Phương ngữ tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương khác nhau về kinh tế, văn hóa sẽ khác nhau. Ở Việt Nam chủ yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ bắc (Bắc Bộ), phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ nam (Nam Trung BộNam Bộ). Các phương ngữ này khác nhau chủ yếu ở ngữ âm, rồi đến từ vựng, cuối cùng là một chút khác biệt ngữ pháp.

Các vùng phương ngữ trong tiếng Việt Nam.
Các vùng phương ngữ của tiếng Việt.

Sự khác biệt về ngữ âm là nhiều nhất, nhưng có thể đoán được. Sự khác biệt về từ vựng có thể dẫn đến sự hiểu lầm nhiều nhất.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay thể hiện sự khác biệt ngữ âm khá rõ theo địa giới gần tương đương phân chia hành chính thời Lê sơ:

Các phương ngữ Nam Bộ hiện nay hình thành rõ nét kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng vượt qua Hoành Sơn vào Đàng Trong cùng với nhiều thay đổi trong ngữ âm và bổ sung nhiều từ vựng từ tiếng Khmer, tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến...

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Có những tổ hợp song âm khi tách ra dùng đơn lẻ thì phương ngữ Nam chọn yếu tố thứ nhất, còn phương ngữ Bắc chọn yếu tố thứ hai: dơ bẩn, đau ốm, lời lãi, bao bọc, mai mối, hư hỏng, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, hình ảnh, la mắng, bồng bế, hăm dọa… Ngược lại có những tổ hợp người miền Bắc chọn yếu tố đầu, người miền Nam chọn yếu tố sau: thóc lúa, giẫm đạp, đón rước (trong phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, rước mang nghĩa trang trọng), lừa gạt, sắc bén, lau chùi, thứ hạng, chăn mền, chậm trễ, tìm kiếm, vâng dạ, đùa giỡn, thuê mướn, mau lẹ, hung dữ, trêu chọc…[2]

Nhiều từ vựng, phương ngữ Bắc quen dùng từ thuần Việt, phương ngữ Nam hay dùng từ Hán Việt như (bắc/nam): hát/ca, chè/trà, bèo tây/lục bình, quán/tiệm, mướp đắng/khổ qua, đỗ/đậu... Ở chiều ngược lại, phương ngữ Bắc thông dụng từ Hán Việt thì phương ngữ Nam hay dùng từ đã Việt Hóa như: hoa quả/trái cây...[cần dẫn nguồn]

Nhiều từ vựng phương ngữ miền Nam có nguồn gốc từ bối cảnh sông nước, đặc điểm tự nhiên của miền Tây Nam Bộ, như: có giang, quá giang, anh em cọc chèo (phân biệt chèo lái, chèo kế, chèo mũi) chỉ anh em đồng hao ở ngoài Bắc, khẳm (chỉ thứ gì nhiều quá ví dụ khẳm tiền), chìm xuồng (chỉ vụ việc bị lãng quên), tới bến, xuống nước...[3]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Phương ngữ vùng nào tất nhiên được người dân vùng đó dùng để giao tiếp. Tuy nhiên ngoài ra còn có một số đặc điểm sau.

Phương ngữ miền Bắc được dùng nhiều trong các kênh thông tin đại chúng của quốc gia như đài truyền hình Việt Nam. Tuy ngày càng có xu hướng nhiều chương trình bắt đầu có người dẫn chương trình dùng phương ngữ miền Nam nhưng vẫn chiếm tỉ lệ khá thấp trong khi phương ngữ miền Trung hầu như vắng bóng. Chẳng hạn như trong chương trình thời sự lúc 19 giờ hằng ngày, chương trình được xem là quan trọng và được hầu hết các đài truyền hình địa phương tiếp sóng, chỉ có hai biên tập viên dùng phương ngữ miền Nam. Tuy vậy, lời dẫn chương trình của các bản tin được gửi về từ địa phương có thể là phương ngữ của vùng đó, ví dụ bản tin từ Quảng Bình được nói bằng giọng Quảng Bình.

