Tập đoàn Kumho Asiana

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Logo chính thức của tập đoàn Kumho Asiana.
Tập đoàn Kumho Asiana
Hangul금호아시아나그룹
Hanja錦湖亞細亞나그룹
Romaja quốc ngữGeumho Asiana Geurup
McCune–ReischauerKŭmho Asiana Kŭrup

Tập đoàn Kumho Asiana là một Chaebol (tập đoàn) Hàn Quốc, với các công ty con là các ngành ô tô, công nghiệp, giải trí, hậu cần, hóa chất và mảng hàng không. Tập đoàn có trụ sở chính tại Kumho Asiana Main TowerSinmunno 1-ga, Jongno-gu, Seoul, Hàn Quốc.[1] Tinh đến năm 2014 cổ đông lớn nhất là Park Sam Koo, con trai thứ ba của người thành lập công ty, người từ chức CEO vào năm 2010.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Park In-chon (Hangul:박인천, hanja:朴仁天, 5 tháng 7 năm 1901 - 16 tháng 6 năm 1984) bắt đầu một dịch vụ taxi, dựa vào Geumnamno ở Seo-gu, Gwangju.[2] Đến những năm 1950, hoạt động được mở rộng bao gồm dịch vụ xe buýt và huấn luyện, hoạt động như dịch vụ đưa đón khách Gwangju (ngày nay là Kumho Buslines).

Công ty bắt đầu liên kết theo chiều dọc vào năm 1960 với việc thành lập Samyang Tire, ngày nay là Kumho Tires. Đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu, Kumho Synthetic Rubber (ngày nay là Kumho Petrochemical) được thành lập vào 1971. Tập đoàn mở rộng đáng kể như bùng nổ kinh tế Hàn Quốc, thêm các công ty con trong xây dựng, chuyển hàng và hậu cần, hàng không, văn hóa và giải trí, dịch vụ tài chính, và công nghệ thông tin.

Sống sót sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, tập đoàn đã mua lại một số công ty đối thủ do thiếu tiền mặt trong những năm 2000, bao gồm Kỹ thuật & xây dựng DaewooKorea Express.[3] Những vụ sát nhập gây nợ nặng nề, dẫn đến các vấn đề về dòng tiền như khủng hoảng tài chính 2007–08 bắt đầu tác động nền kinh tế. Tập đoàn buộc phải bán tài sản và bắt đầu một chương trình thoát nợ vào cuối 2009 sau một nổ lực để bán Daewoo E&C bị thất bại trên thị trường mở.[4]

Công ty con[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Liên hệ chúng tôi." Kumho Asiana Group. Truy cập vào 26 tháng 11 năm 2008.
  2. ^ “Lịch sử”, Kumho Asiana, truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014 
  3. ^ Song, Jung-a (ngày 17 tháng 2 năm 2010), “Kumho falls victim to winner’s curse”, Financial Times 
  4. ^ Reuters (ngày 30 tháng 12 năm 2009), “South Korean Conglomerate Faces Cash Crunch”, The New York Times 

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Chính
Tập đoàn