Tòa án Đặc biệt Tư pháp Campuchia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tòa án Đặc biệt Tư pháp Campuchia
Chambres extraordinaires au sein des tribunaux cambodgiens  (tiếng Pháp)
អង្គជំនុំជម្រះវិសាមញ្ញក្នុjងតុលាការកម្ពុជា  (ngôn ngữ?)
Emblem of the Khmer Rouge Tribunal.svg
Huy hiệu Tòa án Tư pháp Đặc biệt Campuchia
Thành lập1997
Quốc giaCampuchia
Vị tríPhnom Pênh
Ủy quyền bởiLuật Quốc hội
Trang mạngwww.eccc.gov.kh/km,%20https://www.eccc.gov.kh/en,%20https://www.eccc.gov.kh/fr
Viện trưởng
Đương nhiệmThẩm phán Kong Srim
Tòa nhà chính của tòa án có các pháp đình

Tòa án Đặc biệt Tư pháp Campuchia (Tiếng Pháp: Chambres extraordinaires au sein des tribunaux cambodgiens, CETC; Tiếng Khmer: អង្គជំនុំជម្រះវិសាមញ្ញក្នុjងតុលាការកម្ពុជា, angk chomnoumchomreah visaeamonhnh knong tolakar kampouchea), còn được gọi là Tòa án Khmer Đỏ (សាលាក្ដីខ្មែរក្រហម, salakdei khmero kraham), là tòa tư pháp đặc biệt của Campuchia chuyên xét xử các thành viên cao cấp nhất của Khmer Đỏ theo luật quốc tế với các tội ác nghiêm trọng trong diệt chủng Campuchia. Tuy là tòa án quốc gia, Tòa án Đặc biệt Tư pháp Campuchia lại được thành lập theo hiệp định giữa chính phủ Campuchia và Liên Hiệp Quốc, và độc lập về hoạt động tư pháp với cả hai. Các thẩm phán của tòa án được chọn lựa bổ nhiệm từ người Campuchia lẫn ngoại quốc. Ngay cả khi phiên tòa được tổ chức trong nước, các nhân viên phục vụ phiên tòa cũng được sử dụng nhân viên Campuchia và ngoại quốc. Các nước được mời tham dự để áp dụng tiêu chuẩn quốc tế.[1]

Tòa án Đặc biệt có thẩm quyền về các vi phạm nghiêm trọng Luật hình sự Campuchia, luật nhân đạo quốc tế và các công ước Campuchia công nhận trong thời kỳ giữa ngày 17 tháng 4 năm 1975 và ngày 6 tháng 1 năm 1979, bao gồm tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranhdiệt chủng. Tòa án có mục đích chính thực thi công lý cho người dân Campuchia là nạn nhân của chính sách Khmer Đỏ từ tháng 4 năm 1975 đến tháng 1 năm 1979, tuy nhiên cũng giúp đỡ nạn nhân khỏe mạnh trở lại và truyền bá môi giới để giáo dục quốc dân.[2]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1997 hai Đồng Thủ tướng Campuchia viết thư Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc xin trợ giúp tổ chức xét xử các lãnh đạo cao cấp của Khmer Đỏ. Sau đàm phán lâu dài hai bên ký hiệp định ngày 6 tháng 6 năm 2003, được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc phê chuẩn.[3]

Tháng 5 năm 2006 Bộ trưởng Tư pháp Ang Vong Vathana công bố cơ quan tư pháp cao nhất của nước đã kén chọn 30 thẩm phán Campuchia, Liên hợp Quốc cho xét xử các lãnh đạo Campuchia Đỏ còn sống, đầu tháng 7 năm 2006 tuyên thệ.[4]

Tháng 6 năm 2009 Đồng Công tố quốc tế Robert Petit từ chức bởi "các lý do cá nhân, gia đình";[5] tháng 11 cùng năm Andrew T. Cayley bổ nhiệm thay thế, đồng nghiệp Campuchia là Chea Leang.[6]

Pháp đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên điều trần tạm giam của Ieng Sary ngày 11 tháng 2 năm 2010

Theo hiệp định giữa Campuchia và Liên hợp Quốc thì tòa án gồm các thẩm phán địa phương lẫn quốc tế. Do ảnh hưởng Pháp trong pháp chế nên việc điều tra do Thẩm phán Điều tra tiến hành, sau khi xem xét sẽ nộp đơn cho biết vụ kiện có ra tòa hay không.[7]

Cả hai Pháp đình Tiền thẩm lẫn Xét xử đều gồm ba thẩm phán từ Campuchia và hai từ quốc tế, trong khi Pháp đình Tối cao thì gồm ba từ quốc tế, bốn Campuchia.[8]

Mọi thẩm phán quốc tế đều do Hội đồng Thẩm phán Tối cao Campuchia bổ nhiệm theo danh sách ứng viên do Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc đệ nộp. Ngoài ra cũng có các thẩm phán dự bị.[9]

Các thẩm phán hiện tại bao gồm:[8]

