Trịnh Điền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trịnh Điền (giản thể: 郑畋; phồn thể: 鄭畋; bính âm: Zhèng Tián, 821?[1]/825?[2]-883?[chú 1]), tên tự Đài Văn (臺文), gọi theo thụy hiệu làHuỳnh Dương Văn Chiêu công,[3] là một quan lại vào cuối thời nhà Đường, từng hai lần giữ chức tể tướng dưới triều đại của Đường Hy Tông. Ông tham gia nhiều vào chiến dịch trấn áp cuộc nổi dậy của Hoàng Sào.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu giả định Trịnh Điền mất năm 883, ông có thể sinh năm 821[1] hoặc 825.[2] Gia tộc của ông có nguồn gốc từ Huỳnh Dương[chú 2], chỉ có thể truy nguyên xa đến kị của ông là Trịnh Thiểu Lân (鄭少鄰)- Trịnh châu tư sĩ tham quân.[4] Trịnh Thiểu Lân cũng như ông của Trịnh Điền là Trịnh Mục (鄭穆) và cha của Trịnh Điền là Trịnh Á (鄭亞), đều thi đỗ Tiến sĩ,[2] và trong khi Trịnh Mục giữ đến chức [huyện] lệnh,[4] Trịnh Á nổi tiếng với tài năng của bản thân rồi trở thành một thân tín của Lý Đức Dụ- người có quyền lực rất lớn dưới triều đại của Đường Vũ Tông, và từng giữ chức Chính nghị đại phu.[2] Ngoài Trịnh Điền, Trịnh Á còn có hai người con nhỏ tuổi hơn là Trịnh Tuấn (鄭畯) và Trịnh Bì (鄭毗).[4]

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Điền thi đỗ Tiến sĩ vào năm 18 tuổi âm, sau đó ông phụng sự dưới quyền Tuyên Vũ[chú 3] tiết độ sứ, chức quan đến Bí thư tỉnh, Hiệu thư lang. Vào năm 22 tuổi âm, trong Lại bộ điều tuyển, ông thể hiện được tài năng xuất chúng trong thư pháp và phán đoán, được nhậm chức Vị Nam[chú 4] úy trực, sử quán sự. Tuy nhiên, trước khi có thể đảm nhiệm các vị trí này, vào năm 847, do có quan hệ với Lý Đức Dụ- người thất thế dưới thời Đường Tuyên Tông, Trương Á bị giáng làm Quế châu[chú 5] thứ sử, Trịnh Điền theo cha đến Quế châu, cha ông qua đời ở đó.[2] Trong thời gian Đường Tuyên Tông trị vì, triều đình nằm dưới quyền chi phối của Đồng bình chương sự Bạch Mẫn Trung (白敏中) và sau đó là Lệnh Hồ Đào (令狐綯), cả hai đều không ưa Lý Đức Dụ, và Trịnh Điền không giữ chức quan triều đình nào trong một thời gian dài.[2]

Thời Đường Ý Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm Hàm Thông (860-874) thời Đường Ý Tông, sau khi Lệnh Hồ Đào rời khỏi triều đình Trường An đến nhậm chức ở phiên trấn, Hà Đông[chú 6] tiết độ sứ Lưu Chiêm (劉瞻) mời Trịnh Điền đến làm tòng sự cho mình. Sau đó, Trịnh Điền được triệu hồi về Trường An giữ chức Ngu bộ viên ngoại lang. Tuy nhiên, hữu thừa Trịnh Huân (鄭薰) vốn thuộc đảng của Lệnh Hồ Đào, người này ngăn cản Trịnh Điền nhậm chức hành sự khi vu cáo Trịnh Điền, Trịnh Điền lại phải rời khỏi Trường An đi làm tòng sự.[1][2] Đến năm 864, Trịnh Điền lại được triệu hồi về Trường An để nhậm chức Hình bộ viên ngoại lang.[2]

