5 năm 1964) là một diễn viên truyền hình nổi tiếng của Hồng Kông. Anh là nam nghệ sĩ thuộc khóa đào tạo diễn xuất thứ 12 của TVB năm 1983, nổi danh với vai bác sĩ Trình Chí Mỹ trong series phim về đề tài y tế nổi tiếng của TVBBàn tay nhân ái” và vai Trương Vô Kỵ trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 2000).[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Khải Hoa sinh ra trong gia đình khá giả có 4 anh em, anh là con thứ 2. Thuở nhỏ, bị thầy tướng số phán là xung khắc với bố, nên anh phải sống tách biệt với gia đình, chính vì điều này khiến tính cách trở nên trầm lặng và ít nói. Năm 12 tuổi, anh bị buộc chuyển đến sống cùng bà nội và cô chú ruột vì bị bố phạt. Năm 13 tuổi, anh cùng anh trai được gia đình cho sang Anh du học, tại đây anh được tiếp xúc với đời sống nghệ thuật nhờ được làm công việc nhân viên hậu trường của một đoàn kịch nghệ.[2].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Khải Hoa cùng với anh trai cũng là một diễn viên quen thộc của TVB - Ngô Khải Minh gia nhập làng giải trí Hồng Kông từ những năm đầu của thập niên 80 trong một dịp tình cờ trở về Hồng Kông để nghỉ hè trước khi quay lại Anh để chuẩn bị nhập học tại Đại học kiến trúc. Anh và anh trai đã mạnh dạn đăng ký thi thử khóa đào tạo diễn viên thứ 12 của đài truyền hình hàng đầu Hồng Kông TVB. Kết quả cả hai người trúng tuyển sau khi vượt qua 3000 thí sinh để lọt vào danh sách 15 thí sinh trúng tuyển cùng với những ngôi sao nổi tiếng cùng thời như: Đào Đại Vũ, Lưu Gia Linh, Tăng Hoa Thiên, Lưu Thanh Vân, Ngô Quân Như, Long Bỉnh Cơ.


Năm 1983, anh và anh trai chính thức gia nhập TVB. Ban đầu anh khởi nghiệp với những vai diễn nhỏ mờ nhạt,không được ai biết đến. Năm 1984, anh được đạo diễn Lý Tuệ Dân vào vai nam thứ chính trong bộ phim Ma vực đào nguyên hợp tác cùng Lưu Đức Hoa.Nhờ vai diễn này Ngô Khải Hoa đã được TVB để mắt tới và trở thành Tiểu sinh của hãng, và cũng từ đó anh bị đóng khung trong những vai phản diện với các phim: Thuyết đường, Lưu manh đại hạnh, Hán sở tranh hùng…

Tuy nhiên phải đến vai diễn Vương Nhất Chính trong Bùng nổ (1996) hợp tác với Tuyên HuyênÔn Triệu Luân sự nghiệp của Ngô Khải Hoa mới bắt đầu tỏa sáng thực sự. Giám chế Diệp Thành Khang đã tin tưởng giao cho anh vai chính diện đầu tiên, và phim đã trở thành một trong những bộ phim cảnh sát hay nhất của TVB, mở đầu và đánh dấu một chặng đường hoạt động nghệ thuật thành công của Ngô Khải Hoa.

Năm 1998, anh tiếp tục thành công với series kinh điển về y tế "Bàn tay nhân ái" (I,II &III) quy tụ dàn diễn viên hàng đầu vào thời điểm đó như: Thái Thiếu Phân, Trần Tuệ San, Lâm Bảo Di, Tô Vĩnh Khang, Trương Gia Huy....., vai diễn bác sĩ Trình Chí Mỹ trở thành vai diễn tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của Ngô Khải Hoa, vai diễn này cũng nằm trong top 100 vai diễn kinh điển của truyền hình Hồng Kông. Bộ phim bốn lần phá vỡ kỷ lục về tỷ suất bạn xem đài. Ngoài ra sự kết hợp ăn ý giữa anh và hoa đán TVB Thái Thiếu Phân giúp hai người trở thành một trong 10 cặp đôi vàng của TVB trong thập niên 90. Sau thành công vang dội của phần I, nhà sản xuất tiếp tục cho ra đời phần II & III cũng ăn khách không kém. Vai diễn Trình Chí Mỹ giúp anh được đề cử hai lần cho hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất của giải thưởng TVB[3].