Trong khi hát, các ca sĩ dẫu trong Nam hay ngoài Bắc, kể cả hải ngoại đều dùng phương ngữ miền Bắc[cần dẫn nguồn]. Có một số trường hợp dùng phương ngữ địa phương do tính chất bài hát (chẳng hạn ca sĩ Cẩm Ly) hoặc dân ca địa phương hoặc vọng cổ (phương ngữ miền Nam). Tuy nhiên trong nhiều bài tân cổ giao duyên, thì phần tân cũng được hát bằng phương ngữ miền Bắc trong khi phần cổ được hát bằng phương ngữ miền Nam.

Xu hướng[sửa | sửa mã nguồn]

Gần đây khi giao thông vận tải, truyền hình, phim ảnhinternet phát triển nhìn chung người ngoài Bắc và trong Nam có xu hướng dễ hiểu nhau hơn, ở một mức độ nào đó có ảnh hưởng lẫn nhau ví dụ ngoài Bắc dùng từ nhậu, dzô hoặc trong Nam dùng từ vào trong bóng đá hoặc từ bác xưng hô trên internet nhiều hơn.

Trong xu hướng này, các từ của tiếng Nam Bộ nhập vào tiếng Việt chung là biểu hiện rõ nhất: bột giặt, kem giặt (thay cho xà phòng bột, xà phòng kem), gạch bông, bông tai (gạch hoa, hoa tai), máy lạnh (điều hòa nhiệt độ), tiêu chảy (ỉa chảy, ỉa lỏng), bà bầu (bà chửa), chỉ, cây (vàng) (đồng cân, lạng (vàng)), quậy (phá), nhậu nhẹt (ăn uống, bia rượu), lì xì (mừng tuổi), nước tương (xì dầu), nhà thuốc/ nhà sách (cửa hàng thuốc/ cửa hàng sách), v.v.[2]

Ngoài ra trên các mạng xã hội, các thanh thiếu niên đôi khi cố tình viết sai chính tả để ký âm phương ngữ miền Nam hay miền Trung với mục đích vui vẻ.

Phương ngữ tiếng Việt giữa các vùng[sửa | sửa mã nguồn]

  • So sánh ngữ âm trong phương ngữ ba vùng lãnh thổ Việt Nam:
Vùng Thanh điệu Phụ âm đầu Vần Phụ âm cuối
Phương ngữ Bắc 6 thanh 20, s->x, r/gi->d, tr->ch (Có ngoại lệ, xem bên dưới) ưu->iu, ươu->iêu đầy đủ
Vùng biên giới phía Bắc (vùng Đông Bắc, Hải Phòng, Quảng NinhTây Bắc) đầy đủ
Vùng đồng bằng Bắc Bộ, trừ khu vực hạ lưu sông Hồng và ven biển (Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình, Hải Dương, Hưng Yên,) đầy đủ
Vùng hạ lưu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch đầy đủ
Phương ngữ Trung 5 thanh 23, phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch Phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp được với nguyên âm ở cả ba hàng (cũ)
Vùng Thanh Hóa lẫn lộn thanh hỏi/thanh ngã (một vài vùng) đầy đủ
Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh không phân biệt thanh ngã/thanh nặng, âm trầm hơn thiếu cặp âm cuối /-ŋ, k/
Vùng Quảng Bình, Quảng Trị không phân biệt thanh hỏi/thanh ngã nh ->d (cũ) đầy đủ
Vùng Huế không phân biệt thanh hỏi/thanh ngã x ->s mất nhiều vần, vần biến đổi (oi -> oai, anh-> ăn/ân, ach -> ăt, on ->oong, ông->ôông, iên->iêng,...) n -> ng, t -> c
Phương ngữ Nam 5 thanh, không phân biệt thanh hỏi/ ngã phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch mất nhiều vần, biến đổi rất nhiều vần (â->ă, ô->ơ lẫn lộn, êch->ơt...) n -> ng, t -> c

âm /a/ và /ă/ biến động đa dạng

Vùng Quảng Nam-Quảng Ngãi 5 thanh, không phân biệt thanh hỏi/thanh ngã phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch mất nhiều vần, /a/ và /e/ biến động, xu hướng /a/ thành /e/.
Vùng Quy Nhơn-Bình Thuận, Ninh Thuận 5 thanh, không phân biệt thanh hỏi/thanh ngã bán phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch âm /a/ và /e/ biến động đa dạng
Nam Bộ 5 thanh, không phân biệt thanh hỏi/thanh ngã bán phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch đồng nhất -in, -it, -un, -ut với -inh, -ich, -ung, -uc
  • Việc lẫn lộn l/n (nói ngọng) xảy ra cục bộ trên toàn bộ các vùng nói phương ngữ Bắc.

