Sự sống trên Sao Hỏa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mô tả Sao Hỏa sau khi được địa hóa.[b]

Mặc dù cho đến nay, người ta vẫn chưa có chứng cứ xác định nào về sự sống ngoài Trái Đất sự sống của các hành tinh bên ngoài Trái Đất.

Serious searches for evidence of life began in the 19th century, and they continue today via telescopic investigations and landed missions. While early work focused on phenomenology and bordered on fantasy, modern scientific inquiry has emphasized the search for water, chemical biosignatures in the soil and rocks at the planet's surface, and biomarker gases in the atmosphere.[1]

Sao Hỏa là hành tinh giống Trái Đất nhất trong Hệ Mặt trời. Dù là quá khứ hay hiện tại thì khả năng tồn tại sự sống trên hành tinh đỏ vẫn vô cùng lớn. Nước ở dạng lỏng, thứ mà người ta thường cho rằng là điều kiện tất yếu cho sự sống tồn tại, từng chảy trên hành tinh này. [2] Những bức ảnh quan sát Sao Hỏa được công bố gần đây nhất cho thấy, trên bề mặt lạnh lẽo của hành tinh đỏ, từng có dấu tích của những dòng nước. Điều đáng nói, hiện tượng này đã được xác định là chỉ xảy ra trong khoảng 10 năm trở lại đây.[3][a]

On January 24, 2014, NASA reported that current studies on the planet Mars by the Curiosity and Opportunity rovers will now be searching for evidence of ancient life, including a biosphere based on autotrophic, chemotrophic, and/or chemolithoautotrophic microorganisms, as well as ancient water, including fluvio-lacustrine environments (plains related to ancient rivers or lakes) that may have been habitable.[4][5][6][7] The search for evidence of habitability, taphonomy (related to fossils), and organic carbon on the planet Mars is now a primary NASA objective.[4]

Early speculation[sửa | sửa mã nguồn]

Historical map of Mars from Giovanni Schiaparelli Historical map of Mars from Giovanni Schiaparelli
Historical map of Mars from Giovanni Schiaparelli
Mars canals illustrated by astronomer Percival Lowell, 1898

Mars' polar ice caps were discovered in the mid-17th century. In the latter part of the 18th century, William Herschel proved they grow and shrink alternately, in the summer and winter of each hemisphere. By the mid-19th century, astronomers knew that Mars had certain other similarities to Earth, for example that the length of a day on Mars was almost the same as a day on Earth. They also knew that its axial tilt was similar to Earth's, which meant it experienced seasons just as Earth does — but of nearly double the length owing to its much longer year. These observations led to the increase in speculation that the darker albedo features were water, and brighter ones were land. It was therefore natural to suppose that Mars may be inhabited by some form of life.[cần dẫn nguồn][nghiên cứu chưa công bố?]

In 1854, William Whewell, a fellow of Trinity College, Cambridge, who popularized the word scientist, theorized that Mars had seas, land and possibly life forms. Speculation about life on Mars exploded in the late 19th century, following telescopic observation by some observers of apparent Martian canals — which were later found to be optical illusions. Despite this, in 1895, American astronomer Percival Lowell published his book Mars, followed by Mars and its Canals in 1906,[8] proposing that the canals were the work of a long-gone civilization.[9] This idea led British writer H. G. Wells to write The War of the Worlds in 1897, telling of an invasion by aliens from Mars who were fleeing the planet's desiccation.

Spectroscopic analysis of Mars' atmosphere began in earnest in 1894, when U.S. astronomer William Wallace Campbell showed that neither water nor oxygen were present in the Martian atmosphere.[10] By 1909 better telescopes and the best perihelic opposition of Mars since 1877 conclusively put an end to the canal hypothesis.

Vùng Ares Vallis chụp bởi Mars Pathfinder

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chemical, physical, geological, and geographic attributes shape the environments on Mars. Isolated measurements of these factors may be insufficient to deem an environment habitable, but the sum of measurements can help predict locations with greater or lesser habitability potential.[11] The two current ecological approaches for predicting the potential habitability of the Martian surface use 19 or 20 environmental factors, with emphasis on water availability, temperature, presence of nutrients, an energy source, and protection from Solar ultraviolet and galactic cosmic radiation.[12][13]

Scientists do not know the minimum number of parameters for determination of habitability potential, but they are certain it is greater than one or two of the factors in the table below.[11] Similarly, for each group of parameters, the habitability threshold for each is to be determined.[11] Laboratory simulations show that whenever multiple lethal factors are combined, the survival rates plummet quickly.[14] There are no full-Mars simulations published yet that include all of the biocidal factors combined.[14]

kênh rạch sao hoả

Đỉnh cực băng của Sao Hỏa đã được quan sát vào đầu thế kỷ 17, giữa, và họ đã lần đầu tiên đã được chứng minh để phát triển và thu nhỏ luân phiên, vào mùa hè và mùa đông của bán cầu mỗi, bởi William Herschel ở phần sau của thế kỷ 18. Đến giữa thế kỷ 19, nhà thiên văn học biết rằng Sao Hỏa có sự tương đồng nhất định khác Trái Đất, ví dụ như là chiều dài của một ngày trên Sao Hỏa đã gần như giống như một ngày trên Trái Đất. Họ cũng biết rằng nó nghiêng trục cũng tương tự như Trái Đất, có nghĩa là nó có kinh nghiệm mùa giống như Trái Đất không - nhưng gần gấp đôi chiều dài do của nó dài hơn nhiều năm. Những quan sát này đã dẫn đến sự gia tăng suy đoán rằng tối năng suất phản chiếu được nước, và những người sáng được đất. Đó là do tự nhiên để cho rằng Sao Hỏa có thể là nơi sinh sống của một số hình thức của cuộc sống. Năm 1854, William Whewell, một thành viên của Trinity College, Cambridge, người đã phổ biến rộng rãi các nhà khoa học từ, lý thuyết cho rằng Sao Hỏa có biển, có thể cuộc sống hình thức và đất đai. Đầu cơ về cuộc sống trên Sao Hỏa đã phát nổ ở cuối thế kỷ 19, theo quan sát của kính thiên văn của một số nhà quan sát rõ ràng kênh Sao Hỏa - Tuy nhiên ngay sau đó đã được tìm thấy là ảo ảnh quang học. Mặc dù vậy, vào năm 1895, nhà thiên văn học người Mỹ Percival Lowell xuất bản cuốn sách của mình Mars, tiếp theo là Sao Hỏa và kênh của nó vào năm 1906, đề xuất rằng các kênh được công việc của một-đi nền văn minh lâu dài.[15] Ý tưởng này đã dẫn nhà văn người Anh HG Wells viết The War of the Worlds vào năm 1897, nói về cuộc xâm lược của người ngoài hành tinh từ một Sao Hỏa những người chạy trốn của các hành tinh khô. Quang phổ phân tích của "bầu khí quyển Sao Hỏa bắt đầu một cách nghiêm túc vào năm 1894, khi nhà thiên văn học Hoa Kỳ William Wallace Campbell cho thấy rằng không phải nước hoặc ôxy có mặt trong khí quyển Sao Hỏa.[16] Bằng 1909 kính thiên văn tốt hơn và các perihelic đối lập tốt nhất của Sao Hỏa từ năm 1877 kết luận đặt chấm dứt những lý thuyết kênh, rạch.

Habitability factors[13]
Water  · liquid water activity (aw)

 · Past/future liquid (ice) inventories  · Salinity, pH, and Eh of available water

Chemical environment Nutrients:

 · C, H, N, O, P, S, essential metals, essential micronutrients  · Fixed nitrogen

 · Availability/mineralogy Toxin abundances and lethality:  · Heavy metals (e.g., Zn, Ni, Cu, Cr, As, Cd, etc., some essential, but toxic at high levels)  · Globally distributed oxidizing soils

Energy for metabolism Solar (surface and near-surface only)

Geochemical (subsurface)  · Oxidants

 · Reductants  · Redox gradients


physical conditions

 · Temperature

 · Extreme diurnal temperature fluctuations  · Low pressure (Is there a low-pressure threshold for terrestrial anaerobes?)

 · Strong ultraviolet germicidal irradiation  · Galactic cosmic radiation and solar particle events (long-term accumulated effects)

 · Solar UV-induced volatile oxidants, e.g., O 2, O, H2O2, O3  · Climate/variability (geography, seasons, diurnal, and eventually, obliquity variations)

 · Substrate (soil processes, rock microenvironments, dust composition, shielding)  · High CO2 concentrations in the global atmosphere

 · Transport (aeolian, ground water flow, surface water, glacial)

Past[sửa | sửa mã nguồn]

Recent models have shown that, even with a dense CO2 atmosphere, early Mars was, in fact, colder than Earth has ever been.[17] However, transiently warm conditions related to impacts or volcanism could have produced conditions favoring the formation of the late Noachian valley networks, even though the mid–late Noachian global conditions were probably icy. Local warming of the environment by volcanism and impacts would have been sporadic, but there should have been many events of water flowing at the surface of Mars.[17] Both the mineralogical and the morphological evidence indicates a degradation of habitability from the mid Hesperian onward. The exact causes are not well understood but may be related to a combination of processes including loss of early atmosphere, or impact erosion, or both.[17]

Alga crater—detection of impact glass deposit—possible site for preserved ancient life.[18]

The loss of the Martian magnetic field strongly affected surface environments through atmospheric loss and increased radiation; this change significantly degraded surface habitability.[19] When there was a magnetic field, the atmosphere would have been protected from erosion by solar wind, which would ensure the maintenance of a dense atmosphere, necessary for liquid water to exist on the surface of Mars.[20] The loss of the atmosphere was accompanied by decreasing temperatures. A part of the liquid water inventory sublimed and was transported to the poles, while the rest became trapped in a subsurface ice layer.[17]

Observations on Earth and numerical modeling have shown that a crater-forming impact can result in the creation of a long lasting hydrothermal system when ice is present in the crust. For example, a 130 km large crater could sustain an active hydrothermal system for up to 2 million years, that is, long enough for microscopic life to emerge.[17]

Soil and rock samples studied in 2013 by NASA's Curiosity rover's onboard instruments brought about additional information on several habitability factors.[21] The rover team identified some of the key chemical ingredients for life in this soil, including sulfur, nitrogen, hydrogen, oxygen, phosphorus and possibly carbon, as well as clay minerals, suggesting a long-ago aqueous environment — perhaps a lake or an ancient streambed — that was neutral and not too salty.[21] On December 9, 2013, NASA reported that, based on evidence from Curiosity studying Aeolis Palus, Gale Crater contained an ancient freshwater lake which could have been a hospitable environment for microbial life.[22][23] The confirmation that liquid water once flowed on Mars, the existence of nutrients, and the previous discovery of a past magnetic field that protected the planet from cosmic and Solar radiation,[24][25] together strongly suggest that Mars could have had the environmental factors to support life.[26][27] However, the assessment of past habitability is not in itself evidence that Martian life has ever actually existed. If it did, it was probably microbial, existing communally in fluids or on sediments, either free-living or as biofilms, respectively.[19]

Impactite, shown to preserve signs of life on Earth, was discovered on Mars and could contain signs of ancient life, if life ever existed on the planet.[28]

Present[sửa | sửa mã nguồn]

No definitive evidence for biosignatures or organics of Martian origin has been identified, and assessment will continue not only through the Martian seasons, but also back in time as the Curiosity rover studies what is recorded in the depositional history of the rocks in Gale Crater.[11] While scientists have not identified the minimum number of parameters for determination of habitability potential, some teams have proposed hypotheses based on simulations.

