Trường Đại học Thủy lợi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Thủy lợi
Logo-Thuy Loi.png
Tên gọi khác Học viện Thủy lợi Điện lực (tên cũ)
Thành lập 1959
Loại hình Đại học công lập
Hiệu trưởng GS TS Nguyễn Quang Kim
Địa chỉ Số 175 Tây Sơn, Q. Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
Website http://tlu.edu.vn/

Trường Đại học Thủy lợi (tiếng Anh: Thuyloi University) là một trường đại học công lập ở Việt Nam, chuyên ngành đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chủ yếu trong các ngành khoa học, kỹ thuật, kinh tế và quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực thủy lợi, môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai... tại Việt Nam. Trường trở thành thành viên thứ 16 của ESCAP (Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc) từ năm 1988.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Trường là Học viện Thủy lợi Điện lực được thành lập năm 1959. Tháng 1 năm 1963, Học viện Thủy lợi Điện lực chia thành 4 đơn vị là Trung cấp điện, Trung cấp Thủy lợi, Viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi và Trường Đại học Thủy lợi. Ban đầu, Trường có 3 ngành đào tạo: Thủy công, Thủy nông, Thủy văn. Các phòng thí nghiệm được lắp đặt: Sức bền vật liệu, Thủy lực, Thủy công, Thủy điện, Cơ đất... Năm 1965 nhà hành chính được xây dựng hoàn thành, với nhiều phòng học và phòng thí nghiệm phục vụ giảng dạy. Cũng trong năm này, trường mỡ thêm ngành Thủy điện (khoá 7).

Tháng 6 năm 1965, trường sở sơ tán lên vùng núi xã Nghĩa Phương, thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Năm 1966, mở thêm ngành Cơ khí Thủy lợi (khoá 8). Năm 1967 mở thêm ngành Thi công (khoá 9). Năm 1970, trường sở trở về Hà Nội, nhưng đến năm 1972, một lần nữa lại sơ tán lên Việt Yên, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và một số nơi khác. Năm 1973, trường sở lại về Hà Nội.

Từ năm 1975 trở đi, Trường đã sắp xếp tổ chức lại ngành nghề đào tạo theo hướng diện rộng, chuyên môn hoá hợp lý bao gồm:

  • Công trình Thủy lợi;
  • Thủy văn và Kỹ thuật môi trường;
  • Thủy năng và Trạm Thủy điện;
  • Thủy nông và Cải tạo đất;
  • Cơ khí Thủy lợi;
  • Kinh tế Thủy lợi.

Năm 1979, trường được chính thức công nhận là một cơ sở đào tạo Sau đại học. Đây cũng là giai đoạn Nhà trường phát triển mối quan hệ những mối quan hệ quốc tế có hiệu quả với nhiều trường ở Liên Xô (cũ) với các nước Đông Âu, Lào, Ấn Độ, Hà Lan...

Ngày 8 tháng 12 năm 1986, Trung tâm kết hợp đào tạo - nghiên cứu khoa học và thực hành khoa học kỹ thuật Thủy lợi tại Nam Bộ được thành lập trên cơ sở Đoàn Quy hoạch - Khảo sát và Thiết kế thủy lợi Nam Bộ. Ngày 25 tháng 2 năm 1997, Trường Đại học Thủy lợi tiếp nhận Trung tâm, và chuyển đổi thành cơ sở 2 đào tạo theo Quyết định số 288NN-TCCB/QĐ của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và giữ tên gọi đó cho đến hiện nay[1].

Hiện tại, Trường Đại học Thủy lợi với 9 ngành 20 chuyên ngành nhằm phủ kín nội dung hoạt động về kỹ thuật tài nguyên nước ở Việt Nam. Dù là một trường chuyên ngành nhưng việc đào tạo của nhà trường đã đang bắt đầu mang tính liên ngành đa lĩnh vực.

Tiềm lực[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Thuỷ lợi là trường đại học công lập có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong các ngành khoa học, kỹ thuật, kinh tế và quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực thuỷ lợi, môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững Tổ quốc Việt Nam [2].

