Thành ngữ Hán Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thành ngữ Hán Việt dùng để chỉ những kết cấu ngôn ngữ rất ổn định, phổ thông, cô đọng về mặt ngữ nghĩa thịnh hành trong tiếng Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam và sử dụng rộng rãi từ xưa đến nay.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Thành ngữ Hán Việt rất đa dạng nhưng thường gồm 4 chữ, 5 chữ hoặc 8 chữ, trong đó tỷ lệ các thành ngữ 4 chữ chiếm số lượng lớn đến 75-80%.

Kết cấu thành ngữ thường theo dạng biền ngẫu, đăng đối dễ dàng nhận thấy trong các thành ngữ 4 chữ, hoặc 8 chữ ví dụ:

  • Công thành danh toại - Công thành <> Danh toại
  • Đại sự hóa tiểu, tiểu sự hóa vô - Đại sự <> Tiểu sự

Còn dạng 5 chữ thì hai chữ Hán đầu và hai chữ Hán cuối là hai vế đối xứng qua một chữ ở giữa, ví dụ:

  • Đại ngư cật tiểu ngư - Đại ngư < cật > Tiểu ngư

Rất nhiều thành ngữ sử dụng các điển cố văn học, là các tích truyện xưa có giá trị giáo dục và ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Chẳng hạn:

  • Lục lâm hảo hán 綠林好漢: chỉ người anh hùng trong dân gian, hoặc bọn cướp trộm tụ tập thành bầy. Theo truyện xưa thời Vương Mãng, những kẻ nổi dậy chống lại triều đình tụ họp nhau ở núi Lục Lâm.
  • Bạt miêu trợ trưởng 拔苗助長: nhấc mạ lên giúp lúa mau lớn, chỉ sự nóng vội làm hỏng việc. Chuyện xưa ở nước Tống có người thấy lúa quá chậm lớn, bèn lấy tay nhấc cho mạ cao lên hơn. Về nhà khoe rằng hôm nay đã giúp cho thân mạ lớn lên. Đứa con nghe vậy, chạy ra ruộng xem thì mạ đã khô héo cả.
  • Thiết xử ma thành châm 鐵杵磨成針: mài chầy sắt thành kim. Theo truyện xưa, Lý Bạch hồi nhỏ rất lười học, ham chơi. Một buổi đi chơi thấy một bà lão suốt ngày ngồi cặm cụi cầm chiếc chày sắt mài đi mài lại. Lý hỏi làm thế để làm gì, bà lão trả lời rằng, mài cho thành chiếc kim khâu. Nhân đó, Lý Bạch tỉnh ngộ và chăm chỉ học hành, về sau trở thành nhà thơ lớn của Trung Quốc cổ đại.

Ứng dụng trong tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng nghìn thành ngữ Hán Việt được sử dụng trong tiếng Việt từ xưa tới nay, không chỉ bởi những người "thích nói chữ" mà rất phổ biến trong đời sống thường nhật, do sự cô đọng về mặt ngữ nghĩa khiến các thành ngữ đó có giá trị ứng dụng rất lớn. Trong thực tế ứng dụng thành ngữ Hán Việt của tiếng Việt hiện đại người ta thường gặp các dạng sau:

Sử dụng nguyên gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thành ngữ Hán Việt thường được sử dụng nguyên bản từ gốc Hán nếu đó là thành ngữ có những từ Hán Việt tương đối dễ hiểu, phổ thông với đa số, chẳng hạn:

  • An phận thủ thường 安分守常
  • Bách chiến bách thắng 百戰百勝
  • Chiêu hiền đãi sĩ 招賢待士
  • Điệu hổ ly sơn 調虎離山
  • Đồng cam cộng khổ 同甘共苦
  • Mã đáo thành công 馬到成功
  • Nhàn cư vi bất thiện 閒居為不善
  • Nhất tướng công thành vạn cốt khô 一將功成萬骨枯
  • Sự bất quá tam 事不過三
  • Tâm đầu ý hợp 心投意合
  • Tham quyền cố vị 貪權固位
  • Trường sinh bất lão 長生不老
  • Tứ hải giai huynh đệ 四海皆兄弟
  • Vạn sự khởi đầu nan 萬事起頭難
  • Vô danh tiểu tốt 無名小卒