Subsurface[sửa | sửa mã nguồn]

Although Mars soils are likely not to be overtly toxic to terrestrial microorganisms,[11] life on the surface of Mars is extremely unlikely because it is bathed in radiation and it is completely frozen.[29][30][31][32][33][34] The radiation environment on the surface, as recently determined by Curiosity rover "is so high that any biological organisms would not survive without protection."[35] Therefore, the best potential locations for discovering life on Mars may be at subsurface environments that have not been studied yet.[19][34][36][37][38][39][40] The extensive volcanism in the past possibly created subsurface cracks and caves within different strata where liquid water could have been stored, forming large aquifers with deposits of saline liquid water, minerals, organic molecules, and geothermal heat – potentially providing a habitable environment away from the harsh surface conditions.[34][41][42][43]

Surface brines[sửa | sửa mã nguồn]

Although pure liquid water does not appear at the surface of Mars,[44] there is conclusive evidence of hydrated perchlorate brine flows on recurring slope lineae, based on spectrometer readings of the darkened areas of slopes.[45][46][47] Astrobiologists are keen to find out more, as not much is known about these brines. Some geologists think that brines may provide a potential habitat for terrestrial salt and cold-loving microorganisms (halophile psychrophilic).[48] Several biologists argue that although chemically important, thin films of transient liquid brine are not likely to provide suitable sites for life, as the activity of water on salty films, the temperature, or both are less than the biological thresholds across the entire Martian surface and shallow subsurface.[13][49][50][51][52]

The damaging effect of ionizing radiation on cellular structure is one of the prime limiting factors on the survival of life in potential astrobiological habitats.[32][33][53] Even at a depth of 2 meters beneath the surface, any microbes would probably be dormant, cryopreserved by the current freezing conditions, and so metabolically inactive and unable to repair cellular degradation as it occurs.[33] Also, solar ultraviolet (UV) radiation proved particularly devastating for the survival of cold-resistant microbes under simulated surface conditions on Mars, as UV radiation was readily and easily able to penetrate the salt-organic matrix that the bacterial cells were embedded in.[54] In addition, NASA's Mars Exploration Program states that life on the surface of Mars is unlikely, given the presence of superoxides that break down organic (carbon-based) molecules on which life is based.[55]

Cosmic radiation[sửa | sửa mã nguồn]

In 1965, the Mariner 4 probe discovered that Mars had no global magnetic field that would protect the planet from potentially life-threatening cosmic radiation and solar radiation; observations made in the late 1990s by the Mars Global Surveyor confirmed this discovery.[56] Scientists speculate that the lack of magnetic shielding helped the solar wind blow away much of Mars's atmosphere over the course of several billion years.[57] As a result, the planet has been vulnerable to radiation from space for about 4 billion years.[58] Currently, ionizing radiation on Mars is typically two orders of magnitude (or 100 times) higher than on Earth.[59] Even the hardiest cells known could not possibly survive the cosmic radiation near the surface of Mars for that long.[29][60] After mapping cosmic radiation levels at various depths on Mars, researchers have concluded that any life within the first several meters of the planet's surface would be killed by lethal doses of cosmic radiation.[29][30][61] The team calculated that the cumulative damage to DNA and RNA by cosmic radiation would limit retrieving viable dormant cells on Mars to depths greater than 7.5 metres below the planet's surface.[30]

Even the most radiation-tolerant Earthly bacteria would survive in dormant spore state only 18,000 years at the surface; at 2 meters —the greatest depth at which the ExoMars rover will be capable of reaching— survival time would be 90,000 to half million years, depending on the type of rock.[31]

Data collected by the Radiation assessment detector (RAD) instrument on board the Curiosity rover, revealed that the actual absorbed dose measured is 76 mGy/year at the surface,[62] and that "ionizing radiation strongly influences chemical compositions and structures, especially for water, salts, and redox-sensitive components such as organic matter."[62] Regardless of the source of Martian organic compounds (meteoric, geological, or biological), its carbon bonds are susceptible to breaking and reconfigurating with surrounding elements by ionizing charged particle radiation.[62] These improved subsurface radiation estimates give insight into the potential for the preservation of possible organic biosignatures as a function of depth as well as survival times of possible microbial or bacterial life forms left dormant beneath the surface.[62] The report concludes that the in situ "surface measurements —and subsurface estimates— constrain the preservation window for Martian organic matter following exhumation and exposure to ionizing radiation in the top few meters of the Martian surface."[62]

Nitrogen fixation[sửa | sửa mã nguồn]

After carbon, nitrogen is arguably the most important element needed for life. Thus, measurements of nitrate over the range of 0.1% to 5% are required to address the question of its occurrence and distribution. There is nitrogen (as N2) in the atmosphere at low levels, but this is not adequate to support nitrogen fixation for biological incorporation.[63] Nitrogen in the form of nitrate could be a resource for human exploration both as a nutrient for plant growth and for use in chemical processes. On Earth, nitrates correlate with perchlorates in desert environments, and this may also be true on Mars. Nitrate is expected to be stable on Mars and to have formed by thermal shock from impact or volcanic plume lightning on ancient Mars.[64]

On 24 March 2015, NASA reported that the SAM instrument on the Curiosity rover detected nitrates by heating surface sediments. The nitrogen in nitrate is in a "fixed" state, meaning that it is in an oxidized form that can be used by living organisms. The discovery supports the notion that ancient Mars may have been hospitable for life.[64][65][66] Modeling indicates that the transient condensed water films on the surface should be transported to lower depths (≈10 m), where subsurface microorganisms could thrive.[67]

Low pressure[sửa | sửa mã nguồn]

Further complicating estimates of the habitability of the Martian surface is the fact that very little is known on the growth of microorganisms at pressures close to the conditions found on the surface of Mars. Some teams determined that some bacteria may be capable of cellular replication down to 25 mbar, but that is still above the atmospheric pressures found on Mars (range 1–14 mbar).[68] In another study, twenty-six strains of bacteria were chosen based on their recovery from spacecraft assembly facilities, and only Serratia liquefaciens strain ATCC 27592 exhibited growth at 7 mbar, 0 °C, and CO2-enriched anoxic atmospheres.[68]

Kênh đào Sao Hoả[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kênh đào Sao Hỏa

Bản đồ Sao Hỏa của Giovanni Schiaparelli.
Phác họa bản đồ Sao Hỏa bởi Lowell trước năm 1914.
Bản đồ Sao Hỏa chụp bởi kính thiên văn không gian Hubble khi hành tinh ở gần vị trí xung đối năm 1999.

Cho đến thế kỷ 19, độ phóng đại của các kính thiên văn đã đạt đến mức cần thiết cho việc phân giải các đặc điểm trên bề mặt hành tinh đỏ. Trong tháng 9 năm 1877, sự kiện Sao Hỏa tiến đến vị trí xung đối đã được dự đoán xảy ra vào ngày 5 tháng 9. Nhờ vào sự kiện này, nhà thiên văn người Italia Giovanni Schiaparelli sử dụng kính thiên văn 22 cm ở Milano nhằm quan sát hành tinh này để vẽ ra tấm bản đồ chi tiết đầu tiên về Sao Hỏa mà ông thấy qua ống kính. Trên bản đồ này có đánh dấu những đặc điểm mà ông gọi là canali, mặc dù sau đó được chỉ ra là những ảo ảnh quang học. Những canali được vẽ là những đường thẳng trên bề mặt Sao Hỏa và ông đặt tên của chúng theo tên của những con sông nổi tiếng trên Trái Đất. Trong ngôn ngữ của ông, canali có nghĩa là "kênh đào" hoặc "rãnh", và được dịch một cách hiểu nhầm sang tiếng Anh là "canals" (kênh đào).[69][70]

Ảnh hưởng bởi những quan sát này, nhà Đông phương học Percival Lowell đã xây dựng một đài quan sát mà sau này mang tên đài quan sát Lowell với hai kính thiên văn đường kính 300 và 450 mm. Đài quan sát này được sử dụng để quan sát Sao Hỏa trong lần xung đối hiếm có vào năm 1894 và những lần xung đối thông thường về sau. Lowell đã xuất bản một vài cuốn sách về Hỏa Tinh và đề cập đến sự sống trên hành tinh này, chúng đã có những ảnh hưởng nhất định đối với công chúng về hành tinh này.[71] Đặc điểm canali cũng đã được một số nhà thiên văn học tìm thấy, như Henri Joseph Perrotin và Louis Thollon ở Nice, nhờ sử dụng một trong những kính thiên văn lớn nhất thời bấy giờ.[72][73]

Sự thay đổi theo mùa (bao gồm sự thu hẹp diện tích của các chỏm băng vùng cực và những miền tối hình thành trong mùa hè trên Hỏa Tinh) kết hợp với ý niệm về kênh đào đã dẫn đến những phỏng đoán về sự sống trên Sao Hỏa, và nhiều người có niềm tin lâu dài rằng Sao Hỏa có những vùng biển rộng lớn và những cánh đồng bạt ngàn. Tuy nhiên những kính thiên văn thời này không đủ độ phân giải đủ lớn để chứng minh hay bác bỏ những phỏng đoán này. Khi những kính thiên văn lớn hơn ra đời, những canali thẳng, ngắn hơn được quan sát rõ hơn. Khi Camille Flammarion thực hiện quan sát năm 1909 với kính đường kính 840 mm, những địa hình không đồng đều được nhận ra nhưng không một đặc điểm canali được trông thấy.[74]

Thậm chí những bài báo trong thập niên 1960 về sinh học vũ trụ trên Sao Hỏa, nhiều tác giả đã giải thích theo khía cạnh sự sống cho những đặc điểm thay đổi theo mùa trên hành tinh này. Những kịch bản cụ thể về quá trình Trao_đổi_chất và chu trình hóa học cho những hệ sinh thái cũng đã được xuất bản.[75]

Cho đến khi những tàu vũ trụ viếng thăm hành tinh này trong chương trình Mariner của NASA trong thập niên 1960 thì những bí ẩn này mới được sáng tỏ. Những chấp nhận chung về một hành tinh đã chết được khẳng định trong thí nghiệm nhằm xác định sự sống của tàu Viking và những ảnh chụp tại nơi nó đổ bộ.[76]

Một vài bản đồ về Sao Hỏa đã được lập ra nhờ sử dụng các dữ liệu thu được từ các phi vụ này, nhưng cho đến tận phi vụ của tàu Mars_Global_Surveyor, phóng lên vào năm 1996 và ngừng hoạt động năm 2006, đã mang lại những chi tiết đầy đủ nhất về bản đồ địa hình, từ trường và sự phân bố khoáng chất trên bề mặt.[77] Những bản đồ về Sao Hỏa hiện nay đã được cung cấp trên một số dịch vụ trực tuyến, như Google_Mars.

Thiên thạch[sửa | sửa mã nguồn]

thiên thạch ALH 84001

Các nhà khoa học của NASA và Đại học Stanford (California) đã tìm thấy bằng chứng cho cuộc sống hóa thạch trong đá Sao Hỏa. Điều này được gọi là thiên thạch SNC-để có được đẩy ra vào không gian bởi một tác động thiên thạch trên Sao Hỏa khoảng 15 triệu năm trước, và đi du lịch quanh Mặt trời trên một quỹ đạo hình elip ngày của riêng mình, như là một hành tinh miniture, cho đến khi nó tác động trong một lĩnh vực băng Nam Cực về 13.000 năm trước đây, nơi nó được tìm thấy vào năm 1984. Nó đã được dán nhãn "Allen Hills 84001" hoặc "ALH 84001".