Hệ thống phụ âm các vùng phương ngữ tiếng Việt:

Hệ thống phụ âm các vùng phương ngữ tiếng Việt
Vị trí Chính tả Phương ngữ Bắc Phương ngữ Bắc Trung bộ Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
Phụ âm đầu x [s] [s] [s] [s]
s [ʂ] [ʂ] [ʂ]
ch [tɕ] [tɕ] [tɕ] [tɕ]
tr [tʂ] [tʂ] [tʂ]
r [z] [ɹ] [ɹ] [ɹ]
d [z] [j] [j]
gi [ɟ]
v [4] [v] [v] [v] [j]
Phụ âm cuối c [k] [k] [k] [k]
t [t] [t]
t
sau e
[k, t]
t
sau ê
[t] [k, t]
t
sau i
[t]
ch [c] [c]
ng [ŋ] [ŋ] [ŋ] [ŋ]
n [n] [n]
n
sau i, ê
[n] [n]
nh [ɲ] [ɲ]

Bảng so sánh các đại từ được sử dụng tại các vùng phương ngữ tiếng Việt:

Bảng so sánh các đại từ[5]
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
này ni, nì, này nầy
thế này ri này (Thanh Nghệ Tĩnh),

ri nì (Bình Trị Thiên)

vầy, như vầy
ấy nớ, tê, đó đó
thế, thế ấy rứa, rứa tề, rứa đó vậy, vậy đó
kia đó
kìa tề đó
đâu đâu
nào mồ nào
sao, thế nào răng sao
tôi tôi, tui tui
tao tau tao
chúng tôi bọn tui,

tụi tui (Bình Trị Thiên)

tụi tui
chúng tao choa, bọn choa (Thanh Nghệ),

tui tau (Bình Trị Thiên)

tụi tao
mày mi mầy
chúng mày bây, bọn bây (Thanh Nghệ Tĩnh),

tụi mi (Bình Trị Thiên)

tụi mầy
hắn
chúng nó bọn hắn, bọn nớ (Thanh Nghệ Tĩnh),

tụi nớ (Huế)

tụi nó
ông ấy ông nớ,

ôn nớ (Huế)

ổng
bà ấy bà nớ,

mụ nớ, mệ nớ (Bình Trị Thiên)

bả
cô ấy dì nớ,

o nớ (Bình Trị Thiên)

cổ
chị ấy chị nớ chỉ
anh ấy anh nớ ảnh
Bảng so sánh các từ thông dụng tại các vùng trong phương ngữ tiếng Việt:
Thể loại Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
Động vật lợn lợn (Thanh Nghệ),

heo (Bình Trị Thiên)

heo
ngan ngan (Thanh Nghệ Tĩnh),

vịt Xiêm (Trị Thiên)

vịt Xiêm
hổ hổ,

cọp (Trị Thiên)

cọp, ông ba mươi
Thực vật quả quả (Thanh Nghệ Tĩnh),

trái (Bình Trị Thiên)

trái
hoa hoa,

bông hoa (Trị Thiên)

bông
đỗ đỗ, độ (Thanh Nghệ),

đậu (Bình Trị Thiên)

đậu
ngô ngô (Thanh Nghệ Tĩnh),

bắp (Bình Trị Thiên)

bắp
dứa dứa (Thanh Nghệ Tĩnh),

thơm (Trị Thiên)

thơm
lạc lạc (Thanh Nghệ Tĩnh),

đậu phộng (Bình Trị Thiên)

