Roentgeni

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
roentgeni
darmstadtiroentgenicopernixi
Au
   
 
111
Rg
 
               
               
                                   
                                   
                                                               
                                                               
                                                               
                                   
Rg
(Uhu)
Bảng tiêu chuẩn
Hình dạng
không rõ
Tính chất chung
Tên, Ký hiệu, Số roentgeni (roentgenium), Rg, 111
Phiên âm rơn-ghen-ni
Phân loại không rõ
Nhóm, Chu kỳ, Phân lớp 117, d
Khối lượng nguyên tử [281]
Cấu hình electron [Rn] 5f14 6d9 7s2
(dự đoán)[1]
Số electron trên vỏ điện tử 2, 8, 18, 32, 32, 17, 2
(dự đoán)[1]
Electron shell 111 Roentgenium.svg
Tính chất vật lý
Trạng thái vật chất Không rõ
Tính chất nguyên tử
Trạng thái ôxi hóa −1, +1, +3, +5[2]
(dự đoán theo vàng)
Độ dài liên kết cộng hóa trị 121 (ước lượng)[3] pm
Thông tin khác
Số đăng ký CAS 54386-24-2
Đồng vị ổn định nhất
iso NA Chu kỳ bán rã DM DE (MeV) DP
282Rg syn 0,5 s α 9,00 278Mt
281Rg syn 26 s SF
280Rg syn 3,6 s α 9,75 276Mt
279Rg syn 170 ms α 10,37 275Mt
278Rg syn 4,2 ms α 10,69 274Mt
274Rg syn 15 ms α 11,23 270Mt
272Rg syn 1,6 ms α 11,02, 10,82 268Mt

Roentgeni (phát âm như "rơn-ghen-ni"; tên quốc tế: roentgenium) là nguyên tố hóa học tổng hợp có tính phóng xạ với kí hiệu Rgsố nguyên tử 111. Nó nằm ở vị trí nguyên tố nặng nhất trong nhóm 11 (IB), nhưng hiện nay đồng vị bền đầy đủ vẫn còn chưa được biết - cho phép tiến hành các thí nghiệm hóa học để xác định vị trí của nó. Roentgeni đã từng được gọi là unununi trước khi chính thức phát hiện ra nó.

Roentgeni được tổng hợp đầu tiên năm 1994 và một số đồng vị cũng đã được tổng hợp khi phát hiện ra nó. Đồng vị bền nhất là 281Rg có chu kỳ bán rã ~20 giây, phân rã bằng cách phân hạch tự phát giống như các nguyên tố đồng nơtron N=170 khác.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Roentgeni được phát hiện chính thức bởi Peter Armbruster, Gottfried Münzenberg, và cộng sự tại Gesellschaft für Schwerionenforschung (GSI) ở Darmstadt, Đức vào ngày 8 tháng 12 năm 1994.[4] Chỉ có 3 nguyên tử được tổng hợp (tất cả là 272Rg), bằng sự hợp hạch thu nhiệt giữa các ion nikenbismuth trong máy gia tốc tuyến tính:

20983Bi + 6428Ni272111Rg + 10n

Năm 2001, IUPAC/IUPAP Joint Working Party (JWP) kết luận rằng không có đủ bằng chứng công nhận việc phát hiện vào thời điểm đó.[5] Nhóm GSI đã lập lại thí nghiệm vào năm 2002 và phát hiện ra 3 nguyên tử nữa.[6][7] Trong báo cáo năm 2003, JWP quyết định rằng nhóm GSI nên được công nhận là những người phát hiện ra nguyên tố này.[8]

Đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên roentgenium (Rg) do nhóm GSI đề xuất[9] theo tên của nhà vật lý Đức Wilhelm Conrad Röntgen, và được chấp nhận vào ngày 01 tháng 11 năm 2004.[10] Nguyên tố này trứoc đây được IUPAC đặt tạm theo hệ thống là unununium (unununi), viết tắt Uuu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Turler, A. (2004). “Gas Phase Chemistry of Superheavy Elements”. Journal of Nuclear and Radiochemical Sciences 5 (2): R19–R25.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  2. ^ Haire, Richard G. (2006). “Transactinides and the future elements”. Trong Morss; Edelstein, Norman M.; Fuger, Jean. The Chemistry of the Actinide and Transactinide Elements (ấn bản 3). Dordrecht, Hà Lan: Springer Science+Business Media. tr. 1674–75. ISBN 1-4020-3555-1. 
  3. ^ Chemical Data. Roentgenium - Rg, Hội Hóa học Hoàng gia
  4. ^ Hofmann, S.; Ninov, V.; Heßberger, F. P.; Armbruster, P.; Folger, H.; Münzenberg, G.; Schött, H. J.; Popeko, A. G. và đồng nghiệp (1995). “The new element 111”. Zeitschrift für Physik a Hadrons and Nuclei 350: 281. doi:10.1007/BF01291182. 
  5. ^ Karol et al.; Nakahara, H.; Petley, B. W.; Vogt, E. (2001). “On the discovery of the elements 110–112”. Pure Appl. Chem. 73 (6): 959–967. doi:10.1351/pac200173060959. 
  6. ^ Hofmann, S.; Heßberger, F.P.; Ackermann, D.; Münzenberg, G.; Antalic, S.; Cagarda, P.; Kindler, B.; Kojouharova, J. và đồng nghiệp (2002). “New results on elements 111 and 112”. The European Physical Journal A 14: 147. doi:10.1140/epja/i2001-10119-x. 
  7. ^ Hofmann et al. “New results on element 111 and 112”. GSI report 2000. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2008. 
  8. ^ “Karol et al.”. Pure Appl. Chem. 75 (10): 1601–1611. 2003. 
  9. ^ Corish et al. “Name and symbol of the element with atomic number 111”. IUPAC Provisional Recommendations. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2008. 
  10. ^ Corish et al.; Rosenblatt, G. M. (2004). “Name and symbol of the element with atomic number 111”. Pure Appl. Chem. 76 (12): 2101–2103. doi:10.1351/pac200476122101. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]