Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh
Tên gọi khác UEF
Khẩu hiệu Chất lượng - Hiệu quả - Hội nhập
Thành lập 24 tháng 9 năm 2007
Loại hình Đại học kinh tế hệ tư thục
Hiệu trưởng TS Nguyễn Thanh Giang
Địa chỉ Số 276 Điện Biên Phủ, Phường 17, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại (+84) 08 5422 5555
Email tuvantuyensinh@uef.edu.vn
Website www.uef.edu.vn

Trường Đại học Kinh tế Tài chính thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: University of Economics and Finance) là trường đại học tư thục chuẩn quốc tế chuyên về đào tạo kinh tế, có chương trình đào tạo song ngữ tại Việt Nam, bên cạnh Đại học Quốc tế (thuộc hệ thống đại học Đại học Quốc gia) và RMIT. Trường thành lập năm 2007, sau 8 năm hoạt động gắng gượng, trường đã được bán lại cho Đại học HUTECH.[1]

Giới thiệu chi tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học UEF khi vừa mới công bố trực thuộc Đại học HUTECH

Trường Đại học Kinh tế Tài chính thành phố Hồ Chí Minh (University of Economics and Finance - UEF) được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 2007 theo quyết định số 1272/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đây là môi trường giáo dục chuyên sâu về đào tạo nhân sự trong ngành kinh tế, kinh doanh và tài chính của Việt Nam.

Năm 2014, sau 8 năm gắng gượng, trường đã bán lại thương hiệu cho Đại học HUTECH với giá 200 tỉ.[1] Trước thời điểm bán lại, trường Đại học Kinh tế - Tài chính hầu như năm nào việc tuyển sinh cũng chưa đạt 50% chỉ tiêu.[1]

Quy mô[sửa | sửa mã nguồn]

Khuôn viên chính UEF tọa lạc tại số 276 Điện Biên Phủ, phường 17, quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh. Dự án khu mở rộng ở Nam Sài Gòn với tổng diện tích 17 ha sẽ nâng tâm vị thế trường chuẩn Quốc tế trong khu vực. Với diện tích 10.000 m2 - 16 tầng nổi và 2 tầng hầm, khuôn viên bao gồm hệ thống phòng học, phòng thực hành tin học, ngoại ngữ, mô phỏng doanh nghiệp, thư viên, khu tự học và khu văn - thể - mỹ đạt chuẩn quốc tế.

Hệ thống quản lý hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ quản lý cấp cao là những người đứng đầu các đơn vị chức năng có nhiệm vụ tham mưu cho Ban lãnh đạo về  các vấn đề chính sách và hoạt động.

  • Hội đồng Quản trị
  • Ban giám hiệu
  • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
  • Hội đồng Thi đua, Khen thưởng và  Kỷ luật 

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 9 năm 2017, trường có 135 giảng viên. Trong đó có 1 giáo sư, 4 phó giáo sư, 31 tiến sĩ, 90 giảng viên có trình độ thạc sĩ và 9 giảng viên có trình độ đại học.[2]

Chất lượng đầu ra thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chất lượng đầu ra thực tế tính theo các ngành có thời gian tốt nghiệp vào năm 2016
Cấp bậc đào tạo Số lượng nhập học Số lượng tốt nghiệp đúng hạn Tỉ lệ tốt nghiệp loại xuất sắc Tỉ lệ tốt nghiệp loại giỏi Tỉ lệ có việc làm sau khi ra trường 1 năm
Đại học 135 người 75 người 6,5% 8,5% 73,3%
Thạc sĩ 16 người Trường không khảo sát ở bậc đào tạo này 100%

* Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng 1 năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng sinh viên khởi nghiệp (có đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc lập StartUp, cần phân biệt với ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp).[3]

* Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên có thể có khác biệt về chất lượng đào tạo ở hệ đào tạo này.

Hệ thống đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trình độ Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quy

Liên thông từ Cao đẳng

Liên thông từ Cao đẳng nghề

Trình độ Thạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Quản trị Kinh doanh

Tài chính - Ngân hàng

Kế toán

Ngôn ngữ Anh

Công nghệ Thông tin (IT)

Đào tạo Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh viên UEF có cơ hội lựa chọn học 1 hoặc 2 năm cuối theo chương trình hợp tác với những trường Đại học Quốc tế uy tin tại nước ngoài và nhận bằng cấp quốc tế từ các nền giáo dục tiên tiến như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc... 

Chương trình Chuyển tiếp (2 năm đầu UEF - 2 năm cuối tạo các trường Quốc tế khác)

Chương trình đạo tạo Song ngữ

Chương trình Quốc tế (Du học tại chổ - Sinh viên được đào tạo theo chương trình nước ngoài ngay tại Việt Nam).

Hệ thống Khoa - Ngành[sửa | sửa mã nguồn]

Quản trị kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Quản tri kinh doanh là hành vi quản trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trình và tối đa hóa "hiệu suất", "quản lý hoạt động kinh doanh" bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý.

Tài chính - Ngân hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tài chính ngân hàng là kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ thông qua ngân hàng và các công cụ tài chính được ngân hàng phát hành nhằm bảo lãnh, thanh toán, chi trả trong nội địa và quốc tế.