đậu phộng
roi mận mận
táo táo (Thanh Nghệ Tĩnh),

bom (Trị Thiên)

táo, bôm
táo ta táo ta táo
na na (Thanh Nghệ Tĩnh),

mãng cầu (Bình Trị Thiên)

mãng cầu ta
mãng cầu gai na gai (Thanh Nghệ Tĩnh),

mãng cầu Xiêm (Trị Thiên)

mãng cầu Xiêm
hồng xiêm hồng xiêm (Thanh Nghệ Tĩnh),

sabôchê (Trị Thiên)

sabôchê
củ đậu củ đậu, củ độ (Thanh Nghệ Tĩnh),

củ sắn (Trị Thiên)

củ sắn
sắn sắn,

khoai (Bình Trị Thiên)

khoai mì
dưa chuột dưa chuột,

dưa leo (Bình Trị Thiên)

dưa leo
dọc mùng dọc mùng (Thanh Nghệ Tĩnh),

bạc hà (Trị Thiên)

bạc hà
rau mùi mùi (Thanh Nghệ Tĩnh),

ngò (Trị Thiên)

ngò rí
mùi tàu ngò tàu ngò gai
(cây/hoa) dâm bụt râm bụt (cây/hoa) bông bụp
cây cảnh cây cảnh cây kiểng
Thực phẩm chè (tươi) chè xanh, trà trà (xanh)
xì dầu xì dầu nước tương, tàu vị yểu, xì dầu
mì chính mì chính (Thanh Nghệ Tĩnh),

bột ngọt (Trị Thiên)

bột ngọt
tào phớ đậu pha (Thanh Nghệ Tĩnh),

đậu hủ (Trị Thiên)

tàu hủ non
nem rán nem, chả cuốn chả giò
ô mai ô mai (Thanh Nghệ Tĩnh),

xí muội (Trị Thiên)

xí muội
ly đá tẩy
bánh caramen bánh caramen (Thanh Nghệ Tĩnh),

bánh flan (Trị Thiên)

bánh flan
Vật dụng kính kính kiếng
ô ô,

dù (Bình Trị Thiên)

rọ cạo (Thanh Nghệ),

rổ (Trị Thiên)

rổ tre
chăn chăn (Thanh Nghệ Tĩnh),

mền (Bình Trị Thiên)

mền
(mắc) màn (mắc) màn (Thanh Nghệ Tĩnh),

(giăng) mùng (Trị Thiên)

(giăng) mùng
áo phông áo phông (Thanh Nghệ Tĩnh),

áo thun (Trị Thiên)

áo thun
áo ấm áo ấm (Thanh Nghệ Tĩnh),

áo lạnh (Bình Trị Thiên)

áo lạnh
mũ, mạo,

nón (Huế)

nón
tất tất vớ
ảnh ảnh,

hình (Huế)

hình
(thắp) nến (thắp) nến, đèn cầy (đốt) đèn cầy
dĩa dĩa,

nĩa (Trị Thiên)

nĩa
đĩa đĩa, địa (Thanh Nghệ),

dĩa (Trị Thiên)

dĩa
thìa thìa (Thanh Nghệ),

muỗng (Bình Trị Thiên)

muỗng
muôi môi
chén (rượu, trà) ly (rượu, trà) chung, ly (rượu, trà)
bát bát (Thanh Nghệ),

chén (Bình Trị Thiên)

chén
bát tô
cốc ly tách, ly
lọ chai chai
chậu thau thau
tẩy tẩy (Thanh Nghệ Tĩnh),

gôm (Trị Thiên)

gôm
bút bút (Thanh Nghệ Tĩnh),

viết (Bình Trị Thiên)

viết
túi bóng bao bóng (Thanh Nghệ Tĩnh),

bịch/bọc (nylon) (Trị Thiên)

bịch/bọc (nylon)
ô tô ô tô, xe con xe hơi
tàu hoả tàu hỏa xe lửa
(má) phanh (má) phanh (bố) thắng
lốp (xe) lốp (xe) vỏ (xe)
săm (xe) săm (xe) (Thanh Nghệ Tĩnh),

ruột (xe) (Trị Thiên)

ruột (xe)
xích (xe) xích (xe),

sên (xe) (Trị Thiên)

sên (xe)
dầu nhờn dầu nhớt dầu nhớt
Xưng hô bố bố (Thanh Hóa),

ba (Bình Trị Thiên)

ba
anh cả anh cả, anh hai anh hai
anh hai anh hai, anh ba anh ba
(dạ) vâng dạ dạ
Hành động dùng dùng (Thanh Nghệ Tĩnh),

xài (Trị Thiên)

xài
(bàn) ủi (bàn) ủi
đèo chở chở
rẽ rẽ,

quẹo (Huế)

quẹo
ngã bổ
đỗ (xe) đỗ, độ (xe) (Thanh Nghệ Tĩnh),

đậu (xe) (Bình Trị Thiên)