Nhà trường luôn tạo điều kiện cho các giáo viên trẻ đi học thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài bằng các nguồn vốn: ngân sách, tài trợ của các dự án, hợp tác giữa các trường. Từ nay đến 2010 hàng năm có thể có từ 20 đến 30 người được đi học nước ngoài. Tất cả các giáo viên của trường đang học thạc sĩ, tiến sĩ trong nước đều phải gửi đi học ở nước ngoài ít nhất 1 năm, để tăng cường vốn ngoại ngữ và kinh nghiệm tổ chức học tập, giảng dạy của nước ngoài. Những ngưòi đã học trên đại học trong nước, trường có kế kế hoạch cho đi thực tập nước ngoài từ 1 năm trở lên.

Cán bộ giáo viên của trường tham gia nhiều hội đồng khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ hay cấp ban, tiểu ban tư vấn, kiểm tra, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các đề tài khoa học công nghệ (KHCN), được nhiều tổ chức trong và ngoài nước đánh giá cao.

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trường chỉ rõ mục tiêu đối với đội ngũ giảng viên đạt các chuẩn:

  • Tỉ lệ cán bộ giảng dạy/sinh viên 1:15
  • Trình độ: 55% trình độ thạc sĩ, 40% tiến sĩ, số lượng này đều có khả năng giảng dạy và giao tiếp bằng tiếng Anh.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến nay, về cơ sở vật chất nhà trường hiện có: 9,78 ha khuôn viên; 6700 m² và cơ sở mới tại Hưng Yên. phòng học; 27 cơ sở thí nghiệm thực hành với 5713 m²; 8900 m² ký túc xá; 1089 m² thư viện; 8222 m² giáo dục thể chất. Các hạng mục công trình luôn được nâng cấp và xây mới theo quy hoạch tổng thể của trường.

Phòng học và phòng thí nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có trên 50 phòng học, 2 hội trường lớn sức chứa 1000 người, âm thanh ánh sáng hiện đại. Nhà trường đã đầu tư xây dựng được 9 giảng đường chuyên dùng, lắp tổng cộng trên 100 chiếc bảng di động và màn chiếu tại giảng đường, các khoa được trang bị máy chiếu phục vụ kịp thời cho công tác cải tiến giảng dạy đạt hiệu quả cao. Có khu thí nghiệm thủy lực hiện đại, 10 phòng thí nghiệm độc lập, 6 cơ sở thí nghiệm khác. Những thiết bị mới được trang bị trong những năm gần đây đều đạt hiệu suất sử dụng cao, phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất, đặc biệt phòng thí nghiệm địa kỹ thuật đã được cấp giấy chứng nhận LAS[cần dẫn nguồn] tạo điều kiện thuận lợi trong việc hoạt động khoa học công nghệ của Nhà trường.

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Được đưa vào sử dụng từ giữa năm 2006, thư viện trường Đại học Thủy lợi rộng 2294 m² được đầu tư lớn về trang thiết bị, máy móc đang nhanh chóng phát triển theo hướng tin học hoá, hiện đại hoá. Là một bộ phận hữu cơ trong cơ cấu tổ chức đào tạo của Nhà trường, phục vụ quá trình đào tạo sinh viên Đại học, Cao học và Nghiên cứu sinh; góp phần phục vụ đào tạo lại; nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, hiện Thư viện có khoảng 40.000 đầu sách các loại, trên 50 đầu báo, tạp chí cùng hơn 70 máy tính cấu hình cao, với đường truyền Internet ADSL phục vụ cho các nhu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ, giáo viên, sinh viên.

Ký túc xá[sửa | sửa mã nguồn]

Khu ký túc xá gồm có 2 toà nhà 11 tầng với 300 phòng trang bị hiện đại và 4 dãy nhà 3 tầng gồm 270 phòng ở có đủ điều kiện sử dụng tốt. Trong phòng có giường tầng, công trình phụ khép kín. Nguồn điện nước và các dịch vụ hỗ trợ đầy đủ, hợp lý, thuận tiện cho học viên từ các tỉnh xa về học tập tại trường. Đời sống tinh thần của học viên, sinh viên phong phú với các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ. Môi trường xã hội lành mạnh ổn định, trật tự an toàn kỷ cương được đảm bảo tốt giúp học viên yên tâm học tập và công tác.

