Sư đoàn 5, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sư đoàn 5
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân khu 7
Quốc gia Việt Nam
Thành lập23 tháng 11 năm 1965; 54 năm trước (1965-11-23)

Sư đoàn 5 là đơn vị chủ lực của quân khu 7, Quân đội nhân dân Việt Nam, một phiên bản phía tây của sư đoàn 9 Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi đất nước thống nhất, đây là sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở khu vực B2.

Giai đoạn chiến tranh cục bộ [1][sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn 5 được thành lập ngày 23/11/1965 (cũng là kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa 1940) từ 2 trung đoàn Q.764 (E4) và Q.765 (E55) từng phát triển trong Chiến tranh Đặc Biệt. Sư trưởng đầu tiên là Nguyễn Hòa, chính ủy đầu tiên là Lê Xuân Lựu. Dù cả đội hình đông đảo có 2 trung đoàn 4 - 5 cùng các đơn vị trợ chiến, sư này mang vai trò là đơn vị dự bị chiến lược, chủ yếu hoạt động quy mô dưới cấp trung đoàn, chưa từng tác chiến quy mô cấp sư đoàn trước năm 1971.

Thời gian đầu, F5 tác chiến chống lại trung đoàn thiết giáp - lữ đoàn dù 174 Hoa Kỳ, Sư đoàn 18 Quân lực Việt Nam Cộng hòa... F5 chủ yếu hoạt động ở chiến trường Long Khánh - Bà Rịa - Biên Hòa, riêng sở chỉ huy trung đoàn 5 đóng ở Bình Thuận. Đơn vị vẫn trang bị kém vì được tiếp tế rất ít, chủ yếu là CKC-AK hoặc súng chiến lợi phẩm.

Tháng 2/1966 trận Võ Xu, tháng 3 tập kích vào trường biệt kích Vũng Tàu, tháng 4 chạm trán với Sư đoàn 1 Anh Cả Đỏ ở chi khu Tầm Bó, tháng 8 trận Long Tân - trận đầu tiên với lực lượng quân Úc, cùng nhiều chiến công khác... Mỹ đưa thêm quân vào chiến trường, mở rộng những trận càn vào miền đông. Đạt được một số thắng lợi, các đơn vị đều chịu rất nhiều tổn thất ngày càng tăng.

Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc tấn công xuân 1968. F5 được tăng cường trung đoàn 88 (sư 308), có vai trò chủ lực mặt trận phía đông, tấn công Sài Gòn. Thời điểm này chính ủy Tám Hà chiêu hồi về phía Việt Nam Cộng hòa, F5 chịu tổn thất nặng khi đối đầu với hỏa lực của Hoa Kỳ và QLVNCH. Sau 2 đợt tiến công, đội hình chính của sư 5 rút quân về phía Tây Bắc Sài Gòn.

Trung đoàn 4 bị xóa sổ, những tốp cuối cùng của họ rút về căn cứ cũ ở Bà-Long-Biên (khi đó trung đoàn chỉ còn không đầy 100 tay súng là chưa bị thương nhưng đã kiệt sức, về sau tập hợp lại thêm 300 người). Trung đoàn 55, 88 và sư đoàn bộ bị cô lập phải rút hoàn toàn khỏi vùng ven.

Đợt 3 năm 1968 tiếp tục bùng nổ trong khi Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã chuẩn bị sẵn để đón đánh. Đội hình được tăng cường trung đoàn 33 (là E101 cũ ở miền đông) và 174 (trung đoàn Cao Bắc Lạng thuộc sư 316) đưa từ Tây Nguyên vào hoạt động và giành một số thắng lợi, trong khi thương vong vẫn tăng. Cuối năm 1968 chiến dịch Mậu Thân kết thúc, Mỹ đã chấp nhận xuống thang chiến tranh để đàm phán ở Paris.