Dịch nghĩa hoặc phỏng dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng không hiếm khi thành ngữ Hán Việt được dịch nghĩa hoặc phỏng dịch sang tiếng Việt, thường gặp đối với những thành ngữ sử dụng thường xuyên trong tiếng Việt, nhưng nếu để nguyên gốc sẽ rất khó hiểu, trúc trắc về mặt ngôn từ, chẳng hạn:

Thành ngữ tiếng Hán Thành ngữ tiếng Việt
錦衣夜行
Cẩm y dạ hành
Áo gấm đi đêm
知己知彼百戰不殆
Tri kỷ tri bỉ bách chiến bất đãi
Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng
大魚吃小魚
Đại ngư cật tiểu ngư
Cá lớn nuốt cá bé
高飛遠走
Cao phi viễn tẩu
Cao chạy xa bay
狐假虎威
Hồ giả hổ uy
Cáo mượn oai hùm
不見棺材不下淚
Bất kiến quan tài bất há lệ
Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ
鐵杵磨成針
Thiết xử ma thành châm
Có công mài sắt có ngày nên kim
癩蛤蟆想吃天鵝肉
Lại cáp mô tưởng cật thiên nga nhục
Cóc ghẻ mà đòi ăn thịt thiên nga
恭敬不如從命
Cung kính bất như tòng mệnh
Cung kính không bằng tuân mệnh
敢做敢當
Cảm tố cảm đương
Dám làm dám chịu
聲東擊西
Thanh đông kích tây
Dương đông kích tây
對牛彈琴
Đối ngưu đàn cầm
Đàn gảy tai trâu
打草驚蛇
Đả thảo kinh xà
Đánh rắn động cỏ
牛頭馬面
Ngưu đầu mã diện
Đầu trâu mặt ngựa
江山易改本性難移
Giang sơn dị cải bản tính nan di
Giang sơn dễ đổi bản tính khó dời
藏頭露尾
Tàng đầu lộ vĩ
Giấu đầu hở đuôi
牛刀割雞
Ngưu đao cát kê
Giết gà dùng dao mổ trâu
破鏡重圓
Phá kính trùng viên
Gương vỡ lại lành
虎毒不食子
Hổ độc bất thực tử
Hổ dữ không ăn thịt con
豹死留皮,人死留名
Báo tử lưu bì, nhân tử lưu danh
Hùm chết để da, người ta chết để tiếng
八兩半斤
Bát lượng bán cân
Kẻ tám lạng người nửa cân
無翼而飛
Vô dực nhi phi
Không cánh mà bay
不共戴天
Bất cộng đái thiên
Không đội trời chung
以毒治毒
Dĩ độc trị độc
Lấy độc trị độc
亡羊補牢
Vong dương bổ lao
Mất bò mới lo làm chuồng
海底撈針
Hải để lao châm
Mò kim đáy bể
水中撈月
Thủy trung lao nguyệt
Mò trăng đáy nước
脣亡齒寒
Thần vong xỉ hàn
Mội hở răng lạnh
一箭雙雕
Nhất tiễn song điêu
Một mũi tên trúng hai đích
一本萬利
Nhất bản vạn lợi
Một vốn bốn lời
班門弄斧
Ban môn lộng phủ
Múa rìu qua mắt thợ
萬眾一心
Vạn chúng nhất tâm
Muôn người như một
十年樹木,百年樹人
Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân
Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người
臥薪嘗膽
Ngoạ tân thường đảm
Nằm gai nếm mật
血口噴人
Huyết khẩu phún nhân
Ngậm máu phun người
千鈞一髮
Thiên quân nhất phát
Nghìn cân treo sợi tóc
過橋抽板
Quá kiều trừu bản
Qua cầu rút ván
釜底抽薪
Phủ để trừu tân
Rút củi đáy nồi
差之毫釐,謬以千里
Sai chi hào ly, mậu dĩ thiên lý
Sai một ly, đi một dặm
生寄死歸
Sinh ký tử quy
Sống gửi thác về
放虎歸山
Phóng hổ quy sơn
Thả hổ về rừng
勝不驕,敗不餒
Thắng bất kiêu, bại bất nỗi
Thắng không kiểu, bại không nản
勝者為王,敗者為寇
Thắng giả vi vương, bại giả vi khấu
Thắng làm vua, thua làm giặc
盲人摸象
Manh nhân mạc tượng
Thầy bói xem voi
一帆風順
Nhất phàm phong thuận
Thuận buồm xuôi gió
百聞不如一見
Bách văn bất như nhất kiến
Trăm nghe không bằng một thấy
懸羊頭賣狗肉
Huyền dương đầu mại cẩu nhục
Treo đầu dê bán thịt chó
冤有頭,債有主
Oan hữu đầu, trái hữu chủ
Oan có đầu, nợ có chủ
守株待兔
Thủ châu đãi thố
Ôm cây đợi thỏ
飲水思源
Ẩm thuỷ tư nguyên
Uống nước nhớ nguồn