Pháp đình Tối cao

Tên Quốc tịch
Motoo Noguchi  Nhật Bản
Chandra Nihal Jayasinghe  Sri Lanka
Agnieszka Klonowiecka-Milart  Ba Lan
Kong Srim (Đình trưởng)  Cambodia
Som Sereyvuth  Cambodia
Mong Monichariya  Cambodia
Ya Narin  Cambodia
Florence Mumba: Dự bị  Zambia
Sin Rith: Dự bị  Cambodia

Pháp đình Xét xử

Tên Quốc tịch
Silvia Cartwright  New Zealand
Jean-Marc Lavergne  Pháp
Nil Nonn (Đình trưởng)  Cambodia
You Ottara  Cambodia
Ya Sokhan  Cambodia
Claudia Fenz: Dự bị  Áo
Thou Mony: Dự bị  Cambodia

Pháp đình Tiền thẩm

Tên Quốc tịch
Rowan Downing  Úc
Chang-ho Chung  Hàn Quốc
Prak Kimsan (Đình trưởng)  Cambodia
Huot Vuthy  Cambodia
Ney Thol  Cambodia
Pen Pichsaly: Dự bị  Cambodia
Steven J. Bwana: Dự bị  Tanzania

Cơ quan của Tòa án Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Đồng Công tố

Viện Đồng Công tố là cơ quan độc lập, có nhân viên Campuchia và quốc tế do Hiệp trợ Phiên tòa Khmer Đỏ Liên hợp Quốc cung cấp, do Đồng Công tố Campuchia (do Hội đồng Thẩm phán Tối cao Campuchia bổ nhiệm) cùng Đồng Công tố Quốc tế (Bí thư Trưởng Liên Hợp quốc tiến cử) lãnh đạo. Nhiệm vụ là truy tố các lãnh đạo cao cấp của Campuchia Đỏ cùng những người khác giữ trách nhiệm nhiều nhất cho các tội ác trong thời kỳ Campuchia Dân chủ trong các giai đoạn điều tra, tiền thẩm, xét xử và kháng cáo. Viện Đồng Công tố xử lý khiếu nại nạn nhân, tiến hành điều tra sơ bộ (giai đoạn thứ nhất), và đệ trình Văn kiện Giới thiệu cho Viện Đồng Thẩm phán Điều tra khi có đủ bằng chứng rằng có tội nằm trong quyền hạn Tòa án Đặc biệt; Văn kiện trình bày án tình, các luật liên quan, các tội tình nghi và người phải điều tra. Cơ quan cũng tham dự cuộc điều tra tư pháp (giai đoạn thứ hai) và nộp Văn kiện Bổ sung lúc cần thiết nếu có án tình mới và các cáo buộc gốc cần phải thêm hay sửa đổi.[10][11]

Đồng Công tố hiện tại

  • Nicholas Koumjian, Đồng Công tố Quốc tế
  • Chea Leang, Đồng Công tố Quốc gia

Viện Đồng Thẩm phán Điều tra

Viện Đồng Thẩm phán Điều tra tiến hành điều tra tiền thẩm các án tình mà Viện Đồng Công tố nộp trong hai Văn kiện Giới thiệu, Bổ sung để xét xem người bị điều tra có nên khởi tố ra tòa hay không.[11]

Đồng Thẩm phán Điều tra hiện tại

  • Michael Bohlander, Đồng Thẩm phán Điều tra Quốc tế
  • You Bunleng, Đồng Thẩm phán Điều tra Quốc gia

Ban Tán trợ Biện hộ

Ban Tán trợ Biện hộ phụ trách làm danh sách luật sư cho bị cáo nghèo khổ, ủng hộ các luật sư đại diện bị cáo về mặt pháp luật, hành chính và xúc tiến quyền xét xử công bằng, cũng thay mặt bị cáo trong giới truyền thông, ở các sự kiện tiếp cận cộng đồng và làm kế hoạch di lưu[12] mục đích tăng sự hiểu bình về tố tụng hình sự, quyền xét xử công bằng tại Campuchia và tạo cơ hội cho sinh viên luật lấy kinh nghiệm bằng cách hành nghề luật quốc tế; hy vọng là tòa án sẽ cải thiện lâu dài pháp chế Campuchia.[13][14][15]

Tác giả Mary Kozlovski bàn về các vấn đề ở Tòa án bao gồm những việc ảnh hưởng quyền xét xử công bằng trong bài Bringing the Khmer Rouge to Justice thuộc ấn bản tháng 6 năm 2012 của Global Insight là tạp chí Hiệp hội Luật sư Quốc tế.[16]

Ban trưởng

  • Isaac Endeley (Tháng 4 năm 2012 – hiện tại)
  • Nisha Valabhji (Nhân viên phụ trách, Tháng 3 năm 2011 – Tháng 3 năm 2012)
  • Rupert Abbott (Nhân viên phụ trách, Tháng 11 năm 2010 – Tháng 2 năm 2011)[17]
  • Richard Rogers (Tháng 8 năm 2008 – Tháng 11 năm 2010)
  • Rupert Skilbeck (Tháng 8 năm 2006 – Tháng 8 năm 2008)

Ban Tán trợ Nạn nhân

Chum Mey là một trong chỉ bảy người sống qua bị Campuchia Đỏ cầm tù ở Trại Tuol Sleng S-21.