"Việt Nam hóa chiến tranh"[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn này F5 gặp nhiều khó khăn và phải củng cố đội hình liên tục, không còn giữ nguyên biên chế ban đầu giống như F7 và F9. Đội hình F5 xuống chiến trường phía đông hoạt động cho đến hết năm 1969. E55 của F5 và E95C của F9 tổ chức đánh vào căn cứ Hoàng Diệu nhưng không thành, đành phải rút lui về hướng biên giới.

Năm 1969, E88 rời F5 đi theo hướng Củ Chi - Trảng Bàng - QK8 rồi tăng cường cho QK8; E33 rời F5 đi tăng cường cho chiến trường T6 (ở khu vực Đồng Nai-Bình Thuận). E4 sau khi hồi phục đã tách khỏi sư đoàn, hoạt động độc lập và giữ đất ở căn cứ Đồng Nai. Chỉ còn lại E55 & E174, để bổ sung lực lượng, sư 5 thành lập thêm trung đoàn Q.766 (tức E6) khi có tân binh chuyển vào. Tháng 4/1970 F5 hành quân lên Campuchia và tham gia đánh lui cuộc hành quân qua Campuchia của Mỹ - Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đơn vị đánh thắng trận Snoul, tịch thu được nhiều xe thiết giáp và sử dụng nó trong chiến dịch 1972.

Tại biên giới, sư 5 tách một phần bộ chỉ huy và 2 tiểu đoàn khác của E55 để thành lập trung đoàn 205 (E205 chính là E5 trước khi về sư đoàn) trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền. Còn E5 củng cố lại đội hình gồm 2-3 tiểu đoàn, lực lượng tân binh chiêu mộ ở địa bàn được bổ sung vào E55 và E205. Đầu năm 1971 Quân đội nhân dân Việt Nam lập đoàn 301 gồm 3 sư đoàn 5,7,9. Các trung đoàn 5, 174, 6 đổi tên lần lượt thành 1,2,3 thuộc bộ chỉ huy F5.

Đầu năm 1972, Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Nguyễn Huệ. F5 được tăng cường E3 của F9, phối hợp cùng các đơn vị xe tăng, tấn công Lộc Ninh thành công và đây là trận hiệp đồng binh chủng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam ở chiến trường B2. Trận này F5 xóa sổ trung đoàn 1 thiết giáp, chiến đoàn 9 Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sức ép quân sự này góp phần làm phái đoàn ở hội nghị Paris giữ thế mạnh. Khi F9 tiến công An Lộc, F5 phòng thủ Lộc Ninh và vây vòng ngoài, chi viện hỏa lực cho F9

Sau đó E174 hành quân bổ sung gấp cho chiến trường ở An Lộc. Từ giữa năm 1972 trở về sau F5 lùi về miền tây Nam bộ và hỗ trợ các đơn vị ở đây mở chiến trường phối hợp. Đây là năm mà sư đoàn thu được nhiều thắng lợi nhất.

Giai đoạn sau CTVN[sửa | sửa mã nguồn]

Sau lệnh ngừng bắn 1973, đơn vị này chốt giữ phần lãnh thổ đã kiểm soát và củng cố đội hình. Đến cuối năm 1974, Quân đoàn 4 được thành lập với đội hình 3 sư đoàn 5,7,9. Đầu năm 1975, F9 về miền tây, cùng với F5 và Sư đoàn Phước Long lập binh đoàn 232 (F7 tiến sang phía đông tác chiến cùng F6, F341 ở Xuân Lộc). Kế hoạch Quân lực Việt Nam Cộng hòa rút về miền tây cố thủ đã thất bại. 30/4/1975 kết thúc chiến tranh, sư đoàn 5 được chính quy hóa và hợp nhất với Quân đội Nhân Dân Việt Nam. F5 vẫn làm nhiệm vụ truy nã một số nhóm nhỏ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn chống cự lẻ tẻ.