Sau khi Lưu Chiêm trở thành Đồng bình chương sự vào năm 869, ông ta tiến cử Trịnh Điền, Trịnh Điền do vậy được thăng chức làm Hàn lân học sĩ, Hộ bộ lang trung. Trịnh Điền ngay sau đó cũng chịu trách nhiệm soạn thảo các sắc lệnh, và được trao chức Trung thư xá nhân. Trong chiến dịch trấn áp cuộc nổi dậy của Bàng Huân, Trịnh Điền phần lớn soạn thảo các sắc lệnh liên quan đến việc quân, và theo ghi chép thì các đồng sự ngưỡng mộ ông vì tốc độ viết và nét chữ tinh tế. Ông tiếp tục được thăng chức Hộ bộ thị lang, và sau khi cuộc nổi dậy của Bàng Huân bị dập tắt, ông giữ thêm chức Hàn Lâm học sĩ thừa chỉ.[2]

Năm 870, sau khi con gái là Đồng Xương công chúa qua đời, Đường Ý Tông thương tiếc công chúa nên đã hành quyết các hàn lâm y quan không thể cứu chữa cho công chúa, và bắt giữ khoảng 300 thành viên trong gia tộc của họ. Lưu Chiêm cố gắng can thiệp giúp họ và khiến Đường Ý Tông tức giận. Do Đồng bình chương sự Lộ Nham và phò mã Vi Bảo Hành vu cáo, Lưu Chiêm bị đưa đi lưu đày. Khi Trịnh Điền nhận được lệnh soạn thảo chiếu chỉ tuyên bố việc Lưu Chiêm phải đi lưu đày, ông đã sử dụng ngôn từ mà bề ngoài là trách tội Lưu Chiêm song thực ra là ca ngợi. Lô Nham do đó đã lệnh đày ải Trịnh Điền và giáng ông làm Ngô châu[chú 7] thứ sử.[2][5]

Thời Đường Hy Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Làm Đồng bình chương sự lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Ý Tông qua đời năm 873, kế vị là Đường Hy Tông,[5] Trịnh Điền dần chuyển đến gần kinh sư hơn — đầu tiên là đến Sâm châu [chú 8] và sau đó là đến Giáng châu[chú 9]. Sau đó, ông được triệu hồi về Trường An giữ chức Hữu tán kị thường thị.[1]

Năm 874, Lại bộ thị lang Trịnh Điền được bổ nhiệm giữ chức Binh bộ thị lang, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Đồng bình chương sự.[5] Vào thời điểm đó, theo như thông thường thì Nam binh[chú 10] được tiếp tế lương thực từ năm đạo ở phía bắc, việc tiếp tế được tiến hành bằng đường biển và thường xuyên xảy ra tai nạn đắm tàu gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo đề xuất của Trịnh Điền, chức Lĩnh Nam diêm-thiết chuyển vận sứ chuyển giao cho Lĩnh Nam Đông đạo tiết độ sứ Vi Hà (韋荷), người này được quyền nấu nước biển lấy muối để bán, sau đó dùng số tiền thu được để mua lương thực từ các châu ở phía nam của Giang Tây[chú 11]. Theo ghi chép thì sau đó nguồn cung cấp thực phẩm cho Nam binh trở nên đầy đủ hơn. Kế tiếp, Lĩnh Nam cung quân phó sứ Vương Sư Phủ (王師甫) thỉnh được kiêm chức tổng binh và hứa sẽ dâng cho triều đình mỗi năm 20 vạn xâu tiền, Trịnh Điền cho rằng Sư Phủ dùng lợi để dụ triều đình nhằm mưu đoạt binh lính của Vi Hà. Kết quả là Vương Sư Phủ bị bãi chức, còn Trịnh Điền được phong tước Huỳnh Dương quận hầu.[1]