đậu (xe)
(thi) đỗ (thi) đỗ (Thanh Nghệ),

đậu (Bình Trị Thiên)

(thi) đậu
(thi) trượt (thi) trượt,

rớt (Trị Thiên)

(thi) rớt
xơi, ăn ăn ăn
bổ bổ, mổ xẻ
vồ vồ,

chập (Huế)

chụp
véo véo ngắt, nhéo
(buồn) nôn (buồn) nôn (Thanh Nghệ),

(buồn) mửa (Trị Thiên)

(mắc) ói
mắng la, nạt, chửi chửi
buồn cười tức cười mắc cười
bắt nạt bắt nạt (Thanh Nghệ Tĩnh),

ăn hiếp (Bình Trị Thiên)

ăn hiếp
mặc cả mặc cả (Thanh Nghệ Tĩnh),

trả giá (Bình Trị Huế)

trả giá
Tính chất gầy gầy (Thanh Nghệ Tĩnh),

ốm (Bình Trị Thiên)

ốm
béo béo (Thanh Nghệ),

mập (Bình Trị Thiên)

mập
muộn muộn (Thanh Nghệ Tĩnh),

trễ (Bình Trị Thiên)

trễ
buồn nhột nhột
kiêu kiêu (Thanh Nghệ),

chảnh (Bình Trị Thiên)

chảnh
(làm) cảnh (làm) cảnh (làm) kiểng
hỏng
lác (mắt) lác (mắt),

lé (Bình Trị Thiên)

Khác ngõ ngõ (Thanh Nghệ),

hẻm (Trị Thiên)

hẻm
ngách hẻm (của ngõ) hẻm (của hẻm)
hàng, quán hàng, quán,

tiệm (Trị Thiên)

tiệm, quán
nghìn nghìn (Thanh Nghệ Tĩnh),

ngàn (Bình Trị Thiên)

ngàn
mồm miệng miệng
đá bóng đá bóng (Thanh Nghệ),

đá banh (Bình Trị Thiên)

đá banh
rán rán (Thanh Nghệ),

chiên (Bình Trị Thiên)

chiên
(bị) bệnh (nặng) (bị) bệnh nặng,

(bị) bịnh nặng (Bình Trị Thiên)

(bị) bịnh nặng
(bị) ốm (bị) ốm (Thanh Nghệ Tĩnh),

bịnh (Bình Trị Thiên)

(bị) bịnh
cân, kilogram cân (Thanh Nghệ Tĩnh),

ki (Trị Thiên)

(tiền) thừa (tiền) thừa (Thanh Nghệ),

thối (Bình Trị Thiên)

(tiền) thối

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.hue.vnn.vn/tudien/2005/10/106211/ Phương ngữ Huế
  2. ^ a ă “TIẾNG NAM, TIẾNG BẮC Đang xích lại gần nhau” (PDF). Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ “Phương ngữ Nam Bộ và sông nước”. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (83). 2010. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ Trong phương ngữ Nam, v thường được phát âm là [vj] hoặc [bj] ở những người có trình độ văn hóa cao hơn. Tuy nhiên, đối tượng này lại chuyển sang dùng [j] nhiều hơn trong khẩu ngữ. Những người có trình độ văn hóa thấp hơn thường dùng [j] trong văn nói. Xem: Thompson (1959), Thompson (1965: 85, 89, 93, 97-98).
  5. ^ Theo Hoàng Thị Châu (1989).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Thị Châu. (1989). Tiếng Việt trên các miền đất nước: Phương ngữ học. Hà Nội: Khoa học xã hội.
  • Thompson, Laurence E. (1959). Saigon phonemics. Language, 35 (3), 454-476.
  • Thompson, Laurence C. (1991). A Vietnamese reference grammar. Seattle: University of Washington Press. Honolulu: University of Hawaii Press. (Original work published 1965). (Online version: www.sealang.net/archives/mks/THOMPSONLaurenceC.htm.)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]