Năm 1977, 1978 F5 tiếp tục tấn công Khmer Đỏ ở Campuchia, chiếm lại vùng biên giới và tham gia chiến dịch K3. Lần thứ 2, F5 tấn công Snoul và giành thắng lớn vào ngày 5/12/1978. Tháng 1/1979 F5 tấn công Phnôm Pênh. Sau chiến thắng, F5 lần thứ 2 được Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

F5 tiếp tục tham gia mặt trận 479 nhưng lần này chịu nhiều tổn thất dai dẳng vì quân Khmer đỏ vẫn còn. F5 được biên chế thêm E2, E8 biên phòng, E160 tỉnh Long An, nâng tổng số lên 6 E bộ binh và 1 E pháo. Năm 1989 F5 rút về Việt Nam.

Tổ chức sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đoàn BB4[sửa | sửa mã nguồn]

Còn gọi là "đoàn Bà Rịa" Q.764, thành lập ngày 3/2/1965 mang phiên hiệu trung đoàn Đồng Nai, do Đặng Ngọc Sỹ chỉ huy. Được thành lập từ các tiểu đoàn yểm trợ trong chiến dịch Bình Giã, bao gồm:

  • Tiểu đoàn 500 quân số trên 500 người (khi bầu đại úy Năm Hưng làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị được đổi tên thành tiểu đoàn 800) chủ lực miền Đông Nam Bộ
  • Tiểu đoàn 700 quân khu 7 có quân số 700 người

Ngoài ra còn có tiểu đoàn 445 tham chiến hỗ trợ, quân số khoảng 300-400 người.

Khi thành lập F5, trung đoàn này được bổ sung thêm tiểu đoàn 265 đến từ miền Tây. Từ đó về sau E4 bao gồm các tiểu đoàn 800 (D1), tiểu đoàn 265 (D2) và tiểu đoàn 308 (D3).

Giữa năm 1968 E4 gần như bị xoá sổ và phải một thời gian sau mới tái lập lại được. Bộ chỉ huy rút tiểu đoàn 265 về Thủ Đức và bổ sung bằng D2 tỉnh Thái Bình. Năm 1969, E4 tách khỏi F5, tái hoạt động với biên chế D1+D2+D3, tham gia trận tiến công Kỷ Dậu 1969. Sau đó, E4 quay về Phước Tuy hoạt động suốt thời gian chiến đấu độc lập ở chiến trường Bà Rịa - Long Khánh từ 1969 cho đến đầu năm 1975.

Trong trận Xuân Lộc, E4 cùng E812, E33 hợp lại thành sư đoàn 6 do đại tá Hai Phê (Nguyễn Văn Phê) chỉ huy. Do trúng bom CBU, nên D2 tiếp tục bị xóa sổ Sở Chỉ Huy một lần nữa nhưng vẫn tham gia tiến công. Sau chiến thắng 1975, đơn vị được tổ chức về lại F5, bao gồm các tiểu đoàn 1+2+3.

Trung đoàn BB5[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu là trung đoàn 205 (Q.765) hoạt động vào cuối năm 1964 ở miền Tây Nam Bộ. Trung đoàn 5 BB được thành lập chính thức ngày 31/5/1965. Đây là trụ cột của sư đoàn 5, hoạt động ở Tánh Linh (Bình Thuận), còn gọi là "trung đoàn Cá Gô" - chỉ huy trưởng Huỳnh Thìn (Mười Thìn, cán bộ cũ của trung đoàn 4). Chính vì thành lập tháng 5/1965 nên hay được gọi là "đoàn 55" (E5).

Biên chế gồm 3 tiểu đoàn 7, 8, 9 nhưng do tiêu hao nhiều trong một thời gian nên gộp thành 2 tiểu đoàn chính. Tham chiến trận Long Tân với lính Úc vào năm 1966, được bổ sung 1 tiểu đoàn đến từ Bắc Sơn. Đánh vào Sài Gòn lần đầu tiên năm 1968 nhưng cũng bị tổn thất nặng, rút lui về hướng Bắc Sài Gòn, tổ chức đánh đợt 3 với quy mô tăng cường. Năm 1969 khi nhận được quân bổ sung, trung đoàn tiếp tục tiến công - tập kích suốt nửa năm với cường độ yếu dần và đến cuối năm ngừng tiến công để bảo toàn lực lượng.