Kế toán[sửa | sửa mã nguồn]

Kế toán là là công việc ghi chép, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động tài chính của một tổ chức, một doanh nghiệp, một cơ quan nhà nước, một cơ sở kinh doanh tư nhân.

Công nghệ thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

Công nghệ thông tin (IT – Information Technology) là một thuật ngữ bao gồm phần mềm, mạng lưới internet, hệ thống máy tính sử dụng cho việc phân phối và xử lý dữ liệu, trao đổi, lưu trữ và sử dụng thông tin dưới hình thức khác nhau.

Ngôn ngữ Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Anh là ngành học nghiên cứu về các phương pháp học tập loại ngôn ngữ phổ biến là tiếng Anh, đồng thời đây còn là ngành học nghiên cứu về lịch sử, con người, văn hóa của các quốc gia, dân tộc sử dụng tiếng Anh trên thế giới.

Luật Kinh Tế[sửa | sửa mã nguồn]

Luật kinh tế là một bộ phận của pháp luật về kinh tế, là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau

Marketing[sửa | sửa mã nguồn]

Marketing là một hình thức không thể thiếu trong kinh doanh, bao gồm tất cả các hoạt động hướng tới khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ thông qua quá trình tiếp thị sản phẩm, phát triển thương hiệu.

Kinh doanh Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh doanh Quốc tế là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhóm ngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiến thuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia. 

Thương mại điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại điện tử là quá trình tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại thông qua những phương tiện điện tử hiện đại. Về bản chất, thương mại điện tử không thay đổi so với các hoạt động thương mại truyền thống. Tuy nhiên, bằng các phương tiện điện tử mới, các hoạt động giao dịch, mua bán, quảng bá được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng phạm vi kinh doanh. 

Quản trị khách sạn[sửa | sửa mã nguồn]

Quản trị khách sạn là các hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động của khách sạn một cách hiệu quả và hợp lý bao gồm các công việc: lên kế hoạch làm việc cụ thể, khoa học cho từng bộ phận và phân công, đôn đốc nhân viên thực hiện đúng kế hoạch; lập các báo cáo kết quả tài chính, lập ra quy tắc trong việc quản lý nhân sự, quản lý tỷ lệ phòng bán ra và phòng còn trống, quản lý việc chế biến thực phẩm

Quan hệ công chúng (PR)[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ công chúng (PR) được hiểu là việc thực hiện các công việc, chiến lược cụ thể nhằm thiết lập cầu nối giữa tổ chức, doanh nghiệp với cộng đồng, khách hàng (hiện tại và tiềm năng), nhà đầu tư, giới truyền thông... nhằm định hình, khẳng định tên tuổi, thương hiệu sản phẩm hoặc đơn vị trong toàn bộ hoạt động và tiến trình phát triển.

Quản trị Nhân lực[sửa | sửa mã nguồn]

Quản trị nhân lực là nghệ thuật chọn lựa những nhân viên mới và sử dụng những nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt tới mức tối đa có thể được

Quản trị dịch vụ lữ hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành gồm các hoạt động thiết kế, xây dựng chiến lược phát triển du lịch, quản lý và điều hành du lịch, tổ chức sự kiện du lịch, phân công công việc cho các hướng dẫn viên du lịch, tiếp nhận thông tin để phối hợp với các bộ phận, cơ quan chức năng giải quyết phát sinh trong lĩnh vực du lịch

Quan hệ quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Luật Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà hàng dịch vụ ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Khuôn viên trường học[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính tọa lạc tại trung tâm thành phố với diện tích xây dựng hơn 10.000 m2, gồm 16 tầng nổi và 2 tần hầm chung với cơ sở vật chất và tiện nghi học tập vượt trội

- Kiến trúc hiện đại và khác biệt

- Hệ thống phòng học, phòng máy, phòng mô phỏng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến

- Thư việc truyền thống và digital

- Trung tâm văn thể mỹ chuyên nghiệp và hiện đại

- Khu tự học - nghỉ ngơi - giải trí 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Đầu tư trường ĐH-CĐ: Nặng kinh doanh, nhẹ chất lượng”Hay sau nhiều năm gắng gượng, trong năm 2014, các nhà đầu tư của Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TPHCM (UEF) phải sang tay cho chủ mới là CTCP Đầu tư phát triển giáo dục Hutech, với mức giá chuyển nhượng gần 200 tỷ đồng. Vào thời điểm đó, Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TPHCM là trường ngoài công lập có học phí lên đến gần 80 triệu đồng/năm, và hầu như năm nào việc tuyển sinh cũng chưa đạt 50% chỉ tiêu. 
  2. ^ “Báo cáo công khai của trường”. 
  3. ^ “Người Việt đang “mê” đa cấp thay vì “say” khởi nghiệp!?”"Có một sự liên hệ mật thiết giữa kinh doanh đa cấp và khởi nghiệp, nhưng nếu so sánh về giá trị cho xã hội mà khởi nghiệp và đa cấp tạo ra, chúng ta có thể thấy rõ sự khập khiễng này."