Ban Tán trợ Nạn nhân làm môi giới cho Tòa án Đặc biệt và các nạn nhân hoặc đại diện họ, cho phép nạn nhân dự vào việc xét xử của Tòa làm Nguyên cáo hay Đương sự mà được xin trợ giúp ủng hộ. Cơ quan phụ trách thông báo nạn nhân các quyền lợi trong việc tố tụng và giới thiệu với đại diện pháp lý nếu muốn,[18] nhờ vậy mà được công nhận làm bên liên quan trong tố tụng và có thể được bồi thường hoặc cá nhân hoặc tập thể do phải thiệt hại trong thời kỳ Campuchia Đỏ,[19] cũng bảo đảm an toàn bảo vệ của bên tham gia, hoặc bảo vệ thân thể vì cung cấp nhân chứng then chốt hoặc ủng hộ tâm lý bằng giúp đỡ tâm thần.[20] Đầu năm 2012 Đức quyên tặng Ban Tán trợ Nạn nhân 1.2 triệu đồng Âu, lần thứ tư kể từ khi chính thức công nhận làm cơ quan Tòa án Đặc biệt, sẽ chủ yếu tài trợ đại diện pháp lý cho nạn nhân, tham gia pháp luật hiệu quả và truyền bá thông tin. Tổng cộng Đức đã quyên góp 1.9 triệu đồng Âu cho cơ quan.[21]

Cục Hành chính

Cục Hành chính giám sát Ngân sách và Tài chính, Công nghệ Thông tin và Liên lạc, An ninh An toàn, Tổng vụ, Công vụ cùng các đơn vị Nhân sự của Tòa án Đặc biệt và phụ trách cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả, năng suất cao và phối hợp giúp quá trình tư pháp, cũng trông nom luôn mối quan hệ của Tòa án Đặc biệt với các nhà tài trợ Hiệp trợ Phiên tòa Campuchia Đỏ Liên hợp Quốc.[22]

Cục trưởng hiện tại

  • Kranh Tony, Cục trưởng đại lý
  • Knut Røsandhaug, Phó Cục trưởng

Ban Ngân sách và Tài chính giữ trách nhiệm quản lý việc tài vụ và công việc giải ngân, quản lý tiền quyên góp và chi xuất hợp lý. Mọi sửa đổi ngân sách và báo cáo tài chính nào đều do ban đệ trình.[23]

Ban Quản lý Tòa án phụ trách vận hành Đơn vị Ủng hộ Chuyên gia và Nạn nhân, Đơn vị Biên bản phụ trách ghi lại việc xét xử, Đơn vị Giải thích và Phiên dịch, Đơn vị Thư viện và Âm thanh Hình ảnh cho luật sư, người ở tòa tìm kiếm tài liệu nghiên cứu để lấy làm trợ giúp trong tố tụng. Cơ quan cũng chỉ đạo các ban nhằm bảo đảm tính thật dụng của quá trình xét xử cùng lấy được các phương pháp ghi chép cần thiết.[24]

Ban Tổng vụ phụ trách các nhu cầu hậu cần ở cấp quốc gia lẫn quốc tế, gồm Đơn vị Xây dựng, Đi lại, Vận chuyển, Quản lý Tài sản, Cung cấp, Thư tín và Thái cấu.[25]

Ban Công nghệ Liên lạc và Thông tin phụ trách duy trì mạng lưới an toàn và cung cấp, bảo quản thiết bị cần thiết cho nhân viên.[26]

Ban Nhân sự bao gồm phần quốc gia lẫn quốc tế, phụ trách mọi nhu cầu nhân lực bao gồm hoạch định, duy trì các chính sách, thủ tục và hướng dẫn cho hành vi nhân viên và làm quản lý hành chính cho nhân viên, thông tin nhân sự cho toàn thể Cục Hành chính.[27]

Ban Công vụ phụ trách mọi nhu cầu quan hệ công chúng bao gồm tiếp cận cộng đồng với thông tin, quan hệ truyền thông và phân phát các đoạn ghi âm/hình của phiên tòa.[28]

Ban An ninh và An toàn phụ trách nhu cầu an ninh của và bảo vệ nhân viên cùng với ngoại vy của tòa án.[29]

Thẩm quyền và luật liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Luật Thành lập Tòa án Đặc biệt Tư pháp Campuchia Truy tố Tội Thời kỳ Campuchia Dân chủ ấn định các hành vi phạm thuộc quyền hạn Tòa án Đặc biệt, hiện tại là các tội vi phạm Bộ Hình luật Campuchia năm 1956, tội theo Công ước Phòng ngừa và Trừng trị Tội Diệt chủng, các tội có hại cho loài người chung, tội theo Công ước Geneva (tội chiến tranh), tội theo Công ước Hague Bảo vệ Tài sản Văn hóa Thời kỳ Xung đột Vũ trang và tội được Công ước Quan hệ Ngoại giao Vienna quy định.[30] Nếu có tội thì bị cáo có thể bị xử tù giam hay có tài sản tịch thu. Giống các tòa án Liên hợp Quốc khác Tòa án Đặc biệt không được xử án tử hình. Cho tới nay năm người đã bị khởi tố vì diệt chủng, tội có hại cho loài người hoặc tội chiến tranh; ba bị kết tội xử phạt tù chung thân.[31]