Khu Giáo dục thể chất[sửa | sửa mã nguồn]

Khu Giáo dục thể chất là một quần thể hiện đại đa chức năng với sân bóng, bể bơi, sân tennis, nhà thi đấu... thường xuyên mở cửa cho gần 200.000 lượt sinh viên, cán bộ học tập và rèn luyện sức khoẻ mỗi năm. Hiện nay nhà thi đấu đa năng đang được gấp rút hoàn thành.

Trung tâm Tin học[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện công tác tin học hoá toàn trường, quản trị và điều hành hạ tầng mạng và các hệ thống thông tin, quản trị điều hành chính chính tin học trong trường. Với 5 phòng máy, mỗi phòng gần 100 máy tính có thể truy cập Internet, trung tâm tin học đáp ứng tốt nhu cầu học tập của sinh viên và là nơi triển khai các chương trình thuộc các dự án liên kết đào tạo giữa trường Đại học Thủy lợi với các tổ chức trong và ngoài nước.

  • Cơ sở hạ tầng mạng: Trường Đại học Thủy lợi đã xây dựng được một hệ thống mạng nội bộ mạnh với hệ thống mạng lõi campus chủ yếu là thiết bị của Cisco tốc độ #Gigabit trên giây|Mbps]], có trên 100 switches và gần 1000 nút mạng. Hệ thống kết nối Internet trực tiếp (leaseline) 40 Mbps phục vụ hệ thống Portal, e-mail và hệ thống bài giảng trực tuyến và đường truyền Internet gián tiếp, ADSL phục vụ nhu cầu khai thác Internet của toàn thể cán bộ, giáo viên và sinh viên nhà trường.

Trạm Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trạm y tế có 4 phòng, 2 giường, 1 bàn khám bệnh và đầy đủ trang thiết bị cho một trạm y tế. Đây là nơi quản lý hồ sơ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, định kỳ và theo dõi sức khoẻ lâu dài cho hàng ngàn lượt sinh viên và cán bộ công nhân viên trường mỗi năm. Ngoài ra hàng năm trạm y tế còn phối hợp và kết hợp với trạm y tế dự phòng thành phố Hà Nội, quận Đống Đa và phường Trung Liệt phát động nhiều phong trào phòng tránh dịch bệnh, giữ vệ sinh chung và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường.

Hạ tầng cơ sở đóng góp một vai trò hết sức quan trọng vào bề dày gần 50 năm phát triển của Trường Đại học Thủy lợi. Cơ sở vật chất ngày một đầy đủ, khang trang, sạch đẹp hơn, từng thế hệ sinh viên trưởng thành từ mái trường này tự hào về Trường Đại học Thủy lợi, ngôi trường không ngừng đổi mới để hội nhập.

Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, trường Đại học Thủy lợi đang đào tạo gần 10.000 sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh mỗi năm, trong đó:

