Tiếng Chơ Ro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tiếng Chơ Ro

Sử dụng tạiViệt Nam
Khu vựcĐồng Nai, Tây NinhBình Dương
Tổng số người nói7.000 người
Dân tộc26,900 Người Chơ Ro (điều tra dân số 2009)
Phân loạiNam Á
  • Bahnar
    • Bahnar Nam
      • Stiêng–Chơ Ro
        • Tiếng Chơ Ro
Hệ chữ viếtchữ Latinh
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3crw
Glottologchra1242[1]

Tiếng Chơ Ro (còn gọi là Chrau, Jro, Ro, Tamun, Charuo, Choro, Chíoro) là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Bahna được nói bởi 22.000 người Chơ Ro ở miền nam Việt Nam. Không giống như hầu hết các ngôn ngữ của Đông Nam Á, tiếng Chơ Ro không có thanh điệu từ ngữ, mặc dù nó có ngữ điệu câu rõ rệt.[2]

Có khoảng dưới 20.000 người là người Chơ Ro bản ngữ[3]. Người nói tiếng Chơ Ro chủ yếu sống ở các tỉnh miền Nam như Đồng NaiBình Thuận. Hầu hết các nghiên cứu này là do David Thomas thực hiện.

Ngôn ngữ của người Chơ Ro có rất nhiều ảnh hưởng từ tiếng Trung Quốc, điều này tương tự như nhiều ngôn ngữ khác. Trong những năm sau khi người Chơ Ro bắt đầu buôn bán huê lợi cho những dân tộc khác trong khu vực, ảnh hưởng của tiếng Việt bắt đầu xuất hiện trong ngôn ngữ của họ. Tương tự như tiếng Trung và tiếng Việt, tiếng Chơ Ro cũng có một số thanh điệu nhất định được nhấn mạnh khi nói.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Chơ Ro thuộc nhóm nhóm Bahnar Nam cùng với tiếng Cơ Ho, tiếng Xtiêng, tiếng M'nông. Nhiều người xem tiếng Cơ Ho và tiếng Chơ Ro là xếp chung một nhóm nhỏ độc lập, tuy nhiên giữa hai ngôn ngữ lại có những khác biệt rõ rệt. Ngôn ngữ này cũng bị nhiều ảnh hưởng từ các ngôn ngữ trong vùng cũng như từ các quốc gia Đông Nam Á khác như Lào, CampuchiaMalaysia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người nghi ngờ rằng người Chơ Ro là một trong những cư dân đầu tiên di cư đến miền Nam Việt Nam, tuy nhiên đã có một số nghi ngờ rằng một số tộc người Chơ Ro có thể là bản xứ. Trước khi người Việt sinh sống ở đây, vùng này có sự phân chia giữa những người nói tiếng Malay-Đa Đảo và người nói tiếng Môn-Khmer. Người Mã Lai-Đa Đảo định cư dọc theo nội địa và cao nguyên còn người Môn-Khmer thì sống ở phía Bắc hoặc Nam của cao nguyên. Mặc dù có một khoảng cách trong lịch sử giữa hai khu vực này, nhiều người nghi ngờ rằng có thể đã có một cuộc xâm lược của người Môn-Khmer đến người Mã Lai-Đa Đảo. Vì vậy ngôn ngữ Môn-Khmer ở đây phổ biến hơn. Điều này cũng đã châm ngòi cho những câu chuyện khác nhau bởi các nhóm giả thiết khác nhau về cách người Chơ Ro xuất hiện đến khi người Campuchia gốc Chăm được hình thành.

Cũng có những cuộc chiến tranh xảy ra bắt buộc người Chrau phải di cư, tộc Jro là một trong những tộc lớn nhất của người Chrau, đó là lý do tại sao ngôn ngữ này đôi khi được gọi là Jro. Khi người Việt bắt đầu định cư trong khu vực, tiếng Chơ Ro dần bị ảnh hưởng lớn bởi tiếng Việt, và nó trở thành một ngôn ngữ có nguy cơ tuyệt chủng.

Tiếng Chơ Ro là ngôn ngữ được nói riêng với những người biết ngôn ngữ này. Trong các trường hợp khác, tiếng Việt là ngôn ngữ thường được sử dụng rộng rãi và không nhiều thế hệ trẻ sẽ biết tiếng Chơ Ro.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Chơ Ro hiện tại bị đồng hoá bởi các ngôn ngữ xung quanh. Nó được nói ở miền Nam trong một khu vực cách 50 dặm về phía đông của Thành phố Hồ Chí Minh. Người Chơ Ro sống ở khu vực trải dài từ sông La Ngà đến phía đông huyện Tánh Linh, phân chia thành phía đông của người Chơ Ro và phía tây của người Raglai. Hầu hết tiếng Chơ Ro được nói ở vùng ven biển biển từ Hàm Tân đến Vũng TàuLong Thành nhưng không quá xa sông Đồng Nai. Mặc dù không có địa phương nào xem tiếng Chơ Ro là ngôn ngữ chính thức, nhưng nhiều khu vực của Bà Rịa-Vũng TàuĐồng Nai vẫn có nhiều người nói tiếng Chơ Ro. Mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ chính trong tất cả các lĩnh vực.