Sử dụng thành ngữ phổ biến hơn[sửa | sửa mã nguồn]

Một số thành ngữ Hán Việt được sử dụng trong tiếng Việt nhưng ít phổ biến hơn một số thành ngữ Hán Việt khác có ý nghĩa tương đương, chẳng hạn:

  • Nhất cử lưỡng tiện 一舉兩便 - Nhất cử lưỡng đắc 一舉兩得
  • Vạn cổ lưu phương 萬古流芳 (thành ngữ Hán Việt ít sử dụng) - Vạn cổ lưu danh (thành ngữ Hán Việt sử dụng thường xuyên hơn)
  • Nhập tình nhập lý 入情入理 (thành ngữ Hán Việt ít sử dụng) - Hợp tình hợp lý (thành ngữ Hán Việt sử dụng thường xuyên hơn)
  • Tác uy tác phúc 作威作福 (thành ngữ Hán Việt ít sử dụng) - Tác oai tác quái (thành ngữ Hán Việt sử dụng thường xuyên hơn)

Thay đổi từ ngữ và/hoặc vị trí từ ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi được chuyển hóa thành thành ngữ Hán Việt, nhiều thành ngữ gốc Hán đã có sự chuyển hóa vị trí một số chữ Hán hoặc thay một chữ Hán khác cho phù hợp với tiếng Việt hơn, chẳng hạn:

Thành ngữ tiếng Hán Thành ngữ tiếng Việt
Nhập hương tuỳ tục 入鄉隨俗 Nhập gia tuỳ tục 入家隨俗
Phúc vô song chí, hoạ bất đơn hành 福無雙至,禍不單行 Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí 福不重來,禍無單至
Binh quý hồ dũng bất quý hồ đa 兵貴乎勇不貴乎多 Quý hồ tinh bất quý hồ đa 貴乎精不貴乎多
Căn thâm đế cố 根深蒂固 Thâm căn cố đế 深根固蒂
Cửu tử nhất sinh 九死一生 Thập tử nhất sinh 十死一生
Nhất lộ bình an 一路平安 Thượng lộ bình an 上路平安
Túc trí đa mưu 足智多謀 Đa mưu túc trí 多謀足智
Xà khẩu phật tâm 蛇口佛心 Khẩu xà tâm phật 口蛇心佛

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bùi Hạnh Cẩn, 5000 thành ngữ Hán Việt thường dùng, 158 trang, Nhà xuất bản Giáo dục, 1993
  • Trương Đình Tín biên soạn, Thành ngữ Hán Việt, 490 trang, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2004

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thành ngữ Hán Việt Hán Việt Danh Ngôn