Thẩm Hoàng Tín

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thẩm Hoàng Tín (1909–1991) là nhà chính trị Việt Nam, từng làm Thị trưởng Hà Nội từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 8 năm 1952 dưới chính thể Quốc gia Việt Nam[1].

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê Phúc Kiến, Trung quốc. Cụ tổ 6-7 đời đã đến lập nghiệp tại Hưng Yên rồi chuyển về Hà Nội. Tên khai sanh là Thẩm Tín. Cha ông là cụ Thẩm Phác (1887 - 1956) thư ký Sở Lục lộ. Ông có người em họ là nhạc sĩ Thẩm Oánh.

Ông sang Pháp khi đã đỗ tú tài tại Hà Nôi, đậu bằng dược sĩ, trở về Việt Nam, ở Hà-nội hành nghề.

Ông làm con nuôi cụ Hoàng Trung Huân (1877 - 1950). Cụ Huân là cựu Tuần phủ, Hội trưởng Hội Khai trí Tiến đức (thân sinh Bác sĩ Nha khoa Hoàng cơ Bình, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Bắc Việt năm 1954, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Cộng hòa), Luật sư Hoàng cơ Thụy Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Lào, Giáo sư Hoàng cơ Nghị, Đề đốc Hải quân Hoàng Cơ Minh), nên ông đổi tên là Thẩm Hoàng Tín.

Ông có một cửa hàng bán thuốc tây tại phố Cửa Nam, mang tên là tiệm thuốc cửa Nam, ông còn có phòng thí nghiệm, bào chế lớn và một cửa hàng thuốc tây nữa ở đường Đồng Khánh.

Bà Vũ Nguyệt Đoan vợ cả của ông Tín mất vì bom Mỹ khi đi lễ ở Thái Bình năm 1944, có với nhau 6 người con.

Sau này ông lấy bà Phạm Thị Thành, con gái cụ Phủ Lệ Tuần phủ Hưng Yên, vợ góa ông kĩ sư canh nông. Là dược sĩ bà trực tiếp trông nom các tiệm thuốc để ông Tín có thì giờ lo việc chính trị. Ông bà có con chung là Thẩm Hoàng Long.

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông bí mật gửi thuốc men ra vùng tự do.

Thị trưởng Hà Nội thập niên 50[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950 ông kế nhiệm ông Phan Xuân Đài giữ chức Thị trưởng Hà nội. Trong thời gian tại chức Thị trưởng Hà Nội (1950 -1952) ông có đóng góp:

  • Ban hành quy chế đặt tên các phố Hà Nội trong gian đoạn trước 1954.
  • Thiết lập chợ tại những nơi gần đường cái lớn, giao thông thuận tiện cho việc buôn bán như: Ngã Tư Sở, Ô Yên Phụ, đường Lò Lợn.
  • Sửa chữa nhà cửa bị phá hủy trong những năm chiến tranh.
  • Tu sửa cầu Thê Húc. Tết Nhâm Thìn 1952, người dân đi lễ đền quá đông làm cầu Thê Húc bị sập. Rất may nước hồ Gươm năm đó cạn nên những đứa trẻ rơi xuống hồ không bị chết đuối. Thị trưởng Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cầu cũ, xây cầu mới. Để có thiết kế đẹp, ông Tín tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu và trong hơn 30 mẫu của các kiến trúc sư cả Pháp lẫn Việt tham gia thì thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm được lựa chọn. Vẫn giữ lại dáng cong cầu vồng xưa nhưng Nguyễn Ngọc Diệm thiết kế cong hơn để cầu khỏe hơn đồng thời làm cầu nổi hơn. Nguyễn Ngọc Diệm giữ nguyên 16 hàng cọc tròn nhưng các đầu trụ được vuốt nhọn như gợi nhớ lại chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938. Dầm ngang, dầm dọc, mặt và thành cầu đều làm bằng gỗ.
  • Lập quỹ Tín dụng bình dân" giúp ích được cho nhiều tầng lớp trong xã hội, cho người dân nhập cư vay mua và sửa chữa nhà cửa, thương gia khuếch trương thương mại, mọi ngành kinh tế sẽ phát đạt: thương mại, kỹ nghệ, các nhà sẽ được xây dựng nhiều thêm, phố xá rộng rãi, các nhà máy mượn thêm thợ và làm việc luôn luôn, nền thương mại không đình trệ, các ngành tiểu công nghệ phát triển hơn lên…

