Sư đoàn 7, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sư đoàn 7
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Thành lập13/6/1966 13 tháng 6, 1966; 53 năm trước)
Quân chủngVietnam People's Army insignia.png Lục quân Nhân dân Việt Nam
Phân cấpSư đoàn bộ binh
Bộ phận củaFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đoàn 4
Tên khácCông trường 7 Sư đoàn Bến Tre
Đặt tên theoSư đoàn 312
Tỉnh Bến Tre
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam

Chiến tranh biên giới Tây Nam

Thành tíchHuân chương Hồ Chí Minh Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Sư đoàn 7 hay Sư đoàn Bến Tre là một sư đoàn bộ binh trực thuộc Quân đoàn 4, Quân đội nhân dân Việt Nam. Sư đoàn 7 thành lập ngày 13/6/1966 tại Phước Long.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn 7 thành lập trên cơ sở 2 Trung đoàn 141 và 165 của Sư đoàn 312 cũ ở miền Bắc. Các trung đoàn được chính sư đoàn 312 huấn luyện, rồi đi B (vào chiến trường phía nam) và tổng hợp lại thành 1 sư đoàn hoàn chỉnh. Sau đó đội hình có thêm nhiều trung đoàn khác hành quân vào nam, phối thuộc cho sư đoàn: Trung đoàn 16 (Trung đoàn 101 Sư đoàn 325), Trung đoàn 14 (Trung đoàn 18 Sư đoàn 325), Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312), Trung đoàn 95C (Sư đoàn 9)... Sư đoàn có mật danh "Công trường 7" và là phiên bản chiến đấu ở xa của F312, nhiều chỉ huy cũng từng là chiến binh F312. Do thời chống Pháp, sư đoàn 312 có mật danh "Bến Tre" nên sư đoàn 7 còn được gọi là "sư đoàn Bến Tre".

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1966, Sư đoàn tiến nhận tân binh và tăng cường hoạt động ở miền Đông Nam Bộ, chống lại các cuộc tấn công của Mỹ và VNCH trong chiến tranh cục bộ. Sư đoàn 7 được tăng cường thêm nhiều đơn vị khác như: Công pháo, phòng không, đặc công... Sư đoàn tham chiến trong nhiều trận đánh tại Bình Long, Phước Long, đường 13,... Đứng chân chủ yếu ở chiến trường Bình Dương, có vai trò là bức tường phòng thủ bảo vệ các căn cứ, bộ chỉ huy, hoặc chốt chặn đường rút, khóa các luồng chi viện của quân Mỹ và đồng minh.

Sư đoàn 7 sau đó tham gia cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tiến công giành được chiến thắng ban đầu, càng về sau càng bất lợi, các đơn vị bị thiệt hại rút hết về chiến khu. Năm 1969, QGPMN mở cuộc tấn công bồi nhưng yếu dần và phải rút lui để củng cố lại. Gần hết thời gian hoạt động trong cuộc chiến, Sư đoàn hoạt động chủ yếu tại Quân khu 7, nhưng trong khoảng năm 1970 phạm vi hoạt động của Sư đoàn chuyển sang Campuchia để bảo vệ Trung ương Cục miền Nam.

Nửa đầu năm 1970, quân đội Mỹ và QLVNCH tấn công Campuchia. Sư đoàn phối hợp với Căn cứu 20 và Du kích Quân Giải phóng miền Nam, đánh trả 21 tiểu đoàn quân Mỹ rất quyết liệt. Ngày 11/5/1970, Sư đoàn 7 phối hợp với các sư đoàn khác đẩy lùi Sư đoàn 25 QLVNCH và trung đoàn 7 thiết giáp Mỹ.

Năm 1971, Sư đoàn 7 cơ bản đã hồi phục lực lượng, quân đội Mỹ - QLVNCH tiếp tục tấn công vào căn cứ QĐNDVN ở Campuchia. 18/3/1971 Quân ủy lập Đoàn 301 gồm Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 và Trung đoàn 28 pháo binh để chống đỡ. Giữa năm, với trụ cột là Trung đoàn 209, Sư đoàn 7 tiến công và xóa sổ Trung đoàn 18 Thiết giáp QLVNCH.

Đầu năm 1972, Sư đoàn 7 hành quân về Nam Bộ, tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ quy mô cấp quân đoàn. Sư đoàn 7, Sư đoàn 5 và đoàn C30B tấn công kiểm soát Lộc Ninh. Trung đoàn 209 Sư đoàn 7 phối thuộc cho Sư đoàn 9, còn trung đoàn 141 và Trung đoàn 165 tấn công đường 13, chốt chặn và cắt tiếp viện An Lộc. Khi Sư đoàn 9 tấn công An Lộc, đội hình Trung đoàn 209 về lại Sư đoàn 7 chốt chặn khu vực Tàu Ô - Chơn Thành suốt 150 ngày đêm. Giữa chiến dịch, Trung đoàn 165 rời đội hình, Bộ TL Miền điều trung đoàn 205 dự bị bổ sung cho sư 7.

Sau chiến dịch, Sư đoàn được giao nhiệm vụ tiến hành vây lỏng An Lộc, bản thân đã có chỗ đứng vững chắc trên chiến trường cũ. Trong những năm 1973, 1974, Sư đoàn 7 tiếp tục chốt giữ đất và đánh trả khi QLVNCH lấn chiếm vùng kiểm soát. Cuối năm 1974, Quân đoàn 4 thành lập với các Sư đoàn 5,7,9; riêng trung đoàn 205 rời khỏi đội hình về lại sư đoàn Phước Long. Đầu năm 1975, Sư đoàn 7 được phối thuộc Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) tham chiến chiến dịch đường 14 - Phước Long và thắng lớn.

Sư đoàn 5 và Sư đoàn 9 về miền Tây, Quân đoàn 4 chuyển sang hướng đông được phối thuộc Sư đoàn 6 và Sư đoàn 341 để giải quyết Xuân Lộc. Sư đoàn 7 đánh ngã ba Dầu Giây rồi tiến theo hướng đông của quân đoàn.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn 7 do Lê Nam Phong làm Sư đoàn trưởng, ưu tiên nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Ngày 30/4/1975, Sư đoàn 7 được Quân đoàn 2 bàn giao tiếp quản Dinh Độc Lập.

Chiến tranh biên giới Tây Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1979, Sư đoàn 7 được điều động sang Campuchia tiêu diệt quân đội Khơme đỏ. Sau 10 năm đóng quân, năm 1989, Sư đoàn 7 rút về Việt Nam, đóng ở quân khu 7. Hiện nay Sư đoàn 7 nằm trong đội hình Quân đoàn 4.

Biên chế sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung đoàn 141 bộ binh
  • Trung đoàn 165 bộ binh
  • trung đoàn 209 bộ binh
  • Công binh
  • Hậu cần
  • Vệ binh
  • Trinh sát
  • Thông tin

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tá Nguyễn Duy Đoàn

Chính ủy[sửa | sửa mã nguồn]

đại tá Nguyễn Quang Phú

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

thượng tá Mai Chí khanh

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]