Nhiều người nói tiếng Chơ Ro có xu hướng sống ở các khu vực giữa vùng đất bằng phẳng gần đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng gần các khu vực miền núi. Tuy nhiên, dường như đã có một sự dịch chuyển trong những năm gần đây đến các khu vực đường cao tốc của Việt Nam vì sự thay đổi thời tiết gây khó khăn cho việc đi lại của người Chơ Ro cũng như sự ổn định tài chính.

Các phương ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Jro[sửa | sửa mã nguồn]

Phương ngữ Jro được nói bởi phần lớn những người biết tiếng Chơ Ro vì Jro là nhóm đông dân nhất của Chơ Ro.

Phụ âm
ph th chh kh p t ch l,r
c k q v d j g y
b đ m n nh ng w s

Phương ngữ này có phân chia âm "n" với "h" cũng như nói "ư" là sự trung hòa cơ bản của "ĭ" và "ŭ" trong một số môi trường nhất định. Trong khi "ĕ/ă" và "â/ŏ" thì trung hòa trong các môi trường khác. Cho phép các âm tiết mở chỉ nhận các nguyên âm dài.

Prâng[sửa | sửa mã nguồn]

Phương ngữ này được nói như khu vực Túc Trưng, tuy nhiên nhiều người coi phương ngữ này giống như trẻ con và là một sự hiểu lẫn nhau trong bối cảnh. Mặc dù đây không phải là phương ngữ phổ biến nhất, nhưng có một vài ghi chép trong phương ngữ này.

Tiếng Việt Phương ngữ Jro Phương ngữ Prâng
rừng nggô vri
đi saq hăn
tôi ănh ĭnh
chơi lêng khlân
nhỏ ken vây

Mặc dù dường như không có nhiều mối tương quan, nhưng đó là do môi trường mà người Chơ Ro đang ở, nơi họ thấy mình đang cố gắng trộn lẫn hai ảnh hưởng của tiếng Trung cũng như tiếng Việt vì phương ngữ Prâng hiện diện về phía tây của Việt Nam nơi giáp với Lào và Campuchia.

Từ vựng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh Tiếng Việt Tiếng Cho Ro
see xem sên
die chết chưt
house nhà nhi
squeeze bóp bop
green xanh sănh

Cùng với những ảnh hưởng từ tất cả các hạ tầng như chợ và đường đang được xây dựng, mặc dù nhiều từ của người Cho Ro có nguồn gốc của riêng họ, khi ảnh hưởng của tiếng Việt và tiếng Trung bắt đầu xâm lấn, những từ của họ biến thành một thứ kết hợp của tất cả các ngôn ngữ. Tuy nhiên, chỉ có người Chơ Ro dường như đã hiểu ngôn ngữ đã hình thành. Cũng cần lưu ý rằng không phải tất cả mà chỉ một số ít các từ của họ đã bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt.

Hệ thống chữ viết[4][sửa | sửa mã nguồn]

Câu văn Dịch nghĩa đen Dịch đúng
Anh văt nĕh hao Tôi nâng nó lên Tôi nâng nó lên
Vơn một nĕh Chúng tôi đã cho anh ấy Chúng tôi đã đưa nó cho anh ta
Vơn păh nĕh iưm glao măq lŭng Chúng tôi chặt cho anh tre rất to. Chúng tôi chặt tre lớn cho anh.

Hệ thống chữ viết này có xu hướng trang trọng hơn vì đây không phải là văn hóa truyền thống hay cuộc trò chuyện thân mật. Có một phong cách thông tục được sử dụng trong cuộc trò chuyện thông thường được đánh dấu bằng các câu ngắn và lược văn xuất hiện thường xuyên.

Hệ thống số đếm[sửa | sửa mã nguồn]

Số Phát âm Số Phát âm Số Phát âm Số Phát âm
1 muoːi / du 11 maːt muoːi 21 val ɟaːt muoːi 40 puoːn ɟaːt
2 val 12 maːt val 22 val ɟaːt val 50 prăm ɟaːt
3 pe 13 maːt pe 23 val ɟaːt pe 60 prau ɟaːt
4 puoːn 14 maːt puoːn 24 val ɟaːt puoːn 70 pŏh ɟaːt
5 prăm 15 maːt prăm 25 val ɟaːt prăm 80 pʰam ɟaːt
6 prau 16 maːt prau 26 val ɟaːt prau 90 suˀn ɟaːt
7 pŏh / paːh 17 maːt pŏh 27 val ɟaːt pŏh 100 du rajĕŋ
8 pʰam 18 maːt pʰam 28 val ɟaːt pʰam 200 val rajĕŋ
9 suˀn 19 maːt suˀn 29 val ɟaːt suˀn 1000 du ravu < Chamic
10 maːt 20 val ɟaːt 30 pe ɟaːt 2000 val ravu

Hệ thống số đếm là một ví dụ về sự khác biệt trong ngôn ngữ Chơ Ro so với các ngôn ngữ khác, mặc dù có một chút ảnh hưởng của nhóm ngôn ngữ Chăm, Môn-Khmer cũng như các ngôn ngữ khác. Nó vẫn là hệ thống đánh số duy nhất và có những cái riêng của nó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert và đồng nghiệp biên tập (2013). “Chrau”. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. 
  2. ^ Thomas, Dorothy M. (1966). “Chrau intonation” (PDF). Mon–Khmer Studies 2: 1–13. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2011. 
  3. ^ “Did you know Chrau is vulnerable?”. Endangered Languages (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017. 
  4. ^ “Chrau”. mpi-lingweb.shh.mpg.de. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2017. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]