Điều gì đã được phát hiện là các hợp chất hữu cơ phức tạp trong đá, được gọi là PAHs (hydrocarbon đa vòng thơm). Các chất hóa học, khoáng vật,. Và kết cấu của các hợp chất này và cacbonat xung quanh, chung, chỉ vào một nguồn gốc sinh học, và do đó kết luận rằng có là bằng chứng cho cuộc sống nguyên thủy trên Sao Hỏa. cuộc sống này được cho là đã tồn tại có hàng tỉ năm trước (các cacbonat được ước tính ở độ tuổi 3,6 tỷ năm), và bao gồm các vi sinh vật đơn giản tương tự như vi khuẩn trên mặt đất. Các yêu cầu về bằng chứng cho cuộc sống phụ thuộc vào một số sự kiện đó phải được kiểm tra: Bằng chứng đã được thành lập mà các đá có nguồn gốc của nó trên Sao Hỏa. Nó phải được kiểm tra nếu các hợp chất hữu cơ có thể có nguồn gốc trên cạn (tức là nếu chúng được thêm ô nhiễm trong 13.000 năm khi đá được trong băng). Nếu có nguồn gốc từ Sao Hỏa, điều tra phải được thực hiện nếu họ đã hình thành trong quá trình sinh học hoặc sinh non.

Nước[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nước trên Sao Hỏa
Một loạt các quan niệm của nghệ sĩ bảo hiểm giả nước trên Sao Hỏa trong quá khứ.

Nước là cần thiết cho cuộc sống và sự trao đổi chất, do đó, nếu nước đã có mặt trên Sao Hỏa, các cơ hội của nó có hỗ trợ cuộc sống có thể có được yếu tố quyết định. Các orbiters Viking tìm thấy bằng chứng của thung lũng sông có thể có trong nhiều lĩnh vực, xói mòn và, ở bán cầu nam, nhánh suối.

Liquid water, necessary for life as we know it, cannot exist on the surface of Mars except at the lowest elevations for minutes or hours.[78][79] Liquid water does not appear at the surface itself,[80] but it could form in minuscule amounts around dust particles in snow heated by the Sun.[81][82] Also, the ancient equatorial ice sheets beneath the ground may slowly sublimate or melt, accessible from the surface via caves.[83][84][85][86]

Water on Mars exists almost exclusively as water ice, located in the Martian polar ice caps and under the shallow Martian surface even at more temperate latitudes.[87][88] A small amount of water vapor is present in the atmosphere.[89] There are no bodies of liquid water on the Martian surface because its atmospheric pressure at the surface averages 600 pascal (0,087 psi)—about 0.6% of Earth's mean sea level pressure—and because the temperature is far too low, (210 K (−63 °C)) leading to immediate freezing. Despite this, about 3.8 billion years ago,[90] there was a denser atmosphere, higher temperature, and vast amounts of liquid water flowed on the surface,[91][92][93][94] including large oceans.[95][96][97][98][99] It has been estimated that the primordial oceans on Mars would have covered between 36%[100] and 75% of the planet.[101]

Warm-season flows on slope in Newton Crater

Analysis of Martian sandstones, using data obtained from orbital spectrometry, suggests that the waters that previously existed on the surface of Mars would have had too high a salinity to support most Earth-like life. Tosca et al. found that the Martian water in the locations they studied all had water activity, aw ≤ 0.78 to 0.86—a level fatal to most Terrestrial life.[102] Haloarchaea, however, are able to live in hypersaline solutions, up to the saturation point.[103]

In June 2000, possible evidence for current liquid water flowing at the surface of Mars was discovered in the form of flood-like gullies.[104][105] Additional similar images were published in 2006, taken by the Mars Global Surveyor, that suggested that water occasionally flows on the surface of Mars. The images did not actually show flowing water. Rather, they showed changes in steep crater walls and sediment deposits, providing the strongest evidence yet that water coursed through them as recently as several years ago.

There is disagreement in the scientific community as to whether or not the recent gully streaks were formed by liquid water. Some suggest the flows were merely dry sand flows.[106][107][108][109] Others suggest it may be liquid brine near the surface,[110][111][112] but the exact source of the water and the mechanism behind its motion are not understood.[113]

Silica[sửa | sửa mã nguồn]

The silica-rich patch discovered by Spirit rover

In May 2007, the Spirit rover disturbed a patch of ground with its inoperative wheel, uncovering an area extremely rich in silica (90%).[114] The feature is reminiscent of the effect of hot spring water or steam coming into contact with volcanic rocks. Scientists consider this as evidence of a past environment that may have been favorable for microbial life, and theorize that one possible origin for the silica may have been produced by the interaction of soil with acid vapors produced by volcanic activity in the presence of water.[115]

Based on Earth analogs, hydrothermal systems on Mars would be highly attractive for their potential for preserving organic and inorganic biosignatures.[116][117][118] For this reason, hydrothermal deposits are regarded as important targets in the exploration for fossil evidence of ancient Martian life.[119][120][121]

Methane[sửa | sửa mã nguồn]

Số tiền Trace của mêtan trong khí quyển của Sao Hỏa được phát hiện vào năm 2003 và xác nhận trong năm 2004.[122][123][124][125][126][127] Sự hiện diện của khí mê-tan cho thấy, vì nó là một chất khí không ổn định, có phải có một nguồn hoạt động trên hành tinh để giữ mức đó trong bầu khí quyển. Người ta ước tính rằng Sao Hỏa phải sản xuất 270 tấn/năm khí mê-tan,[128][129] nhưng tiểu hành tinh tác động chỉ chiếm 0,8% của tổng số sản xuất khí mê-tan. Mặc dù nguồn địa chất của khí mê-tan như serpentinization là có thể, việc thiếu hiện tại núi lửa, thủy nhiệt hoạt động hoặc các điểm nóng không thuận lợi cho địa chất mê-tan. Nó đã được cho rằng khí mê-tan được sản xuất bởi các phản ứng hóa học trong các thiên thạch, do được nhiệt độ trong quá trình nhập cảnh qua bầu khí quyển. Tuy nhiên, nghiên cứu xuất bản trong năm 2009 tháng mười hai, loại trừ khả năng này.[130][131] Sự tồn tại của cuộc sống ở dạng vi sinh vật như methanogens nằm trong số có thể nhưng vẫn chưa được chứng minh nguồn. Nếu vi Sao Hỏa cuộc sống là sản xuất khí mê-tan, nó có thể nằm xa dưới bề mặt, nơi mà nó vẫn còn đủ ấm để nước lỏng tồn tại.[132]

Kể từ khi phát hiện năm 2003 của mêtan trong khí quyển, một số nhà khoa học đã thiết kế mô hình và trong các thí nghiệm in vitro thử nghiệm phát triển của vi khuẩn men vi sinh methanogenic trên đất Sao Hỏa mô phỏng, nơi mà tất cả bốn chủng methanogen sản xuất thử nghiệm cấp đáng kể của khí mê-tan, ngay cả trong sự hiện diện của 1.0wt% perclorat muối. If microscopic Martian life is producing the methane, it probably resides far below the surface, where it is still warm enough for liquid water to exist.[36]

Since the 2003 discovery of methane in the atmosphere, some scientists have been designing models and in vitro experiments testing growth of methanogenic bacteria on simulated Martian soil, where all four methanogen strains tested produced substantial levels of methane, even in the presence of 1.0wt% perchlorate salt.[133] Các kết quả báo cáo cho thấy peclorat phát hiện bởi Lander Phoenix sẽ không loại trừ sự hiện diện có thể có của methanogens trên Sao Hỏa.

Một nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi Levin cho rằng cả hai-mê-tan hiện tượng sản xuất và suy thoái-có thể được chiếm bởi một hệ sinh thái của khí mê-tan-sản xuất và tiêu thụ khí mê-tan các vi sinh vật.[134]

Research at the University of Arkansas presented in June 2015 suggested that some methanogens could survive on Mars's low pressure. Rebecca Mickol, found that in her laboratory, four species of methanogens survived low-pressure conditions that were similar to a subsurface liquid aquifer on Mars. The four species that she tested were Methanothermobacter wolfeii, Methanosarcina barkeri, Methanobacterium formicicum, and Methanococcus maripaludis.[135] In June 2012, scientists reported that measuring the ratio of hydrogen and methane levels on Mars may help determine the likelihood of life on Mars.[136][137] According to the scientists, "...low H2/CH4 ratios (less than approximately 40) indicate that life is likely present and active."[136] Other scientists have recently reported methods of detecting hydrogen and methane in extraterrestrial atmospheres.[138][139]

The Curiosity rover, which landed on Mars in August 2012, is able to make measurements that distinguish between different isotopologues of methane, and in 2014, Curiosity detected a "tenfold spike" in the level of methane in the Martian atmosphere compared to the usual background readings.[140][141][142] However, even if the mission is to determine that microscopic Martian life is the seasonal source of the methane, the life forms probably reside far below the surface, outside the rover's reach.[143] The first measurements with the Tunable Laser Spectrometer (TLS) in the Curiosity rover indicated that there is less than 5 ppb of methane at the landing site at the point of the measurement.[144][145][146][147] On July 19, 2013, NASA scientists published the results of a new analysis of the atmosphere of Mars, reporting a lack of methane around the landing site of the Curiosity rover.[148][149][150] On September 19, 2013, NASA again reported no detection of atmospheric methane with a measured value of &0000000000000000.1800000.18+0.67 ppbv corresponding to an upper limit of only 1.3 ppbv (95% confidence limit) and, as a result, concluded that the probability of current methanogenic microbial activity on Mars is reduced.[151][152][153] On 16 December 2014, NASA reported that Curiosity had detected a tenfold increase ('spike') in methane in the atmosphere around it in late 2013 and early 2014. Four measurements taken over two months in this period averaged 7 ppb, suggesting that methane is released at intervals.[140][141][154]

India's Mars Orbiter Mission, launched on November 5, 2013, is searching for methane in the atmosphere of Mars using its Methane Sensor for Mars (MSM). The orbiter has been orbiting Mars since September 24, 2014. The ExoMars Trace Gas Orbiter planned to launch in 2016 would further study the methane,[155][156] as well as its decomposition products such as formaldehyde and methanol.

Formaldehyde[sửa | sửa mã nguồn]

In February 2005, it was announced that the Planetary Fourier Spectrometer (PFS) on the European Space Agency's Mars Express Orbiter had detected traces of formaldehyde in the atmosphere of Mars. Vittorio Formisano, the director of the PFS, has speculated that the formaldehyde could be the byproduct of the oxidation of methane and, according to him, would provide evidence that Mars is either extremely geologically active or harbouring colonies of microbial life.[157][158] NASA scientists consider the preliminary findings well worth a follow-up, but have also rejected the claims of life.[159][160]

Chương trình Viking[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chương trình Viking
Vệ tinh Viking

Chương trình Viking là một chương trình thám hiểm Sao Hỏa không người lái của NASA, bao gồm tàu vũ trụ Viking 1 và Viking 2[161]

Thí nghiệm Viking[sửa | sửa mã nguồn]

The 1970s Viking program placed two identical landers on the surface of Mars and tasked to look for biosignatures of microbial life on the surface. Of the four experiments performed by each Viking lander, only the 'Labeled Release' (LR) experiment gave a positive result for metabolism, while the other three did not detect organic compounds. The LR was a specific experiment designed to test only a narrowly defined critical aspect of the theory concerning the possibility of life on Mars; therefore, the overall results were declared, officially, inconclusive.[10] Further, no Mars lander mission has found meaningful traces of biomolecules or biosignatures. The claim of extant microbial life on Mars, is based on old data collected by the Viking landers, currently reinterpreted as sufficient evidence of life, mainly by Gilbert Levin,[162] Joseph D. Miller,[163] Navarro,[164] Giorgio Bianciardi and Patricia Ann Straat,[165] that the Viking LR experiments did, indeed, detect extant microbial life on Mars.