Khi rút sang biên giới Campuchia vào năm 1970, trung đoàn tách làm 2: trung đoàn 205 (E205) đóng ở sau lưng biên giới - thuộc C40, và "trung đoàn 1" (E1) biên chế vẫn thuộc F5. Năm 1972, Bộ tư lệnh B2 đưa F5 về nước tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ, giữa chiến dịch đưa E205 chi viện cho trận địa của Công Trường 7; năm 1973 tách hẳn ra để thành lập sư đoàn Phước Long và năm 1975 chuyển quân ra Bắc. Còn E1 tham chiến trong đội hình F5 cho đến giữa năm 1972 thì rút sang miền Tây Nam Bộ hoạt động. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh, F5 tổ chức lại khung cũ gồm E4, E5.

Trung đoàn BB271[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trung đoàn của F341 ở Nghệ An. Hành quân đi chiến trường Nam bộ tháng 2/1971 nên được gọi là 271. Ban đầu được biên chế cho đoàn C30B (gồm E271, E24) tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ. Trong chiến dịch năm 1975, E271 bổ sung cho sư đoàn Phước Long. Sau năm 1975 sư này cùng với sư 302 chuyển ra Bắc, E271 được điều về về đội hình F5.

Tiểu đoàn 14 Cối 100mm

Tiểu đoàn 15 SPG-9

Tiểu đoàn 16 SMPK 12,7mm

Tiểu đoàn 17 Công binh

Tiểu đoàn 18 Thông tin

Đại đội 19 Phòng hóa

Đại đội 20 Trinh sát

Đại đội 23 Vệ binh

Tiểu đoàn 24 Quân y

Tiểu đoàn 25 Vận tải

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn trưởng: Thượng tá Lê Xuân Bình

Chính ủy: Đại tá Phạm Anh Tuấn

Phó sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng: Thượng tá Nguyễn Hải Nam

Phó Sư đoàn trưởng: Đại tá Đặng Văn Hảo

Phó Sư đoàn trưởng: Thượng tá Trương Ngọc Trường

Phó Chính ủy: Thượng tá Phạm Như Quân


Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư Đoàn Trưởng

2006-2008, Võ Minh Lương, Trung Tướng(2015) Tư Lệnh Quân khu 7 (2015-nay)

2008-2011, Võ Văn Cổ, Thiếu Tướng(2012) Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7(2011-2018)

2011-4.2014, Nguyễn Văn Hoàng, Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7(2.2020-nay), Phó TL-TMT Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh (4.2014-2.2020)

4.2014-3.2017, Phạm Văn Thuận, Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7(3.2017-nay)

3.2017-11.2018, Nguyễn Trường Thắng, Thiếu tướng (2019) Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh (11.2018-2.2020), Phó tư lệnh Quân khu 7 (2.2020-nay)

11.2018-2.2020, Phạm Văn Rậm, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh (2.2020-nay)

2020-nay, Lê Xuân Bình

Chính Ủy

2005-2008 Nguyễn Trọng Nghĩa Thượng Tướng (2017), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (2012-nay)

2008-2011 Trần Hoài Trung, Trung tướng (2018), Chính ủy Quân khu 7 (2018-nay)

2011-12.2013 Đỗ Văn Bảnh, Thiếu tướng (2018) Chủ nhiệm chính trị Quân khu 7 (2018-nay)

1.2014-5.2017 Phan Văn Xựng, Thiếu tướng (2020) Chính ủy Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh (2.2020-nay)

5.2017-2.2020 Thái Thành Đức, Đại tá (2018), Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 7 (2.2020-nay)

2.2020-nay Phạm Anh Tuấn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]