Ông có tiếng là liêm khiết, siêng năng. Làm Thị trưởng nhưng dùng lương để hỗ trợ người nghèo. Ông thích giao du với giới trí thức, chính trị. Ông Tín ăn mặc rất chải chuốt, lúc nào cũng đúng mốt – áo quần toàn may bằng hàng đắt tiền, để râu mép kiểu Clark Gable (đại tài tử Mỹ), ăn nói từ tốn, đàng hoàng, khiêm nhường.

Năm 1952 ông thôi nhiệm, người kế nhiệm là ông Đỗ Quang Giai (nguyên Chánh án Tòa án hỗn hợp Hà nội, Thứ trưởng Bộ Nội vụ).

Cuộc sống sau năm 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Đám cưới cô dâu Phạm Thị Phú và chú rể Phước năm 1956. Ông Thẩm Hoàng Tín (Thị trưởng Hà Nội 1950-1952) thứ 4 từ phải qua và vợ - dược sĩ Phạm Thị Thành (chị ruột cô dâu). Hai bé trai là Thẩm Hoàng Long (áo len kẻ ngang) và Đào Đức Hoàng.

Ông không di tản vào Nam khi Hiệp định Genève ký kết.

Tháng 10 năm 1954, trước khi Hà Nội được giải phóng, ông Tín được cán bộ từ kháng chiến mời ra vùng tự do để tránh bị khủng bố đồng thời học tập về chính sách của cụ Hồ khi về tiếp quản Hà Nội.

Sau khi Việt Minh vào Hà Nội, ông được bầu làm ủy viên mặt trận Tổ quốc Hà Nội và làm trưởng phòng xét nghiệm tại bệnh viện Việt-Đức tại Hà Nội. Hiệu thuốc Cửa Nam được hiến cho nhà nước,là hiệu thuốc 8/3, và hiện nay vẫn đang bán thuốc ở phố Cửa Nam. Bà Thành đi làm tại bệnh viện B (Việt Nam Cuba ngày nay) mắc bệnh ung thư và qua đời năm 1969 lúc chưa tới 60 tuổi. Ông lấy thêm một người vợ thứ ba là Nguyễn Thị Nhung (1921 - 2000). Bà Nhung là em gái của vợ học giả Hoàng Xuân Hãn.

Ông có bảy người con thì 5 tốt nghiệp đại học và hành các nghề: dược sĩ, quay phim, nhà báo, nhà giáo, huấn luyện viên thể thao…và đều có nhà cửa đàng hoàng tại Pháp và Hà Nội. Đó là Hồng Anh (1930), Đôn Thư (1932), nhà quay phim Võ Hoàng (1935), Võ Kỳ (1937), Vũ Tùng (1939 - 2000), Vũ Can (1942), chuyên gia nhiếp ảnh Hoàng Long[2].

Vũ Can là cựu công chức Bộ Giáo dục sống ở 3 Phan Đình Phùng, Hà nội.

Đôn Thư lấy chồng là đạo diễn điện ảnh Trần Thịnh (1932 - 1986) người Hà nội, chủ biên 1 tờ báo trong thời kỳ Nhân văn giai phẩm và bị kỷ luật, quản thúc tại Hà nội. Đến năm 1979 nhờ người anh em đồng hao là Lê Thành Khôi can thiệp mới thoát khỏi cảnh quản thúc, về làm việc tại cơ quan.

Vũ Tùng xung phong lên Tây Bắc làm công nhân lập nghiệp tại đây.

Nhiều người con của ông hiện đang sống tại Pháp. Trong đó con gái ông là dược sĩ Thẩm Thị Hồng Anh, có chồng là nhà sử học Lê Thành Khôi. Võ Hoàng, Hoàng Long.

Năm 1979, ông bị bệnh đau tim, Nhà nước đã cho phép ông sang Pháp cùng các con để chữa bệnh.

Sau 10 năm sống tại Pháp, ông mất tại Paris, thọ 81 tuổi. Sau hỏa thiêu, hài cốt của ông được để ở Trúc Lâm Thiền Viện ở Paris.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]