Relatively recent assessments published in December 2010 by Rafael Navarro–Gonzáles,[166][167][168][169] indicate that organic compounds "could have been present" in the soil analyzed by both Viking 1 and 2. The study determined that perchlorate —discovered in 2008 by Phoenix lander[170][171]— can destroy organic compounds when heated, and produce chloromethane and dichloromethane as byproduct, the identical chlorine compounds discovered by both Viking landers when they performed the same tests on Mars. Because perchlorate would have broken down any Martian organics, the question of whether or not Viking found organic compounds is still wide open.[172][173]

The Labeled Release evidence was not generally accepted initially, and, to this day lacks the consensus of the scientific community.[174]

Cuộc sống trên Sao Hỏa?[sửa | sửa mã nguồn]

"Cuộc sống trên Sao Hỏa?" là một bài hát của David Bowie đầu tiên phát hành năm 1971 trên hunky album Dory. Các bài hát, mà BBC Radio 2 sau này gọi là "con lai giữa Broadway...

Địa khai hoá Sao Hoả[sửa | sửa mã nguồn]

Các bước cải sinh Sao Hoả[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình cải sinh Sao Hỏa
  • Thám hiểm
  • Làm ấm
  • Xây dựng[b]

Sự tiến hóa của Mặt Trời[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng thời gian này, có thể là nhiệt độ bề mặt Sao Hỏa sẽ tăng từ từ, hơi nước và CO2 hiện tại đang đóng băng dưới regolith bề mặt sẽ giải phóng vào khí quyển tạo nên hiệu ứng nhà kính nung nóng hành tinh cho đến khi nó đạt những điều kiện tương đương với Trái Đất ngày nay, do đó cung cấp nơi trú chân tiềm năng trong tương lai cho sinh vật trên Trái Đất.[176]

Sứ mệnh "tự sát" lên Sao Hỏa[sửa | sửa mã nguồn]

Công cuộc "thuộc địa hóa" Sao Hỏa nên giao cho các phi hành gia trên 60 tuổi, đó là đề nghị của các nhà khoa học Mỹ. Thông thường, bay một chiều luôn rẻ hơn khứ hồi, và điều này không ngoại lệ đối với hành trình đến Sao Hỏa. Đó cũng là lý do hai nhà khoa học người Mỹ đưa ra đề nghị nên giao sứ mệnh chinh phục Sao Hỏa cho phi hành gia ở độ tuổi 60. Cũng như những người đầu tiên khai phá Bắc Mỹ, họ là những người sẵn sàng cho chuyến hành trình một đi không trở lại, với mục tiêu là cắt giảm đến 80% chi phí so với trường hợp vừa đi vừa về.

Viễn cảnh đưa người lên Sao Hỏa đang gần trở thành hiện thực - Ảnh: NASA.

Khoảng 1 tháng trước,[khi nào?] NASA tiết lộ đang nghiên cứu khả năng gửi người đến Sao Hỏa, và cơ quan này đã nhận khoảng 1,5 triệu USD tiền quỹ đầu tiên để khởi động dự án Hundred Years Starship. Sau khi thông tin trên được công bố, hai nhà khoa học Schulze-Makuch và Davies cho rằng con người nhất định phải "xâm chiếm" hành tinh này trong tương lai gần để đối phó với thảm họa có thể xảy ra đối với Trái Đất. Theo dự đoán của họ, hành trình theo kiểu Christopher Columbus có thể bắt đầu trong 2 thập niên nữa.

"Phải thúc đẩy tiến trình khai phá Sao Hỏa", báo Daily Mail dẫn lời Dirk Schulze-Makuch, giáo sư Đại học bang Washington. Theo đề nghị của Schulze-Makuch và nhà vật lý học Paul Davies (Đại học bang Arizona), sứ mệnh khám phá hành tinh đỏ sẽ được thực hiện với 2 nhóm phi hành gia. Mỗi nhóm gồm 2 người sẽ bay đến Sao Hỏa trên các tàu không gian, cũng là nơi trú ẩn của họ một khi đến đích. Sau đó, thêm nhiều nhà du hành sẽ lần lượt đến Sao Hỏa, mang theo các chuyến tàu viện trợ.[177]

Việc lựa chọn các "cụ" phi hành gia thay vì những người trẻ tuổi, năng động là do chuyến đi chắc chắn sẽ rút ngắn tuổi thọ của họ. Bên cạnh đó, các tia phóng xạ trong vũ trụ có thể tàn phá những cơ quan sinh sản. Sao Hỏa cách Trái Đất 6 tháng di chuyển bằng phi thuyền, là nơi có trọng lực, với tầng khí quyển mỏng, nước đóng băng, CO2 cũng như các khoáng chất cần thiết khác.

Đáp lại những ý kiến cho rằng dự án này đồng nghĩa với sứ mệnh "tự sát", Schulze-Makuch và Davies khẳng định, kế hoạch của họ chỉ là nên chọn những người sẵn sàng ở lại Sao Hỏa đến hết đời. Tuy nhiên, phản hồi ban đầu không mấy khả quan. Trước khi kế hoạch này được đề cập, chuyện con người đơn độc trên vũ trụ đã được Hollywood khai thác qua các bộ phim khoa học viễn tưởng Robinson Crusoe on Mars, 2001: A Space Odyssey, Solaris, Moon. Trong nhiều bộ phim, các phi hành gia đã bị sa sút tinh thần và thể chất nghiêm trọng trong tình trạng một mình trên không gian. Phát ngôn viên của NASA là Michael Braukus cũng đã khẳng định: "Chúng tôi muốn người của mình quay lại Trái Đất".

Bức xạ vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1965, các Mariner 4 thăm dò Sao Hỏa đã phát hiện ra rằng không có từ trường toàn cầu để bảo vệ hành tinh từ có khả năng đe dọa tính mạng bức xạ vũ trụ và bức xạ mặt trời; thực hiện vào cuối những năm của thập niên 1990, Mars Global Surveyor đã xác nhận phát hiện này. quan sát [178] Các nhà khoa học suy đoán rằng việc thiếu che chắn từ trường đã giúp gió mặt trời thổi đi nhiều của bầu khí quyển của Sao Hỏa trong suốt vài tỉ năm. Trong năm 2007, nó đã được tính toán rằng DNA và RNA thiệt hại của bức xạ vũ trụ sẽ hạn chế sự sống trên Sao Hỏa đến độ sâu lớn hơn 7,5 mét, bên dưới hành tinh bề mặt của các. [18] Vì vậy, tốt nhất các địa điểm tiềm năng để phát hiện sự sống trên Sao Hỏa có thể có môi trường dưới bề mặt đó chưa được nghiên cứu được nêu ra.[179]

Geysers trên Sao Hỏa[sửa | sửa mã nguồn]

Các mùa phủ sương giá và phá băng của các kết quả băng cap nam trong sự hình thành của con nhện giống như các kênh xuyên tạc trên 1 mét băng dày của ánh sáng mặt trời. Sau đó, thăng hoa CO 2-và có thể nước làm tăng áp lực trong sản xuất nội thất của họ giống như vụ phun trào Geyser chất lỏng lạnh thường được trộn với cát bazan tối hoặc bùn.[180][181][182][183] Quá trình này nhanh, quan sát diễn ra trong không gian của một vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng, tốc độ tăng trưởng khá bất thường về địa chất - đặc biệt là đối với Sao Hỏa. Một nhóm các nhà khoa học Hungary đề nghị của mạch nước phun các tính năng dễ thấy nhất, điểm đen và các kênh cồn nhện, có thể là thuộc địa của quang hợp các vi sinh vật Sao Hỏa, mà qua mùa đông bên dưới chỏm băng, và khi ánh sáng mặt trời trở lại cực trong thời gian đầu mùa xuân, ánh sáng thâm nhập vào các băng, các vi sinh vật và nhiệt độ môi trường xung quanh photosynthesise trực tiếp của mình. Một túi nước lỏng, mà bình thường ngay lập tức bốc hơi trong khí quyển Sao Hỏa mỏng, xung quanh họ bị mắc kẹt do băng nằm. Khi lớp băng mỏng này, các vi sinh vật hiện thông qua màu xám. Khi nó đã hoàn toàn tan chảy, họ nhanh chóng phơi khô và chuyển sang màu đen bao quanh bởi một vành màu xám.[184] [185] Các nhà khoa học Hungary tin tưởng rằng ngay cả một quá trình thăng hoa phức tạp là không đủ để giải thích sự hình thành và tiến hóa của cồn điểm tối trong không gian và thời gian. [74] [75] Kể từ phát hiện của mình, nhà văn viễn tưởng Arthur C. Clarke phát huy những thành như là xứng đáng học từ một astrobiological quan điểm.[186] Một nhóm đa quốc gia châu Âu cho rằng nếu nước lỏng tồn tại trong kênh nhện 'trong suốt chu kỳ rã đông hàng năm của họ, họ có thể cung cấp một nơi thích hợp nhất định dạng sống cực nhỏ có thể đã rút lui và thích ứng trong khi che chở từ bức xạ mặt trời.[187] Một nhóm nghiên cứu Anh cũng xem xét khả năng rằng các chất hữu cơ, vi sinh vật, hoặc thậm chí thực vật đơn giản có thể cùng tồn tại với những thành vô cơ, đặc biệt là nếu cơ chế chất lỏng bao gồm nước và một địa nhiệt năng lượng nguồn. [78] Tuy nhiên, họ cũng nhận xét rằng phần lớn các cấu trúc địa chất có thể được tính mà không cần viện dẫn bất cứ "hữu cơ" sống trên Sao Hỏa giả thuyết.[188]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
  1. ^ Nội dung ban đầu lấy từ [1], một công trình của NASA
  2. ^ Các bước cải sinh Sao Hoả[175]
Xem thêm
  • Trong khoảng thời gian này, có thể là nhiệt độ bề mặt Sao Hỏa sẽ tăng từ từ, hơi nước và CO2 hiện tại đang đóng băng dưới regolith bề mặt sẽ giải phóng vào khí quyển tạo nên hiệu ứng nhà kính nung nóng hành tinh cho đến khi nó đạt những điều kiện tương đương với Trái Đất ngày nay, do đó cung cấp nơi trú chân tiềm năng trong tương lai cho sinh vật trên Trái Đất.[176][189]