Vai trò nạn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nạn nhân Campuchia Đỏ định nghĩa là "bất kỳ người hay pháp nhân nào bị thiệt hại thân thể, tâm lý hay vật chất trực tiếp do các tội của Campuchia Dân chủ trong nước từ ngày 17 tháng 4 năm 1975 đến ngày 6 tháng 1 năm 1979, nằm trong quyền hạn Tòa án Đặc biệt". Nạn nhân quyền lợi được quy định tại luật Campuchia theo nội quy Tòa án, có cơ hội tích cực tham gia việc xét xử bằng cách làm Nguyên cáo và Đương sự và được yêu cầu bồi thường tập thể, đạo đức.[32]

Vai trò nạn nhân rất quan trọng bởi tòa án là phương tiện quan trọng để đương đầu với đau thương. "Tòa án cho phép hòa giải trong khi cũng cung cấp cơ hội cho nhân dân Campuchia chấp nhận lịch sử họ," người phát ngôn Neth Pheaktra trong cuộc phỏng vấn với D+C.[33]

Bị cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quát[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách bên dưới liệt kê các hạng tội của mỗi bị cáo cùng tình trạng hiện tại. TCL là số hạng theo luật Campuchia. G là số hạng tội diệt chủng, N là số hạng tội có hại cho loài người, C là số hạng tội chiến tranh, PTV là số hạng tội phá hoại tài sản văn hóa và THN là số hạng tội có hại cho nhà ngoại giao. Nên nhớ rằng đây chỉ là số hạng cáo buộc chứ không phải kết tội.

Tên Khởi tố TLC D N C PTV THN Chuyển sang Tòa án Đặc biệt Tình trạng hiện tại Khởi.
Khang Khek Ieu 02007-07-31 31 tháng 7 năm 2007 8 5 02007-07-31 31 tháng 7 năm 2007 Thi hành án tù chung thân ở Campuchia[34] [35]
Nuon Chea 02010-09-15 15 tháng 9 năm 2010 3 2 12 6 02007-09-19 19 tháng 9 năm 2007 Mất ngày 4 tháng 8 năm 2019 [36]
Khieu Samphan 02010-09-15 15 tháng 9 năm 2010 3 2 12 6 02007-11-19 19 tháng 11 năm 2007 Thi hành án tù chung thân[31] [36]
Ieng Sary 02010-09-15 15 tháng 9 năm 2010 3 2 12 6 02007-11-12 12 tháng 11 năm 2007 Mất ngày 14 tháng 3 năm 2013; tố tụng chấm dứt cùng ngày[37] [36]
Ieng Thirith n/a 3 6 40 27 n/a Mất ngày 22 tháng 8 năm 2015; tố tụng chấm dứt cùng ngày [36]

Kang Kek lew[sửa | sửa mã nguồn]

Kang Kek Iew trước tòa ngày 20 tháng 7 năm 2009

Kang Kek lew hay "Đồng chí Duch" là một trong các lãnh đạo, đứng đầu Santebal nhánh đặc biệt của Campuchia Đỏ phụ trách nội an và vận hành các trại tù, ông cũng quản lý nhà tù Tuol Sleng (S-21) khét tiếng ở Nam Vang.[38]

Kang Kek lew là người đầu tiên trong năm đưa ra trước tòa. Phiên xét xử bắt đầu ngày 17 tháng 9 năm 2009 và kết thúc ngày 27 tháng 11 năm 2010. Bảy vấn đề liên quan tái xuất thường xuyên: vấn đề về M-13, việc thành lập tù S-21 và Takmao, việc thi hành chính sách Đảng Cộng sản Campuchia ở S-21, xung đột vũ trang, hoạt động của S-21 và cả vấn đề về nhân phẩm. Phó Mam Nay là lãnh đạo kinh sợ đơn vị tra hỏi của Santebal đi làm chứng ngày 14 tháng 7 năm 2009, tuy có dính líu vào việc tra tấn và hành quyết cùng Duch nhưng không bị khởi tố.[39][40]

Ngày 26 tháng 7 năm 2010 Tòa án kết tội Kang Kek lew tội có hại cho loài người và vi phạm nghiêm trọng Công ước Geneva, ban đầu xử phạt 35 năm tù giam nhưng được giảm xuống do bị Tòa án Hình sự Campuchia giam giữ trái luật giữa năm 1999 và 2007 cùng thời gian bị Tòa án Đặc biệt câu lưu;[41] khi kháng cáo án bị xử lại thành tù chung thân.[42]

Nuon Chea[sửa | sửa mã nguồn]

Nuon Chea trước tòa ngày 5 tháng 12 năm 2011

Trong thời kỳ Campuchia Đỏ Nuon Chea là tay phải của Pol Pot, bị tố phạm tội chống nhân loại (giết người, tẩy diệt, tra tấn, trục xuất, cầm tù, đàn áp lấy cớ chính trị, chủng tộc, tôn giáo), tội diệt chủng và vi phạm nghiêm trọng Công ước Geneva năm 1949 (giết người có chủ ý, tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo, cố ý gây đau khổ, thương tích nghiêm trọng cho thân thể hoặc sức khỏe, cố ý tước đoạt chiến phu quyền xét xử thông thường và công bằng, trục xuất hoặc cầm tù trái luật thường dân).[43]