Năm 2001, anh tiếp tục thành công với vai Trương Vô Kỵ trong phiên bản Tân ỷ thiên đồ long ký cùng với Lê TưXa Thi Mạn, phim thành công vang dội tại châu Á, và giúp Ngô Khải Hoa củng cố thêm vị trí tiểu sanh hàng đầu của TVB ngày một vững chắc. Ngoài ra anh cũng thành công với các phim: Hồ sơ công lý 5, Cầu vồng trong đêm,Bí ẩn trong nhà hát, Oan gia nan giải, Hương sắc tình yêu..... Mặc dù là diễn viên nổi tiếng, nhưng Ngô Khải Hoa không may mắn khi nhiều lần được đề cử Thị đế của TVB nhưng đều bị trượt giải..

Theo đuổi sự nghiệp kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Đang là diễn viên nổi tiếng tại Hong Kong, nhưng Ngô Khải Hoa đã quyết định từ bỏ sự nghiệp diễn xuất để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh,anh từng tuyên bố " Không ai có thể làm diễn viên cả đời". Vì vậy tháng 05/2007, anh đã rời khỏi TVB sau khi kết thúc hợp đồng với hãng này. Công việc kinh doanh dãy nhà hàng châu Âu của anh gần đây cũng bắt đầu hoạt động, một số khác thì đóng cửa.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Khải Hoa từng có hai cuộc hôn nhân đỗ vỡ.Cuộc hôn nhân đầu tiên với người vợ là con gái một đại gia tại Thái Lan vào năm 1991, đến năm 1995 thì ly hôn. Sau đó, tháng 11/2006 Ngô Khải Hoa kết hôn với người mẫu Trung Quốc Thạch Dương Tử, hai người cách nhau đến 21 tuổi và có với nhau một cô con gái 6 tuổi trước khi ly hôn vào cuối năm 2014. Hai người đã ly thân bốn năm trước khi chính thức ly hôn vào năm 2014, kết thúc cuộc hôn nhân dài 7 năm, anh và vợ cũ đang tranh chấp quyền nuôi dưỡng con gái, vụ ly dị này từng hao tổn nhiều giấy mực của báo chí [4].

Quay trở lại phim trường[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, sau vài năm vắng bóng trên phim trường, Ngô Khải Hoa quay trở lại TVB với vai bác sĩ trong phim On Call 36 phần 2. Sau đó, anh tiếp tục tham gia những bộ phim bom tấn của đài như: Mclub với Lý Nhược Đồng, Lý Lệ Trân, Trần Tuệ San...., Tái chiến minh thiên với Từ Tử San.....

Các phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình & điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú
1983 Bắc Đẩu Song hùng
1983 "Thần điêu đại hiệp"
1984 "Ma vực thảo nguyên"
1984 Lộc đỉnh ký
1985 Bích huyết kiếm
1985 "Lục chỉ cầm ma"
1985 Hán sở tranh hùng
1986 Lưu manh đại hãnh
1987 The Legend of the Book and the Sword
1987 Thuyết đường
1988 The Crazy Companies II
1991 The Banquet
1991 New Dragon Gate Inn
1991 Sex and Zen
1992 Centre Stage
1993 The Underground Banker
1994 Hail the Judge
1994 A Chinese Torture Chamber Story
1995 Peace Hotel
1996 ICAC Investigators 1996
1996 Bùng nổ Vương Nhất Chính
1997 Hồ sơ công lý V Từ Vỹ Kiệt
1998 Khung trời xa lạ Phương Tín Triết
1998 Bàn tay nhân ái Bác sĩ Paul/Trình Chí Mỹ Đề cử Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1999 Bí ẩn trong nhà hát
1999 Oan gia nan giải Thành Đạt Xung
1999 My Heart Will Go On
2000 Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 2000) Trương Vô Kỵ
2000 Bàn tay nhân ái 2 Bác sĩ Paul/Trình Chí Mỹ Đề cử Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
2000 When a Man Loves a Woman
2001 Every Dog Has His Date
2001 Hương sắc tình yêu Mã Hữu
2002 Đồn cảnh sát số 7 TV series
2002 The Threat of Love II
2002 The Legendary Siblings 2
2002 Ngạo cốt hùng tâm
2003 Back to Square One
2003 Cầu vồng trong đêm Lạc Thiên Sanh
2003 Đồng thoại Tây Cung
2005 Bàn tay nhân ái 3 Bác sĩ Paul/Trình Chí Mỹ Đề cử Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
2006 Ngôi nhà mật ngọt Chung Chi-leung TV series
2006 Mr. 3 Minutes
2010 72 Tenants of Prosperity
2010 Công lý và danh lợi Thang Gia Minh TV series
2012 Xuan-Yuan Sword: Scar of Sky Guyue the Immortal TV series
2013 The Hippocratic Crush II Lok Yin-sun TV series
2013 7 Assassins Revolutionary
2014 Never Dance Alone Alan Yiu TV series, tên khác Mclub
2014 Tái chiến minh thiên Man Seung-sing TV series
2015 The Dangerous Affair
2015 Keeper of Darkness
2015 The Prospector

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]