Tham khảo

  1. ^ Mumma, Michael J. (8 tháng 1 năm 2012). The Search for Life on Mars. Origin of Life Gordon Research Conference. Galveston, TX. 
  2. ^ http://vi.wikipedia.org/wiki/Sao_H%E1%BB%8Fa
  3. ^ http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/Khoa-hoc/305518/cay-coi-moc-tren-sao-hoa.htm
  4. ^ a ă Grotzinger, John P. (24 tháng 1 năm 2014). “Introduction to Special Issue - Habitability, Taphonomy, and the Search for Organic Carbon on Mars”. Science 343 (6169): 386–387. Bibcode:2014Sci...343..386G. doi:10.1126/science.1249944. PMID 24458635. 
  5. ^ Various (24 tháng 1 năm 2014). “Special Issue - Table of Contents - Exploring Martian Habitability”. Science 343 (6169): 345–452. 
  6. ^ Various (24 tháng 1 năm 2014). “Special Collection - Curiosity - Exploring Martian Habitability”. Science. 
  7. ^ Grotzinger, J. P.; Sumner, D. Y.; Kah, L. C.; Stack, K.; Gupta, S.; Edgar, L.; Rubin, D.; Lewis, K.; Schieber, J. và đồng nghiệp (24 tháng 1 năm 2014). “A Habitable Fluvio-Lacustrine Environment at Yellowknife Bay, Gale Crater, Mars”. Science 343 (6169, number 6169): 1242777. Bibcode:2014Sci...343G.386A. doi:10.1126/science.1242777. PMID 24324272. 
  8. ^ Dunlap, David W. (1 tháng 10 năm 2015). “Life on Mars? You Read It Here First.”. New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2015. 
  9. ^ Wallace, Alfred Russel (1907). Is Mars habitable?: A critical examination of Professor Percival Lowell's book 'Mars and its canals,' with an alternative explanation. London: Macmillan. OCLC 263175453. [cần số trang]
  10. ^ a ă Chambers, Paul (1999). Life on Mars; The Complete Story. London: Blandford. ISBN 0-7137-2747-0. [cần số trang]
  11. ^ a ă â b c Conrad, P. G.; Archer, D.; Coll, P.; De La Torre, M.; Edgett, K.; Eigenbrode, J. L.; Fisk, M.; Freissenet, C.; Franz, H. và đồng nghiệp (2013). “Habitability Assessment at Gale Crater: Implications from Initial Results”. 44th Lunar and Planetary Science Conference 1719: 2185. Bibcode:2013LPICo1719.2185C. 
  12. ^ Schuerger, Andrew C.; Golden, D. C.; Ming, Doug W. (2012). “Biotoxicity of Mars soils: 1. Dry deposition of analog soils on microbial colonies and survival under Martian conditions”. Planetary and Space Science 72 (1): 91–101. Bibcode:2012P&SS...72...91S. doi:10.1016/j.pss.2012.07.026. 
  13. ^ a ă â MEPAG Special Regions-Science Analysis Group; Beaty, D.; Buxbaum, K.; Meyer, M.; Barlow, N.; Boynton, W.; Clark, B.; Deming, J.; Doran, P. T. và đồng nghiệp (2006). “Findings of the Mars Special Regions Science Analysis Group”. Astrobiology 6 (5): 677–732. Bibcode:2006AsBio...6..677M. doi:10.1089/ast.2006.6.677. PMID 17067257. 
  14. ^ a ă Q. Choi,, Charles (17 tháng 5 năm 2010). “Mars Contamination Dust-Up”. Astrobiology Magazine. Whenever multiple biocidal factors are combined, the survival rates plummet quickly, 
  15. ^ là Sao Hỏa sinh sống? Một kiểm tra quan trọng của giáo sư Percival Lowell của cuốn sách "Sao Hỏa và các kênh rạch của nó.", Một lời giải thích khác, bởi Alfred Russel Wallace, FRS, vv London, Macmillan và đồng., Năm 1907.
  16. ^ Chambers, Paul (1999);. Cuộc sống trên Sao Hỏa Câu chuyện hoàn thành. London: Blandford. ISBN 0713727470.
  17. ^ a ă â b c Westall, Frances; Loizeau, Damien; Foucher, Frederic; Bost, Nicolas; Betrand, Marylene; Vago, Jorge; Kminek, Gerhard (2013). “Habitability on Mars from a Microbial Point of View”. Astrobiology 13 (18): 887–897. Bibcode:2013AsBio..13..887W. doi:10.1089/ast.2013.1000. 
  18. ^ Staff (8 tháng 6 năm 2015). “PIA19673: Spectral Signals Indicating Impact Glass on Mars”. NASA. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2015. 
  19. ^ a ă â Summons, Roger E.; Amend, Jan P.; Bish, David; Buick, Roger; Cody, George D.; Des Marais, David J.; Dromart, Gilles; Eigenbrode, Jennifer L. và đồng nghiệp (2011). “Preservation of Martian Organic and Environmental Records: Final Report of the Mars Biosignature Working Group”. Astrobiology 11 (2): 157–81. Bibcode:2011AsBio..11..157S. doi:10.1089/ast.2010.0506. PMID 21417945. There is general consensus that extant microbial life on Mars would probably exist (if at all) in the subsurface and at low abundance. 
  20. ^ Dehant, V.; Lammer, H.; Kulikov, Y. N.; Grießmeier, J. -M.; Breuer, D.; Verhoeven, O.; Karatekin, Ö.; Hoolst, T. và đồng nghiệp (2007). “Planetary Magnetic Dynamo Effect on Atmospheric Protection of Early Earth and Mars”. Geology and Habitability of Terrestrial Planets. Space Sciences Series of ISSI 24. tr. 279–300. doi:10.1007/978-0-387-74288-5_10. ISBN 978-0-387-74287-8. 
  21. ^ a ă “NASA Rover Finds Conditions Once Suited for Ancient Life on Mars”. NASA. 12 tháng 3 năm 2013. 
  22. ^ Chang, Kenneth (9 tháng 12 năm 2013). “On Mars, an Ancient Lake and Perhaps Life”. New York Times. 
  23. ^ Various (9 tháng 12 năm 2013). “Science - Special Collection - Curiosity Rover on Mars”. Science. 
  24. ^ Neal-Jones, Nancy; O'Carroll, Cynthia (12 tháng 10 năm 2005). “New Map Provides More Evidence Mars Once Like Earth”. Goddard Space Flight Center. NASA. 
  25. ^ “Martian Interior: Paleomagnetism”. Mars Express. European Space Agency. 4 tháng 1 năm 2007. 
  26. ^ Wall, Mike (25 tháng 3 năm 2011). “Q & A with Mars Life-Seeker Chris Carr”. Space.com. 
  27. ^ “Ames Instrument Helps Identify the First Habitable Environment on Mars, Wins Invention Award”. Ames Research Center (Space Ref). 24 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  28. ^ Temming, Maria. “Exotic Glass Could Help Unravel Mysteries of Mars”. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015. 
  29. ^ a ă â Than, Ker (29 tháng 1 năm 2007). “Study: Surface of Mars Devoid of Life”. Space.com. After mapping cosmic radiation levels at various depths on Mars, researchers have concluded that any life within the first several yards of the planet's surface would be killed by lethal doses of cosmic radiation. 
  30. ^ a ă â Dartnell, L. R.; Desorgher, L.; Ward, J. M.; Coates, A. J. (2007). “Modelling the surface and subsurface Martian radiation environment: Implications for astrobiology”. Geophysical Research Letters 34 (2): L02207. Bibcode:2007GeoRL..34.2207D. doi:10.1029/2006GL027494. Bacteria or spores held dormant by freezing conditions cannot metabolise and become inactivated by accumulating radiation damage. We find that at 2 m depth, the reach of the ExoMars drill, a population of radioresistant cells would need to have reanimated within the last 450,000 years to still be viable. Recovery of viable cells cryopreserved within the putative Cerberus pack-ice requires a drill depth of at least 7.5 m. 
  31. ^ a ă Lovet, Richard A. (2 tháng 2 năm 2007). “Mars Life May Be Too Deep to Find, Experts Conclude”. National Geographic News. 
  32. ^ a ă Dartnell, L. R.; Desorgher, L.; Ward, J. M.; Coates, A. J. (2007). “Modelling the surface and subsurface Martian radiation environment: Implications for astrobiology”. Geophysical Research Letters 34 (2). Bibcode:2007GeoRL..3402207D. doi:10.1029/2006GL027494. The damaging effect of ionising radiation on cellular structure is one of the prime limiting factors on the survival of life in potential astrobiological habitats. 
  33. ^ a ă â Dartnell, L. R.; Desorgher, L.; Ward, J. M.; Coates, A. J. (2007). “Martian sub-surface ionising radiation: biosignatures and geology”. Biogeosciences 4 (4): 545–558. Bibcode:2007BGeo....4..545D. doi:10.5194/bg-4-545-2007. This ionising radiation field is deleterious to the survival of dormant cells or spores and the persistence of molecular biomarkers in the subsurface, and so its characterisation. [..] Even at a depth of 2 meters beneath the surface, any microbes would probably be dormant, cryopreserved by the current freezing conditions, and so metabolically inactive and unable to repair cellular degradation as it occurs. 
  34. ^ a ă â JohnThomas Didymus (21 tháng 1 năm 2013). “Scientists find evidence Mars subsurface could hold life”. Digital Journal – Science. There can be no life on the surface of Mars because it is bathed in radiation and it's completely frozen. However, life in the subsurface would be protected from that. - Prof. Parnell. 
  35. ^ Gronstal, Aaron (15 tháng 5 năm 2014). “Destroying Glycine in Ice”. NASA Astrobiology. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014. To date, we have not left the top-most surface of Mars, and the radiation environment there (as recently determined by Curiosity) is so high that any biological organisms would not survive without protection. 
  36. ^ a ă Steigerwald, Bill (15 tháng 1 năm 2009). “Martian Methane Reveals the Red Planet is not a Dead Planet”. NASA's Goddard Space Flight Center (NASA). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2009. If microscopic Martian life is producing the methane, it probably resides far below the surface, where it's still warm enough for liquid water to exist 
  37. ^ “Mars Rovers Sharpen Questions About Livable Conditions”. NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2008. 
  38. ^ “Mars: 'Strongest evidence' planet may have supported life, scientists say”. BBC News. 20 tháng 1 năm 2013. 
  39. ^ Michalski, Joseph R.; Cuadros, Javier; Niles, Paul B.; Parnell, John; Deanne Rogers, A.; Wright, Shawn P. (2013). “Groundwater activity on Mars and implications for a deep biosphere”. Nature Geoscience 6 (2): 133–8. Bibcode:2013NatGe...6..133M. doi:10.1038/ngeo1706. 