Nuon Chea gia nhập Đảng Cộng sản Campuchia (tên chính thức của Campuchia Đỏ) trong khi học luật ở Đại học Thammasat tại Bangkok,[43] năm 1960 được bổ nhiệm làm Phó Thư ký phụ trách an ninh của đảng và nhà nước. Các cáo buộc bao gồm nhà tù S-21 ở Nam Vang là trung tâm tra tấn tra hỏi khét tiếng. Ước tính Nuon Chea giữ trách nhiệm cho 1.7 triệu người chết.[44]

Năm 1998 Nuon Chea làm giao kèo với chính phủ Campuchia, cho phép sống gần biên giới Thái. Năm 2017 ông bị bắt và đưa vào giam giữ. Vụ ông số 002 đã điều tra kể từ năm 2007, năm 2011 phiên tòa bắt đầu.[45] Tuy là quan chức bị giam giữ cao cấp nhất nhưng ông chối bỏ đa số tham dự vào Campuchia Đỏ: "Tôi là chủ tịch Quốc hội và không dính líu gì với hoạt động chính phủ. Đôi khi tôi thậm chí còn không biết họ đang làm gì bởi tôi ở quốc hội".[46]

Ngày 7 tháng 8 năm 2014 ông nhận bản án tù chung thân vì các tội chống nhân loại,[31] sau vẫn còn phiên tòa khác về các cáo buộc diệt chủng.[47] Ngày 16 tháng 11 năm 2018 Tòa kết tội ông cùng Khieu Samphan tội diệt chủng người Chăm và người Việt.[48]

Ông mất trong khi kháng cáo, nhóm bào chữa viện làm lý do để cố hủy bản kết tội, nhưng tháng 11 năm 2019 Tòa bác bỏ.

Ieng Sary[sửa | sửa mã nguồn]

Nuon Chea và Ieng Sary trong ngày thứ ba của phiên sơ bộ về khả năng ra tòa, 31 tháng 8 năm 2011

Ieng Sary nghi gia nhập Campuchia Đỏ năm 1963, trước học ở Pháp và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, sau khi về Campuchia thì vào Đảng Cộng sản Campuchia. Khi Campuchia Đỏ đoạt quyền năm 1975 ông trở thành Thứ trưởng Ngoại giao, khi sụp đổ năm 1979 thì chạy sang Thái Lan và bị Tòa án Cách mạng Nhân dân ở Nam Vang kết tội diệt chủng, phạt chết. Ông tiếp tục làm thành viên chính phủ Campuchia Đỏ lưu vong cho đến năm 1996 thì được ân xá hoàng gia cho bị kết tội và đại xá cho thuộc tổ chức bị cấm.[49]

Ieng Sary bị bắt ngày 12 tháng 11 năm 2007, tố chịu trách nhiệm cho kế hoạch, thi hành, ra lệnh, giúp đỡ hoặc giám sát các tội ác của Campuchia Đỏ giữa năm 1975 và 1979, bao gồm tội chống nhân loại, diệt chủng và vi phạm Công ước Geneva.[50]

Ieng Sary qua đời tháng 3 năm 2013.[51]

Ieng Thirith[sửa | sửa mã nguồn]

Ieng Thirith ra tòa năm 2011

Ieng Thirith vợ Ieng Sary và chị dâu của Pol Pot là thành viên cao cấp, học ở Pháp và là người Campuchia đầu tiên nhận bằng Tiếng Anh. Khi về nước thì gia nhập Đảng Cộng sản Campuchia và nghi bổ nhiệm làm Bộ trưởng Xã vụ của Campuchia Dân chủ.[52]

Thirith tiếp tục làm thành viên đến khi Ieng Sary được chính phủ Campuchia xá tội năm 1998, sau sống cùng chồng gần Nam Vang cho tới khi bị cảnh sát và nhân viên tòa án bắt giam ngày 12 tháng 11 năm 2007.[53]

Thirith bị tố giữ trách nhiệm kế hoạch, thi hành và giúp đỡ các tội ác của Campuchia Đỏ với người dân Campuchia trong khi cầm quyền, bao gồm tội chống nhân loại, diệt chủng và vi phạm Công ước Geneva. Tháng 11 năm 2011 Ieng Thirith được tuyên bố bất lực tinh thần để ra tòa do bệnh Alzheimer.[54]

Ieng Thirith mất tháng 8 năm 2015.[55]

Khieu Samphan[sửa | sửa mã nguồn]

Khieu Samphan trước tòa tháng 7 năm 2009

Khieu Samphan là một trong các viên chức quyền lực nhất, trước khi gia nhập Campuchia Đỏ thì làm Bộ trưởng Mậu dịch cho Sihanouk năm 1962, năm 1969 phải ẩn cư vì bị lực lượng an ninh đe dọa, đầu thập niên 70 tái xuất làm thành viên Campuchia Đỏ. Ông được bổ nhiệm làm quốc trưởng Campuchia và kế nhiệm Pol Pot làm lãnh đạo năm 1987.[56]