Hệ Đại học
  • 3700 sinh viên chính quy;
  • 700 sinh viên tại chức;
  • Hàng trăm kỹ sư bằng hai;
  • Trên 300 sinh viên hệ cử tuyển và cao đẳng
  • Các chuyên ngành đào tạo đại học tại Hà Nội bao gồm
  1. Kỹ thuật công trình thủy
  2. Kỹ thuật công trình xây dựng
  3. Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
  4. Công nghệ kỹ thuật xây dựng
  5. Quản lý xây dựng
  6. Kỹ thuật tài nguyên nước
  7. Kỹ thuật trắc địa-bản đồ
  8. Kỹ thuật công trình biển
  9. Kỹ thuật cơ sở hạ tầng
  10. Cấp thoát nước
  11. Kỹ thuật cơ khí (chuyên ngành máy xây dựng, cơ khí ô tô)
  12. Kỹ thuật điện, điện tử (chuyên ngành Hệ thống điện, Tự động hóa)
  13. Kỹ thuật môi trường
  14. Thủy văn
  15. Công nghệ thông tin
  16. Hệ thống thông tin
  17. Kỹ thuật phần mềm
  18. Quản trị kinh doanh
  19. Kế toán
  20. Kinh tế
  21. Kỹ thuật hóa học
  • Chương trình tiên tiến đào tạo bằng tiếng Anh:
  1. Kỹ thuật xây dựng
  2. Kỹ thuật tài nguyên nước 
  • Các chuyên ngành đào tạo đại học tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:
  1. Kỹ thuật công trình thủy
  2. Kỹ thuật công trình xây dựng
  3. Công nghệ kỹ thuật xây dựng
  4. Kỹ thuật tài nguyên nước
  5. Cấp thoát nước
  6. Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
  7. Kế toán
  8. Công nghệ thông tin
Hệ sau Đại học
  • 100 - 200 học viên cao học;
  • 10 - 20 nghiên cứu sinh
  • Các chuyên ngành đào tạo sau đại học
  1. Kỹ thuật Công trình thủy;
  2. Địa kỹ thuật xây dựng;
  3. Quản lý xây dựng;
  4. Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp;
  5. Kỹ thuật tài nguyên nước;
  6. Kỹ thuật cơ sở hạ tầng;
  7. Khoa học môi trường;
  8. Kỹ thuật môi trường;
  9. Thủy văn học;
  10. Quản lí tài nguyên và môi trường;
  11. Kỹ thuật cơ khí;
  12. Kỹ thuật xây dựng công trình biển;
  13. Kỹ thuật điện;
  14. Công nghệ thông tin;
  15. Quản lí kinh tế;
  16. Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông;
  17. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (cao học quốc tế);
  18. Kỹ thuật công trình biển và Quản lý tổng hợp vùng bờ (Cao học quốc tế);
  19. Quản lý và giảm nhẹ thiên tai (Cao học quốc tế).

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Khuôn viên trường Đại học Thủy lợi, Nhà A1
Nhà A1 - Khu văn phòng giáo viên
Trong khuôn viên trường

Năm 2004 nhà trường đã ban hành chương trình đào tạo của 9 ngành với 19 chuyên ngành với tổng số giờ là 270 đơn vị học trình.

Trường bao gồm các khoa sau:

  • Khoa Kỹ thuật Công trình;
  • Khoa Công nghệ thông tin;
  • Khoa Thủy văn và Tài nguyên nước;
  • Khoa Môi trường;
  • Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước;
  • Khoa Cơ khí;
  • Khoa Thủy điện và Năng lượng tái tạo;
  • Khoa Kinh tế và Quản lý;
  • Khoa Kỹ thuật Biển;
  • Khoa Kỹ thuật Cơ sở hạ tầng;
  • Khoa Lý luận chính trị;
  • Khoa Tại chức.


Danh hiệu[3][sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Hồ Chí Minh (2004)
  • Huân chương Độc lập hạng ba (1989), hạng nhì (1978), hạng nhất (1999 và 2009)
  • Huân chương Lao động hạng nhất (1984), hạng nhì (1978), hạng ba (1960 và 1976)
  • Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (2000)
  • Huân chương lao động hạng Nhất do nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng năm 2000 và 2008

Hiệu trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kỹ sư Trần Đăng Khoa (bộ trưởng), Giám đốc Học viện Thủy lợi – Điện lực, 1959-1963;-Nguyên Bộ trưởng Bộ GTVT,Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Thủy Lợi
  • Đào Văn Trịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1963-1970;
  • Nguyễn Đình Thâu, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1970-1973;
  • GS. TS Nguyễn Văn Cung., Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1974-1981;-Nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi
  • GS. TS. Nguyễn Xuân Bảo, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1981-1999;
  • GS. TS. Lê Kim Truyền, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 2000-2005;
  • GS. TS. Đào Xuân Học, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 2005-2008;-Nguyên Thứ trưởng Bộ NN và PTNT
  • GS. TS. Nguyễn Quang Kim, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 2008-

Ban giám hiệu hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • GS.TS. Nguyễn Quang Kim: Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy;
  • GS.TS. Trịnh Minh Thụ: Phó hiệu trưởng.
  • PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái: Phó Hiệu trưởng
  • PGS.TS. Trần Viết Ổn: Phó Hiệu trưởng;
  • PGS.TS. Nguyễn Trung Việt: Phó hiệu trưởng;

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]