  40. ^ Rodriguez, J. Alexis P.; Kargel, Jeffrey S.; Baker, Victor R.; Gulick, Virginia C. và đồng nghiệp (8 tháng 9 năm 2015). “Martian outflow channels: How did their source aquifers form, and why did they drain so rapidly?”. Nature - Scientific Reports 5: 13404. Bibcode:2015NatSR...513404R. doi:10.1038/srep13404. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  41. ^ De Morais, A. (2012). “A Possible Biogeochemical Model for Mars”. 43rd Lunar and Planetary Science Conference 43: 2943. Bibcode:2012LPI....43.2943D. The extensive volcanism at that time much possibly created subsurface cracks and caves within different strata, and the liquid water could have been stored in these subterraneous places, forming large aquifers with deposits of saline liquid water, minerals organic molecules, and geothermal heat – ingredients for life as we know on Earth. 
  42. ^ Anderson, Paul S. (15 tháng 12 năm 2011). “New Study Says Large Regions of Mars Could Sustain Life”. Universe Today. Most scientists would agree that the best place that any organisms could hope to survive and flourish would be underground. 
  43. ^ “Habitability and Biology: What are the Properties of Life?”. Phoenix Mars Mission. The University of Arizona. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013. If any life exists on Mars today, scientists believe it is most likely to be in pockets of liquid water beneath the Martian surface. 
  44. ^ Hecht, Michael H.; Vasavada, Ashwin R. (2006). “Transient liquid water near an artificial heat source on Mars”. International Journal of Mars Science and Exploration 2: 83–96. Bibcode:2006IJMSE...2...83H. doi:10.1555/mars.2006.0006. In summary, on present-day Mars, liquid water is unlikely except as the result of a quick and dramatic change in environmental conditions such as from a landslide that exposes buried ice to sunlight (Costard et al. 2002), or from the introduction of an artificial heat source. 
  45. ^ Staff (28 tháng 9 năm 2015). “Video Highlight - NASA News Conference - Evidence of Liquid Water on Today's Mars”. NASA. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  46. ^ Staff (28 tháng 9 năm 2015). “Video Complete - NASA News Conference - Water Flowing on Present-Day Mars m”. NASA. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  47. ^ Ojha, L.; Wilhelm, M. B.; Murchie, S. L.; McEwen, A. S.; Wray, J. J.; Hanley, J.; Massé, M.; Chojnacki, M. (2015). “Spectral evidence for hydrated salts in recurring slope lineae on Mars”. Nature Geoscience 8: 829–832. Bibcode:2015NatGe...8..829O. doi:10.1038/ngeo2546. 
  48. ^ Jones, E. G.; Lineweaver, C. H. (2012). “Using the phase diagram of liquid water to search for life”. Australian Journal of Earth Sciences 59 (2): 253–62. Bibcode:2012AuJES..59..253J. doi:10.1080/08120099.2011.591430. 
  49. ^ Neidig, Harper (29 tháng 9 năm 2015). “NASA: Mars waters not 'habitable'. The Hill. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  50. ^ Klotz, Irene (13 tháng 4 năm 2015). “Briny Water May Pool in Mars' Equatorial Soil”. Discovery News. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015. It is not just a problem of water, but also temperature. The water activity and temperatures are so low in Mars that they are beyond the limits of cell reproduction and metabolism 
  51. ^ Martín-Torres, F. Javier; Zorzano, María-Paz; Valentín-Serrano, Patricia; Harri, Ari-Matti; Genzer, Maria (13 tháng 4 năm 2015). “Transient liquid water and water activity at Gale crater on Mars”. Nature Geocience 8: 357–361. Bibcode:2015NatGe...8..357M. doi:10.1038/ngeo2412. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015. 
  52. ^ Pearson, Michael (14 tháng 4 năm 2015). “Briny puddles could dot Mars, new research says”. CNN. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. The new study doesn't change the picture for life on Mars. The researchers say the temperatures they measured are too low and water too scarce "to support terrestrial organisms" 
  53. ^ Dartnell, Lewis R.; Storrie-Lombardi, Michael C.; Muller, Jan-Peter; Griffiths, Andrew. D.; Coates, Andrew J.; Ward, John M. (March 7–11, 2011). “42nd Lunar and Planetary Science Conference” (PDF). The Woodlands, Texas: Lunar and Planetary Institute. 
  54. ^ Hsu, Jeremy (1 tháng 6 năm 2009). “Scarce Shelter on Mars”. Astrobiology Magazine. 
  55. ^ “Goal 1: Determine if Life Ever Arose On Mars”. The Mars Exploration Program. NASA. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  56. ^ Luhmann, J. G.; Russell, C. T. (1997). “Mars: Magnetic Field and Magnetosphere”. Trong Shirley, J. H.; Fainbridge, R. W. Encyclopedia of Planetary Sciences. New York: Chapman and Hall. tr. 454–6. 
  57. ^ Phillips, Tony (31 tháng 1 năm 2001). “The Solar Wind at Mars”. NASA. 
  58. ^ “What makes Mars so hostile to life?”. BBC News. 7 tháng 1 năm 2013. 
  59. ^ Keating, A.; Goncalves, P. (tháng 11 năm 2012). “The impact of Mars geological evolution in high energy ionizing radiation environment through time”. Planetary and Space Science – Eslevier 72 (1): 70–77. Bibcode:2012P&SS...72...70K. doi:10.1016/j.pss.2012.04.009. 
  60. ^ Dartnell, Lewis R.; Storrie-Storrie-Lombardi, Michael C.; Muller, Jan-Peter; Griffiths, Andrew. D.; Coates, Andrew J.; Ward, John M. (2011). “Implications of Cosmic Radiation on the Martian Surface for Microbial Survival and Detection of Fluorescent Biosignatures” (PDF). Lunar and Planetary Institute 42: 1977. Bibcode:2011LPI....42.1977D. 
  61. ^ Lovet, Richard A. (2 tháng 2 năm 2007). “Mars Life May Be Too Deep to Find, Experts Conclude”. National Geographic News. That's because any bacteria that may once have lived on the surface have long since been exterminated by cosmic radiation sleeting through the thin Martian atmosphere. 
  62. ^ a ă â b c Hassler, Donald M.; Zeitlin, C và đồng nghiệp (24 tháng 1 năm 2014). “Mars' Surface Radiation Environment Measured with the Mars ScienceLaboratory's Curiosity Rover” (PDF). Science 343 (6169): 1244797. Bibcode:2014Sci...343D.386H. doi:10.1126/science.1244797. PMID 24324275. 
  63. ^ McKay, Christopher P.; Stoker, Carol R.; Glass, Brian J.; Davé, Arwen I.; Davila, Alfonso F.; Heldmann, Jennifer L.; Marinova, Margarita M.; Fairen, Alberto G.; Quinn, Richard C. và đồng nghiệp (5 tháng 4 năm 2013). “The Icebreaker Life Mission to Mars: A Search for Biomolecular Evidence for Life”. Astrobiology 13 (4): 334–353. Bibcode:2013AsBio..13..334M. doi:10.1089/ast.2012.0878. PMID 23560417. 
  64. ^ a ă Stern, Jennifer C. (24 tháng 3 năm 2015). “Evidence for indigenous nitrogen in sedimentary and aeolian deposits from the Curiosity rover investigations at Gale crater, Mars”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 112: 4245–4250. doi:10.1073/pnas.1420932112. PMC 4394254. PMID 25831544. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  65. ^ Neal-Jones, Nancy; Steigerwald, William; Webster, Guy; Brown, Dwayne (24 tháng 3 năm 2015). “Curiosity Rover Finds Biologically Useful Nitrogen on Mars”. NASA. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  66. ^ “Curiosity Mars rover detects 'useful nitrogen'. NASA (BBC News). 25 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  67. ^ Boxe, C. S.; Hand, K.P.; Nealson, K.H.; Yung, Y.L.; Saiz-Lopez, A. “An active nitrogen cycle on Mars sufficient to support a subsurface biosphere”. International Journal of Astrobiology 11 (2): 109–115. Bibcode:2012IJAsB..11..109B. doi:10.1017/S1473550411000401. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2015. 
  68. ^ a ă Schuerger, Andrew C.; Ulrich, Richard; Berry, Bonnie J.; Nicholson, Wayne L. (tháng 2 năm 2013). “Growth of Serratia liquefaciens under 7 mbar, 0°C, and CO2-Enriched Anoxic Atmospheres”. Astrobiology 13 (2): 115–131. Bibcode:2013AsBio..13..115S. doi:10.1089/ast.2011.0811. PMC 3582281. PMID 23289858. 
  69. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên snyder01
  70. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sagan80
  71. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên basalla06
  72. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên maria_lane05
  73. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ba3
  74. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên zahnle01
  75. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên science136_3510
  76. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ward_brownlee00
  77. ^ Bond, Peter (2007). Distant worlds: milestones in planetary exploration. Copernicus Series (Springer). tr. 119. ISBN 0-387-40212-8. 
  78. ^ Heldmann, Jennifer L.; Toon, Owen B.; Pollard, Wayne H.; Mellon, Michael T.; Pitlick, John; McKay, Christopher P.; Andersen, Dale T. (2005). “Formation of Martian gullies by the action of liquid water flowing under current Martian environmental conditions”. Journal of Geophysical Research 110 (E5): E05004. Bibcode:2005JGRE..11005004H. doi:10.1029/2004JE002261. 
  79. ^ Kostama, V.-P.; Kreslavsky, M. A.; Head, J. W. (2006). “Recent high-latitude icy mantle in the northern plains of Mars: Characteristics and ages of emplacement”. Geophysical Research Letters 33 (11): 11201. Bibcode:2006GeoRL..3311201K. doi:10.1029/2006GL025946. 
  80. ^ Hecht, Michael H.; Vasavada, Ashwin R. (2006). “Transient liquid water near an artificial heat source on Mars”. International Journal of Mars Science and Exploration 2: 83–96. Bibcode:2006IJMSE...2...83H. doi:10.1555/mars.2006.0006. 
  81. ^ Shiga, David (7 tháng 12 năm 2009). “Watery niche may foster life on Mars”. New Scientist. 
  82. ^ Vieru, Tudor (7 tháng 12 năm 2009). “Greenhouse Effect on Mars May Be Allowing for Life”. Softpedia. Bản mẫu:Unreliable source?
  83. ^ Mellon, Michael T. (10 tháng 5 năm 2011). “Subsurface Ice at Mars: A review of ice and water in the equatorial regions” (PDF). Planetary Protection Subcommittee Meeting. University of Colorado. 
  84. ^ Britt, Robert Roy (22 tháng 2 năm 2005). “Ice Packs and Methane on Mars Suggest Present Life Possible”. space.com. 