Năm 1998 Khieu Samphan thề trung thành với chính phủ Campuchia và rời Campuchia Đỏ, ngày 12 tháng 11 năm 2207 bị bắt giam vì tội chống nhân loại, diệt chủng và vi phạm Công ước Geneva.[56]

Ngày 7 tháng 8 năm 2014 ông bị xử án tù chung thân vì tội chống nhân loại,[31] ngoài ra còn bị kết tội diệt chủng người dân Việt ngày 16 tháng 11 năm 2018.[48]

Tranh cãi về Vụ 003 và 004[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu chỉ huy lục quân Campuchia Đỏ Meas Muth tiếp tục được tự do bất kể hai lệnh bắt giam đặc biệt, không được cảnh sát thi hành trong khi Muth tiếp tục sống hòa bình ở Battambang, vụ mình 003 Thủ tướng Hun Sen vẫn phản đối. Ba thẩm phán Campuchia bào chữa cho sự đối lập mình, rằng bị bắt, "trong xã hội Campuchia bị coi là sỉ nhục và ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm, quyền lợi một cách đáng kể và vĩnh viễn." Muth bị tố giết người và phạm tội chống nhân loại ở các địa điểm khác nhau trong nước cùng các hòn đảo xung quanh.[57]

Thẩm phán từ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2011 tòa án bị phải tranh cãi công chúng sau khi Đồng Công tố Quốc tế Andrew Cayley đưa ra tuyên bố chỉ trích các Đồng Thẩm phán Điều tra đình chỉ xem xét Vụ 003 quá sớm, gồm cả tố cáo thẩm phán đang cố "chôn vùi" vụ án.[58] Các bị cáo là Meas Muth và Sou Met hai chỉ huy quân đội Campuchia Đỏ nghi giám sát việc bắt giam, vận chuyển tù nhân đến nhà tù S-21.[59] Trước quốc tế đã lo ngại tòa án buộc phải làm theo áp lực chính phủ không khởi tố thêm bị cáo nào khác. Đồng Thẩm phán Điều tra Đức Siegfried Blunk chỉ trích Cayley là vi phạm nội quy bí mật của tòa.[60]

Khi từ chức đột ngột tháng 3 năm 2012 do chính phủ phản đối tiếp tục truy tố, Siegfried Blunk nói tuy không bị các tuyên bố trị ảnh hưởng, nhưng "khả năng chịu đựng áp lực từ quan chức chính phủ để thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập luôn có thể bị hoài nghi, có thể khiến nghi ngờ luôn sự thanh liêm của toàn thể việc xét xử" Vụ 003 và 004. Thẩm phán Blunk luôn là nhân vật tranh cãi kể từ khi lên thay thẩm phán Pháp Marcel Lemonde từ chức năm 2010 điều tra vụ 003 và 004.[61]

Việc Đồng Thẩm phán Điều tra quốc tế Laurent Kasper-Ansermet (Thụy Sĩ) từ chức đột ngột làm hoài nghi khả năng theo đuổi các vụ như 003 và 004 chống các lãnh đạo Campuchia Đỏ ốm yếu.[62]

Cũng có nhiều cáo buộc tương tự trong vụ 004 về cựu chỉ huy trung cấp Im Chaem, Ta Ann và Ta Tith; Chaem vận hành trại lao động quan hệ với dự án thủy lợi khổng lồ ở Preah Net Preah, Ta Ann và Ta Tith thì giám sát việc thảm sát trong trại. Kể từ đấy Ta Tith trở thành doanh nhân giàu có trong nước, Im Chaem thì lên làm xã trưởng ở Quận Anlong Veng, chỉ càng dấy lên nghi vấn rằng áp lực chính trị sẽ buộc phải bỏ truy tố nếu ba người cùng ra tòa.[63]

Ngay cả tháng 11 năm 2010 Ban Tán trợ Biện hộ đã cố chỉ định luật sư đại diện quyền lợi của bị cáo trong các Vụ 003 và 004.[17]

Phản ứng trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Cả 482 ghế trong phòng khán giả đều có người, 29 tháng 8 năm 2013

Tòa án Đặc biệt được công chúng ủng hộ rộng rãi, nhờ các sáng kiến tiếp cận cộng đồng sâu rộng mà hơn 350,000 người đã quan sát hoặc tham dự việc xét xử. Trong Vụ 001 36,493 người quan sát phiên xét xử, kháng cáo. Trong Vụ 002 là phiên tòa đầu tiên có nhiều lãnh đạo Campuchia Đỏ 98,670 người quan sát phiên tòa 212 ngày; ngoài ra gần 67,000 người từ nông thôn đã đến xem các buổi chiếu phim của Tòa án.[64] Tòa cũng thực hiện các bước cho giới trẻ cộng đồng dự vào bằng cách giáo dục họ về việc xét xử.[64] Theo cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu Cộng hòa Quốc tế 67% số người phản hồi "rất tán thành" xét xử các lãnh đạo hàng đầu,[65] gần đây thì 83% số người phản hồi Đại học California, Berkeley đồng ý rằng Tòa án Đặc biệt nên có vai trò truy tố trách nhiệm cho những hành vi của Campuchia Đỏ.[66] Cùng cuộc khảo sát cũng kết luận nhận thức về tòa án đã tăng giữa năm 2008-2010.

Chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án Đặc biệt đã bị chỉ trích nhiều lần. Ví dụ có rất nhiều tranh cãi quanh việc bỏ Vụ 003 và 004, nhiều quốc tế cho rằng là do chính phủ Campuchia không sẵn lòng xét xử các thành viên Campuchia Đỏ đi theo chiều gió mới gần cuối xung đột.

Hơn nữa tòa còn bị trách móc vì tài chính hao tổn. Liên Hợp Quốc cùng chính phủ Campuchia phụ trách tài trợ chi phí hoạt động, tốn $173.3 triệu giữa năm 2006 và 2012, Campuchia chi $42.1 triệu, Liên Hợp Quốc $131.2 triệu. Cho năm 2013 Campuchia có ngân sách $9.4 triệu, Liên Hợp Quốc $26 triệu, tổng cộng là $35.4 triệu.[64] Tức Tòa án Đặc biệt đến năm 2014 đã tốn hơn $200 triệu mà chỉ xử xong mới một vụ kiện.[67] Nhiều nước trong cộng đồng quốc tế yêu cầu có ủy ban bên ngoài xem xét các thất bại đến nay; nhiều thúc dục nước như Nhật Bản, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Anh ngưng tài trợ Tòa án Đặc biệt cho đến khi được minh bạch, độc lập hơn.[68]