  85. ^ Mellon, Michael T.; Jakosky, Bruce M.; Postawko, Susan E. (1997). “The persistence of equatorial ground ice on Mars”. Journal of Geophysical Research 102: 19357–69. Bibcode:1997JGR...10219357M. doi:10.1029/97JE01346. 
  86. ^ Arfstrom, J. D. (2012). “A Conceptual Model of Equatorial Ice Sheets on Mars”. Comparative Climatology of Terrestrial Planets 1675: 8001. Bibcode:2012LPICo1675.8001A. 
  87. ^ “Mars Odyssey: Newsroom”. Mars.jpl.nasa.gov. 28 tháng 5 năm 2002. 
  88. ^ Feldman, W. C. (2004). “Global distribution of near-surface hydrogen on Mars”. Journal of Geophysical Research 109. Bibcode:2004JGRE..10909006F. doi:10.1029/2003JE002160. 
  89. ^ “Mars Global Surveyor Measures Water Clouds”. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. 
  90. ^ Baker, V. R.; Strom, R. G.; Gulick, V. C.; Kargel, J. S.; Komatsu, G.; Kale, V. S. (1991). “Ancient oceans, ice sheets and the hydrological cycle on Mars”. Nature 352 (6336): 589–594. Bibcode:1991Natur.352..589B. doi:10.1038/352589a0. 
  91. ^ “Flashback: Water on Mars Announced 10 Years Ago”. SPACE.com. 22 tháng 6 năm 2000. 
  92. ^ “The Case of the Missing Mars Water”. Science@NASA. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. 
  93. ^ “Mars Rover Opportunity Examines Clay Clues in Rock”. NASA (Jet Propulsion Laboratory). 17 tháng 5 năm 2013. 
  94. ^ “NASA Rover Helps Reveal Possible Secrets of Martian Life”. NASA. 29 tháng 11 năm 2005. 
  95. ^ ISBN 0-312-24551-3[cần số trang]Bản mẫu:Full citation needed
  96. ^ “PSRD: Ancient Floodwaters and Seas on Mars”. Psrd.hawaii.edu. 16 tháng 7 năm 2003. 
  97. ^ “Gamma-Ray Evidence Suggests Ancient Mars Had Oceans”. SpaceRef. 17 tháng 11 năm 2008. 
  98. ^ Carr, Michael H.; Head, James W. (2003). “Oceans on Mars: An assessment of the observational evidence and possible fate”. Journal of Geophysical Research: Planets 108: 5042. Bibcode:2003JGRE..108.5042C. doi:10.1029/2002JE001963. 
  99. ^ Harwood, William (25 tháng 1 năm 2013). “Opportunity rover moves into 10th year of Mars operations”. Space Flight Now. 
  100. ^ Di Achille, Gaetano; Hynek, Brian M. (2010). “Ancient ocean on Mars supported by global distribution of deltas and valleys”. Nature Geoscience 3 (7): 459–63. Bibcode:2010NatGe...3..459D. doi:10.1038/ngeo891. Tóm lược dễ hiểuScienceDaily (14 tháng 6 năm 2010). 
  101. ^ Smith, D. E.; Sjogren, W. L.; Tyler, G. L.; Balmino, G.; Lemoine, F. G.; Konopliv, A. S. (1999). “The gravity field of Mars: Results from Mars Global Surveyor”. Science 286 (5437): 94–7. Bibcode:1999Sci...286...94S. doi:10.1126/science.286.5437.94. PMID 10506567. 
  102. ^ Tosca, Nicholas J.; Knoll, Andrew H.; McLennan, Scott M. (2008). “Water Activity and the Challenge for Life on Early Mars”. Science 320 (5880): 1204–7. Bibcode:2008Sci...320.1204T. doi:10.1126/science.1155432. PMID 18511686. 
  103. ^ DasSarma, Shiladitya (2006). “Extreme Halophiles Are Models for Astrobiology”. Microbe 1 (3): 120–6. 
  104. ^ Malin, Michael C.; Edgett, Kenneth S. (2000). “Evidence for Recent Groundwater Seepage and Surface Runoff on Mars”. Science 288 (5475): 2330–5. Bibcode:2000Sci...288.2330M. doi:10.1126/science.288.5475.2330. PMID 10875910. 
  105. ^ Martínez, G. M.; Renno, N. O.; Elliott, H. M.; Fischer, E. (2013). Present Day Liquid Water On Mars: Theoretical Expectations, Observational Evidence And Preferred Locations (PDF). The Present-day Mars Habitability Conference. Los Angeles. 
  106. ^ Kolb, K.; Pelletier, Jon D.; McEwen, Alfred S. (2010). “Modeling the formation of bright slope deposits associated with gullies in Hale Crater, Mars: Implications for recent liquid water”. Icarus 205: 113–137. Bibcode:2010Icar..205..113K. doi:10.1016/j.icarus.2009.09.009. 
  107. ^ “Icarus - Vol 218, Iss 1, In Progress, (March, 2012)”. ScienceDirect.com. 8 tháng 6 năm 2004. [cần số trang]
  108. ^ “Press Release”. University of Arizona. 16 tháng 3 năm 2006. 
  109. ^ Kerr, Richard (8 tháng 12 năm 2006). “Mars Orbiter's Swan Song: The Red Planet Is A-Changin'”. Science 314 (5805): 1528–1529. doi:10.1126/science.314.5805.1528. PMID 17158298. 
  110. ^ “NASA Finds Possible Signs of Flowing Water on Mars”. voanews.com. 
  111. ^ Source: Ames Research Center Posted Saturday, June 6, 2009 (6 tháng 6 năm 2009). “NASA Scientists Find Evidence for Liquid Water on a Frozen Early Mars”. SpaceRef. 
  112. ^ “Dead Spacecraft on Mars Lives on in New Study”. SPACE.com. 10 tháng 6 năm 2008. 
  113. ^ McEwen, Alfred S.; Ojha, Lujendra; Dundas, Colin M.; Mattson, Sarah S.; Byrne, Shane; Wray, James J.; Cull, Selby C.; Murchie, Scott L. và đồng nghiệp (2011). “Seasonal Flows on Warm Martian Slopes”. Science 333 (6043): 740–3. Bibcode:2011Sci...333..740M. doi:10.1126/science.1204816. PMID 21817049. 
  114. ^ “Mars Rover Spirit Unearths Surprise Evidence of Wetter Past” (Thông cáo báo chí). Jet Propulsion Laboratory. 21 tháng 5 năm 2007. 
  115. ^ “Mars Rover Investigates Signs of Steamy Martian Past” (Thông cáo báo chí). Jet Propulsion Laboratory. 10 tháng 12 năm 2007. 
  116. ^ Leveille, R. J. (2010). “Mineralized iron oxidizing bacteria from hydrothermal vents: Targeting biosignatures on Mars”. American Geophysical Union 12: 07. Bibcode:2010AGUFM.P12A..07L. 
  117. ^ Walter, M. R.; Des Marais, David J. (1993). “Preservation of Biological Information in Thermal Spring Deposits: Developing a Strategy for the Search for Fossil Life on Mars”. Icarus 101 (1): 129–43. Bibcode:1993Icar..101..129W. doi:10.1006/icar.1993.1011. PMID 11536937. 
  118. ^ Allen, Carlton C.; Albert, Fred G.; Chafetz, Henry S.; Combie, Joan; Graham, Catherine R.; Kieft, Thomas L.; Kivett, Steven J.; McKay, David S. và đồng nghiệp (2000). “Microscopic Physical Biomarkers in Carbonate Hot Springs: Implications in the Search for Life on Mars”. Icarus 147 (1): 49–67. Bibcode:2000Icar..147...49A. doi:10.1006/icar.2000.6435. PMID 11543582. 
  119. ^ Wade, Manson L.; Agresti, David G.; Wdowiak, Thomas J.; Armendarez, Lawrence P.; Farmer, Jack D. (1999). “A Mössbauer investigation of iron-rich terrestrial hydrothermal vent systems: Lessons for Mars exploration”. Journal of Geophysical Research 104 (E4): 8489–507. Bibcode:1999JGR...104.8489W. doi:10.1029/1998JE900049. PMID 11542933. 
  120. ^ Agresti, D. G.; Wdowiak, T. J.; Wade, M. L.; Armendarez, L. P.; Farmer, J. D. (1995). “A Mossbauer Investigation of Hot Springs Iron Deposits”. Abstracts of the Lunar and Planetary Science Conference 26: 7. Bibcode:1995LPI....26....7A. 
  121. ^ Agresti, D. G.; Wdowiak, T. J.; Wade, M. L.; Armendarez, L. P. (1997). “Mössbauer Spectroscopy of Thermal Springs Iron Deposits as Martian Analogs”. Early Mars: Geologic and Hydrologic Evolution 916: 1. Bibcode:1997LPICo.916....1A. 
  122. ^ Mumma, MJ; Novak, RE; DiSanti, MA; Bonev, BP, "A Sensitive Search for Methane on Mars" (abstract only). American Astronomical Society, DPS meeting #35, #14.18.
  123. ^ Michael J. Mumma. "Mars Methane Boosts Chances for Life". Skytonight.com. http://www-mgcm.arc.nasa.gov/MGCM.html. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2007.
  124. ^ V. Formisano, S. Atreya T. Encrenaz, N. Ignatiev, M. Giuranna (2004). "Detection of Methane in the Atmosphere of Mars". Science 306 (5702): 1758–1761. doi: 10.1126/science.1101732. PMID 15514118.
  125. ^ VA Krasnopolskya, JP Maillard, TC Owen (2004). "Detection of methane in the martian atmosphere: evidence for life?". Icarus 172 (2): 537–547. doi:10.1016/j.icarus.2004.07.004.
  126. ^ ESA Press release. "Mars Express confirms methane in the Martian atmosphere". ESA. http://www.esa.int/SPECIALS/Mars_Express/SEMZ0B57ESD_0.html. Truy cập 17 tháng ba năm 2006.
  127. ^ Moran, M., et al., "Desert methane: implications for life detection on Mars, Icarus, 178, 277-280, 2005
  128. ^ Vladimir A. Krasnopolsky (February 2005). "Some problems related to the origin of methane on Mars". Icarus 180 (2): 359–367. doi: 10.1016/j.icarus.October+1,+20055. http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WGF-4HTCW36-2&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&view=c&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=a614a9e35a422b94cc2611ccdc4bf180.
  129. ^ Planetary Fourier Spectrometer website (ESA, Mars Express)
  130. ^ http://www.physorg.com/news179499648.html
  131. ^ Court, R. and M. Sephton. Năm 2009. Investigating the contribution of methane produced by ablating micrometeorites to the atmosphere. Earth and Planetary Science Letters
  132. ^ Steigerwald, Bill (ngày 15 tháng 1 năm 2009). "Martian Methane Reveals the Red Planet is not a Dead Planet". NASA's Goddard Space Flight Center (NASA).
  133. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :1
  134. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :2
  135. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  136. ^ a ă Oze, Christopher; Jones, Camille; Goldsmith, Jonas I.; Rosenbauer, Robert J. (7 tháng 6 năm 2012). “Differentiating biotic from abiotic methane genesis in hydrothermally active planetary surfaces”. PNAS 109 (25): 9750–9754. Bibcode:2012PNAS..109.9750O. doi:10.1073/pnas.1205223109. PMC 3382529. PMID 22679287. 
  137. ^ Staff (25 tháng 6 năm 2012). “Mars Life Could Leave Traces in Red Planet's Air: Study”. Space.com. 
  138. ^ Brogi, Matteo; Snellen, Ignas A. G.; de Krok, Remco J.; Albrecht, Simon; Birkby, Jayne; de Mooij, Ernest J. W. (28 tháng 6 năm 2012). “The signature of orbital motion from the dayside of the planet τ Boötis b”. Nature 486 (7404): 502–504. arXiv:1206.6109. Bibcode:2012Natur.486..502B. doi:10.1038/nature11161. PMID 22739313. 
  139. ^ Mann, Adam (27 tháng 6 năm 2012). “New View of Exoplanets Will Aid Search for E.T.”. Wired (magazine). 
  140. ^ a ă Webster, Guy; Neal-Jones, Nancy; Brown, Dwayne (16 tháng 12 năm 2014). “NASA Rover Finds Active and Ancient Organic Chemistry on Mars”. NASA. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014. 
  141. ^ a ă Chang, Kenneth (16 tháng 12 năm 2014). 'A Great Moment': Rover Finds Clue That Mars May Harbor Life”. New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014. 
  142. ^ Tenenbaum, David (9 tháng 6 năm 2008). “Making Sense of Mars Methane”. Astrobiology Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2008. 
  143. ^ Steigerwald, Bill (15 tháng 1 năm 2009). “Martian Methane Reveals the Red Planet is not a Dead Planet”. NASA's Goddard Space Flight Center (NASA). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2009. 
  144. ^ “Mars Curiosity Rover News Telecon -November 2, 2012”. 
  145. ^ Kerr, Richard A. (2 tháng 11 năm 2012). “Curiosity Finds Methane on Mars, or Not”. Science (journal). 
  146. ^ Wall, Mike (2 tháng 11 năm 2012). “Curiosity Rover Finds No Methane on Mars — Yet”. Space.com. 
  147. ^ Chang, Kenneth (2 tháng 11 năm 2012). “Hope of Methane on Mars Fades”. New York Times. 
  148. ^ Mann, Adam (18 tháng 7 năm 2013). “Mars Rover Finds Good News for Past Life, Bad News for Current Life on Mars”. Wired (magazine). 
  149. ^ Webster, Chris R.; Mahaffy, Paul R.; Flesch, Gregory J.; Niles, Paul B.; Jones, John H.; Leshin, Laurie A.; Atreya, Sushil K.; Stern, Jennifer C.; Christensen, Lance E.; Owen, Tobias; Franz, Heather; Pepin, Robert O.; Steele, Andrew; aff9 (19 tháng 7 năm 2013). “Isotope Ratios of H, C, and O in CO2 and H2O of the Martian Atmosphere”. Science 341 (6143): 260–263. Bibcode:2013Sci...341..260W. doi:10.1126/science.1237961. PMID 23869013. 
  150. ^ Mahaffy, Paul R.; Atreya, Sushil K.; Franz, Heather; Wong, Michael; Conrad, Pamela G.; Harpold, Dan; Jones, John J.; Leshin, Laurie A.; Manning, Heidi; Owen, Tobias; Pepin, Robert O.; Squyres, Steven; Trainer, Melissa; Kemppinen, Osku; Bridges, Nathan; Johnson, Jeffrey R.; Minitti, Michelle; Cremers, David; Bell, James F.; Edgar, Lauren; Farmer, Jack; Godber, Austin; Wadhwa, Meenakshi; Wellington, Danika; McEwan, Ian; Newman, Claire; Richardson, Mark; Charpentier, Antoine và đồng nghiệp (19 tháng 7 năm 2013). “Abundance and Isotopic Composition of Gases in the Martian Atmosphere from the Curiosity Rover”. Science 341 (6143): 263–266. Bibcode:2013Sci...341..263M. doi:10.1126/science.1237966. PMID 23869014. 
  151. ^ Webster, Christopher R.; Mahaffy, Paul R.; Atreya, Sushil K.; Flesch, Gregory J.; Farley, Kenneth A.; Kemppinen, O.; Bridges, N.; Johnson, J. R.; Minitti, M.; Cremers, D.; Bell, J. F.; Edgar, L.; Farmer, J.; Godber, A.; Wadhwa, M.; Wellington, D.; McEwan, I.; Newman, C.; Richardson, M.; Charpentier, A.; Peret, L.; King, P.; Blank, J.; Weigle, G.; Schmidt, M.; Li, S.; Milliken, R.; Robertson, K.; Sun, V. và đồng nghiệp (19 tháng 9 năm 2013). “Low Upper Limit to Methane Abundance on Mars”. Science 342 (6156): 355–357. Bibcode:2013Sci...342..355W. doi:10.1126/science.1242902. 
  152. ^ Cho, Adrian (19 tháng 9 năm 2013). “Mars Rover Finds No Evidence of Burps and Farts”. Science. 
  153. ^ Chang, Kenneth (19 tháng 9 năm 2013). “Mars Rover Comes Up Empty in Search for Methane”. New York Times. 
  154. ^ Webster, Christopher R. (23 tháng 1 năm 2015). “Mars methane detection and variability at Gale crater”. Science 347 (6220): 415–417. Bibcode:2015Sci...347..415W. doi:10.1126/science.1261713. 
  155. ^ Rincon, Paul (9 tháng 7 năm 2009). “Agencies outline Mars initiative”. BBC News. 
  156. ^ “NASA orbiter to hunt for source of Martian methane in 2016”. Thaindian News. Asian News International. 6 tháng 3 năm 2009. 
  157. ^ Peplow, Mark (25 tháng 2 năm 2005). “Formaldehyde claim inflames martian debate”. Nature. doi:10.1038/news050221-15 (không tích cực 2015-01-09). 
  158. ^ Hogan, Jenny (16 tháng 2 năm 2005). “A whiff of life on the Red Planet”. New Scientist. 
  159. ^ Peplow, Mark (7 tháng 9 năm 2005). “Martian methane probe in trouble”. Nature. doi:10.1038/news050905-10. 
  160. ^ “NASA Statement on False Claim of Evidence of Life on Mars”. NASA News (NASA). 18 tháng 2 năm 2005. 
  161. ^ “Phi cơ Mỹ sẽ bay trên sao Hỏa - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 1 tháng 2 năm 2016. 
  162. ^ Levin, Gilbert V. (2007). “Analysis of evidence of Mars life”. Electroneurobiología 15 (2): 39–47. arXiv:0705.3176. Bibcode:2007arXiv0705.3176L. 
  163. ^ Klotz, Irene (12 tháng 4 năm 2012). “Mars Viking Robots 'Found Life' (Thông cáo báo chí). Discovery Communications, LLC. 
  164. ^ Crocco, Mario; Contreras, N- C. (2008). Folia Neurobiológica Argentina Vol. XI, "Un palindrome: las criaturas vivas conscientes como instrumentos de la naturaleza; la naturaleza como instrumento de las criaturas vivas conscientes". Ediciones Análisis, Buenos Aires–Rosario–Bahía Blanca. tr. 70. ISBN 978-987-29362-0-4. 
  165. ^ Bianciardi, Giorgio; Miller, Joseph D.; Straat, Patricia Ann; Levin, Gilbert V. (2012). “Complexity Analysis of the Viking Labeled Release Experiments”. International Journal of Aeronautical and Space Sciences 13 (1): 14–26. Bibcode:2012IJASS..13...14B. doi:10.5139/IJASS.2012.13.1.14. 
  166. ^ Navarro–Gonzáles, Rafael; Vargas, Edgar; de la Rosa, José; Raga, Alejandro C.; McKay, Christopher P. (15 tháng 12 năm 2010). “Reanalysis of the Viking results suggests perchlorate and organics at midlatitudes on Mars”. Journal of Geophysical Research: Planets 115 (E12010). doi:10.1029/2010JE003599. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  167. ^ “Correction to "Reanalysis of the Viking results suggests perchlorate and organics at midlatitudes on Mars"”. doi:10.1029/2011JE003854. 
  168. ^ “Reanalysis of the Viking results suggests perchlorate and organics at midlatitudes on Mars”. Bibcode:2010JGRE..11512010N. 
  169. ^ Navarro-González, Rafael; Navarro, Karina F.; de la Rosa, José; Iñiguez, Enrique; Molina, Paola; Miranda, Luis D.; Morales, Pedro; Cienfuegos, Edith; Coll, Patrice và đồng nghiệp (2006). “The limitations on organic detection in Mars-like soils by thermal volatilization-gas chromatography-MS and their implications for the Viking results”. Proceedings of the National Academy of Sciences 103 (44): 16089–94. Bibcode:2006PNAS..10316089N. doi:10.1073/pnas.0604210103. JSTOR 30052117. PMC 1621051. PMID 17060639. 
  170. ^ Johnson, John (6 tháng 8 năm 2008). “Perchlorate found in Martian soil”. Los Angeles Times. 
  171. ^ “Martian Life Or Not? NASA's Phoenix Team Analyzes Results”. Science Daily. 6 tháng 8 năm 2008. 
  172. ^ “Did Viking Mars Landers Find Life's Building Blocks? Missing Piece Inspires New Look at Puzzle”. ScienceDaily. 5 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  173. ^ Navarro-González, Rafael và đồng nghiệp. “Comment on "Reanalysis of the Viking results suggests perchlorate and organics at midlatitudes on Mars”. doi:10.1029/2011JE003869. 
  174. ^ Levin, Gilbert V.; Straat, Patricia Ann. MARS: Dead or Alive? (PDF). Mars Society Convention. 
  175. ^ Sau khi được cải sinh, Sao Hoả sẽ giống như Trái Đất hiện nay
  176. ^ a ă Jeffrey Stuart Kargel (2004). Mars: A Warmer, Wetter Planet. Springer. ISBN 1-85233-568-8. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2007. 
  177. ^ http://vietnamese.cri.cn/421/2011/02/16/1s151673.htm
  179. ^ NASA - Mars Rovers Sharpen Questions About Livable Conditions
  180. ^ "Những phát hiện NASA Đề nghị bục JETS từ Ice Cap Sao Hỏa". Phòng thí nghiệm Jet Propulsion (NASA). 16 tháng tám năm 2006. http://www.jpl.nasa.gov/news/news.cfm?release=2006-100. Truy cập 11 tháng tám năm 2009.
  181. ^ Kieffer, HH (2000). "ANNUAL PUNCTUATED CO2 SLAB-ICE AND JETS ON MARS." (PDF). Mars Polar Science 2000. http://www.lpi.usra.edu/meetings/polar2000/pdf/4095.pdf. Truy cập ngày 06 tháng 9 năm 2009.
  183. ^ Kieffer, Hugh H.; Philip R. Christensen and Timothy N. Titus (ngày 30 tháng 5 năm 2006). "CO2 jets formed by sublimation beneath translucent slab ice in Mars' seasonal south polar ice cap". Nature 442 (7104): 793–796. doi: 10.1038/nature04945. PMID 16915284. http://www.nature.com/nature/journal/v442/n7104/abs/nature04945.html. Truy cập ngày 02 tháng 9 năm 2009.
  184. ^ Gánti, Tibor; András Horváth, Szaniszló Bérczi, Albert Gesztesi and Eörs Szathmáry (March 12–16, 2001). "Probable Evidences of Recent Biological Activity on Mars: Appearance and Growing of Dark Dune Spots in the South Polar Region" (PDF). 32nd Annual Lunar and Planetary Science Conference, Houston, Texas, abstract no.1543. http://www.lpi.usra.edu/meetings/lpsc2001/pdf/1543.pdf. Truy cập ngày 20 Tháng 11 2008.
  185. ^ A. Horváth,T. Gánti, Sz. Bérczi, A. Gesztesi, E. Szathmáry, ed (2002). "MORPHOLOGICAL ANALYSIS OF THE DARK DUNE SPOTS ON MARS: NEW ASPECTS IN BIOLOGICAL INTERPRETATION." (PDF). Lunar and Planetary Science XXXIII.
  186. ^ Orme, Greg M.; Peter K. Ness (ngày 9 tháng 6 năm 2003). "MARSBUGS". The Electronic Astrobiology Newsletter 10 (23): 5. Archived from the original on ngày 27 tháng 9 năm 2007.
  187. ^ Manrubia, SC; O. Prieto Ballesteros1, C. González Kessler1, D. Fernández Remolar1, C. Córdoba-Jabonero1, F. Selsis1, S. Bérczi, T.Gánti, A. Horváth, A. Sik, and E. Szathmáry (2004). "COMPARATIVE ANALYSIS OF GEOLOGICAL FEATURES AND SEASONAL PROCESSES IN INCA CITY AND PITYUSA PATERA REGIONS OF MARS". European Space Agency Publications (ESA SP): 545.
  188. ^ Ness, Peter K.; Greg M. Orme (2002). "Spider-Ravine Models and Plant-like Features on Mars - Possible Geophysical and Biogeophysical Modes of Origin". Journal of the British Interplanetary Society
  189. ^ Trong một tỉ năm tới, Sao Hoả sẽ là nơi ở các loài trên trái đất nếu phi vụ đưa người trên Sao Hoả thành công

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]