Tòa án cũng bị chỉ trích vì từ chối đơn nạn nhân. Một nạn nhân xin tham dự Vụ 003 bị khước từ bởi thẩm phán cho rằng tổn thương tâm lý của cô "khả năng cao là không đúng" và dùng định nghĩa hẹp của "nạn nhân trực tiếp" mà cho cô là nạn nhân gián tiếp trong vụ kiện. Tổ chức Open Society Justice Initiative yêu cầu Liên Hợp Quốc điều tra vụ việc, một nhóm quan sát cho tổ chức khẳng định việc xét xử gần đây "không đáp ứng yêu cầu cơ bản hay theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, thậm chí còn không tuân thủ chính án lệ pháp của tòa."[69] Cuối tháng 2 năm 2012 tòa xin thêm $92 triệu nữa để chi trả hoạt động cho năm 2012 và 2013.[70]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Introduction to the ECCC”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  2. ^ “Why are we having trials now? How will the Khmer Rouge Trials benefit the people of Cambodia?”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ “A/RES/57/228B” (PDF). Ngày 2 tháng 5 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  4. ^ “Judges sworn in for Khmer Rouge”. BBC News. Ngày 3 tháng 7 năm 2006. 
  5. ^ Lesley, Elena (ngày 23 tháng 6 năm 2009). “Robert Petit resigns”. The Phnom Penh Post. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018. 
  6. ^ “Andrew T. Cayley appointed as new international Co-Prosecutor”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2018. 
  7. ^ “Office of the Co-Investigating Judges”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  8. ^ a ă “Judicial Chambers”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2018. 
  9. ^ “Judicial Chambers”. Extraordinary Chambers in the Court of Cambodia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2018. 
  10. ^ “Office of the Co-Prosecutors - Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia”. www.eccc.gov.kh (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018. 
  11. ^ a ă “Office of Co-Investigating Judges - Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia”. www.eccc.gov.kh (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018. 
  12. ^ “Defence Support Section”. ECCC. 
  13. ^ “Legacy”. ECCC. 
  14. ^ Bialek, Tessa (Summer 2011). “Legacy at the Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia: Research Overview” (PDF). Documentation Center of Cambodia. 
  15. ^ Valabhji, Nisha; Abbott, Rupert; Heenan, James & Staggs-Kelsall, Michelle (ngày 3 tháng 8 năm 2011). “ECCC Legacy Should be to Empower Youth”. Cambodia Daily. 
  16. ^ Kozlovski, Mary (tháng 6 năm 2012). “Bringing the Khmer Rouge to Justice”. Global Insight. 
  17. ^ a ă Upholding international standards: Defence Support Section appoints counsel to represent the interests of the suspects in cases 003 and 004, Rupert Abbott, DSS Officer-in-Charge, ngày 30 tháng 11 năm 2010.
  18. ^ “CJA: The Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia”. Center for Justice and Accountability. Ngày 26 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  19. ^ “Victims Support”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  20. ^ “Victims Support Section”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ “Germany Provides €1.2 Million to the Victims Support Section of the Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia (ECCC)”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  22. ^ “Office of Administration”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  23. ^ “Budget and Finance”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ “Court Management Section”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  25. ^ “General Services”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  26. ^ “Information and Communication Technology”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  27. ^ “Personnel”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  28. ^ “Public Affairs Section”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ “Security & Safety”. ECCC. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  30. ^ “NS/RKM/1004/006: Law on the Establishment of the Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia for the Prosecution of Crimes Committed During the Period of Democratic Kampuchea” (PDF). ECCC. Ngày 27 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2011. 
  31. ^ a ă â b McKirdy, Euan (ngày 7 tháng 8 năm 2014). “Top Khmer Rouge leaders found guilty of crimes against humanity, sentenced to life in prison”. CNN. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014. 
  32. ^ “Victims Participation”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  33. ^ Sun Narin (ngày 4 tháng 3 năm 2017). “No justice without remembering”. D+C, development and cooperation. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  34. ^ 001/ngày 18 tháng 7 năm 2007/ECCC/SC: Summary of Appeal Judgment (PDF). ECCC. Ngày 3 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  35. ^ 002/ngày 14 tháng 8 năm 2006: Closing order indicting Kaing Guek Eav alias Duch (PDF). ECCC. Ngày 8 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2011. 
  36. ^ a ă â b 002/ngày 19 tháng 9 năm 2007: Closing Order (PDF). ECCC. Ngày 15 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2011. 
  37. ^ 28 tháng 3 năm 2013%2014:29/E270_1_EN.PDF “002/ngày 19 tháng 9 năm 2007: Termination of the Proceedings against the Accused Ieng Sary” (PDF). ECCC. Ngày 14 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2013. 
  38. ^ “Accused Persons: Kaing Guek Eav”. Cambodia Tribunal Monitor. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  39. ^ Carmichael, Robert (ngày 14 tháng 7 năm 2009). “Cambodian genocide trial hears from S21 interrogator” (PDF). ABC News. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  40. ^ Gée, Stéphanie (ngày 16 tháng 7 năm 2009). “Mam Nay, Duch’s former deputy: amnesia and serious accommodation with truth”. Khmernz.blogspot.com. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  41. ^ “Case 001”. ECCC. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  42. ^ Vlasic, Mark (ngày 13 tháng 3 năm 2012). “Life for Comrade Duch, a milestone for international justice”. The Guardian. 
  43. ^ a ă “Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia”. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  44. ^ “FACTBOX: Nuon Chea, Pol Pot's right-hand man”. Reuters. Ngày 19 tháng 9 năm 2007. 
  45. ^ “Trial Proceedings: 002”. Cambodia Tribunal Monitor. 
  46. ^ “Former Khmer Rouge leader denies role in genocide”. The New York Times. Ngày 19 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  47. ^ “Top Khmer Rouge leaders guilty of crimes against humanity”. BBC News. Ngày 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  48. ^ a ă “Khmer Rouge leaders found guilty of Cambodia genocide”. BBC News. Ngày 16 tháng 11 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  49. ^ “Accused Persons: Ieng Sary”. Cambodia Tribunal Monitor. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  50. ^ “Case 002: Ieng Sary”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  51. ^ “Ieng Sary, Khmer Rouge Leader Tied to Genocide, Dies at 87”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  52. ^ “Accused Persons: Ieng Thirith”. Cambodian Tribunal Monitor. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  53. ^ "Ex-official of Khmer Rouge and wife arrested for crimes against humanity", Associated Press (International Herald Tribune), ngày 12 tháng 11 năm 2007.
  54. ^ “Indicted Persons: Ieng Thirith”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  55. ^ http://www.straitstimes.com/asia/se-asia/khmer-rouge-first-lady-ieng-thirith-dies-cambodia-tribunal
  56. ^ a ă “Khieu Samphan”. Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  57. ^ Crothers, Lauren. “Cambodian judges against arresting war crimes suspect”. videonews.us. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  58. ^ “Cambodia war crimes judge threatens suit against prosecutor”. GMT. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  59. ^ “Recent Developments at the Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia” (PDF). Open Society Foundations. Tháng 6 năm 2011. tr. 2–3, 15, 29. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  60. ^ Eckel, Mike (ngày 18 tháng 5 năm 2011). “Judges Rap Prosecutor at Khmer Rouge Trial”. Yahoo! News. Associated Press. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  61. ^ “Under-fire German judge quits Cambodia tribunal”. BBC News. Ngày 10 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  62. ^ Sothanarith, Kong. “Surprise Resignation of Judge Adds to Tribunal Woes”. Voice of America. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  63. ^ Ferrie, Jared (ngày 24 tháng 7 năm 2011). “Khmer Rouge crimes in legal limbo”. The National. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  64. ^ a ă â “Information for Media | Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia”. ECCC. Ngày 30 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  65. ^ “Survey of Cambodian Public Opinion, January 27 – ngày 26 tháng 2 năm 2008” (PDF). International Republican Institute. tr. 44. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2012. 
  66. ^ Phuong Pham; Patrick Vinck; Mychelle Balthazard; Sokhom Hean. “After the First Trial – A Population-Based Survey on Knowledge and Perception of Justice and the Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia” (PDF). Human Rights Centre, University of California Berkeley, School of Law. tr. 26. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2012. 
  67. ^ Campbell, Charlie (ngày 14 tháng 2 năm 2014). “Cambodia’s Khmer Rouge Trials Are a Shocking Failure”. Time. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  68. ^ Adams, Brad (ngày 23 tháng 11 năm 2011). “Khmer Rouge trial is failing Cambodian victims of Pol Pot's regime”. The Guardian (London). 
  69. ^ “Cambodia's Khmer Rouge Tribunal Draws New Criticisms”. Voice of America. Ngày 25 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  70. ^ Khemara, Sok (ngày 24 tháng 2 năm 2012). “Khmer Rouge Tribunal Seeks More Money for Controversial Cases”. Voice of America. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]