Năm 876, phần trung tâm và nam của Đại Đường bị nhấn chìm trong các cuộc khởi nghĩa nông dân, trong đó có cuộc nổi dậy của Vương Tiên Chi. Các đề xuất của Trịnh Điền nhằm ứng phó với cuộc nổi dậy phần lớn bị lờ đi. Do vậy, ông xin từ vị, song Đường Hy Tông không chấp thuận.[5] Năm 877, xảy ra tranh chấp giữa Trịnh Điền với đồng cấp là Vương ĐạcLô Huề, Vương Đạc và Lô Huề muốn Trương Tự Miễn (張自勉) nằm dưới quyền chỉ huy của Tống Uy (宋威), song Trịnh Điền phản đối vì sợ Tống Uy sẽ lạm quyền mà giết chết Tự Miễn. Do hai bên mâu thuẫn gay gắt, Vương Đạc và Lô Huề thượng biểu xin được bãi miễn chức vị, còn Trịnh Điền thượng biểu được về dưỡng bệnh, Đường Hy Tông đều không cho phép.[6] (Mẹ của Trịnh Điền và của Lô Huề là tỉ muội của nhau).[7]

Năm 878, Trịnh Điền và Lô Huề lại xảy ra tranh chấp lớn, lần này là việc gả một công chúa Đại Đường cho hoàng đế Nam Chiếu (lúc này có quốc hiệu "Đại Phong Dân") là Long Thuấn để kết "hòa thân" giữa hai bên, theo đề xuất của tiết độ sứ Cao Biền. Lô Huề ủng hộ "hòa thân", trong khi Trịnh Điền phản đối. Trong lúc tranh luận, Lô Huề đã ném một nghiên mực xuống nền nhà, khiến nó bị vỡ. Khi Đường Hy Tông hay tin thì nói: "Đại thần mắng nhiếc lẫn nhau, sao có thể làm gương cho tứ hải?" Do vậy, cả Trịnh Điền và Lô Huề đều bị bãi chức 'Đồng bình chương sự', giáng làm 'thái tử tân khách'[chú 12] và phái đến đông đô Lạc Dương, thay thế họ là Đậu Lô TriệnThôi Hàng.[6]

Phượng Tường tiết độ sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau khi bị cách chức, Trịnh Điền được triệu hồi về Trường An giữ chức Lại bộ thượng thư. Năm sau, ông nhậm chức Phượng Tường[chú 13] tiết độ sứ. Trong thời gian ở Phượng Tường, ông tuyển mộ được 500 tinh binh, và theo ghi chép thì nhờ các tinh binh này mà nạn cướp bóc trong quân giảm bớt.[1]

In 880, thủ lĩnh nổi dậy Hoàng Sào công chiếm kinh sư Trường An, Đường Hy Tông chạy hướng đến Thành Đô. Tên đường đi, Hoàng đế có qua Lạc Cốc[chú 14], Trịnh Điền đã chắn đường và khẩn cầu Hoàng đế không rời khỏi vùng lân cận Trường An, mời Hoàng đế đến Phượng Tường. Tuy nhiên, Đường Hy Tông sợ Hoàng Sào sẽ tiếp tục tiến công nên từ chối, và nói giao cho Trịnh Điền chịu trách nhiệm phòng thủ chống Hoàng Sào tiếp tục tiến công. Theo đề nghị của Trịnh Điền, Đường Hy Tông trao cho Trịnh Điền quyền được tự mình hành động.[8]

Khi Trịnh Điền trở lại Phượng Tường, binh lính Phượng Tường lo sợ sẽ bị Hoàng Sào tiến công, và do đó xuất hiện những lời rì rầm rằng Trịnh Điền nên quy phục Hoàng Sào. Hoàng Sào xưng là hoàng đế Đại Tề, và phái sứ giả đến Phượng Tường tuyên bố đại xá. Trịnh Điền từ chối gặp sứ giả của Tề, thay vào đó thề nguyện cùng các binh lính rằng sẽ bảo vệ Đường. Tại thời điểm đó, có nhiều cấm binh không thể kịp theo Hoàng đế đến Thành Đô, Trịnh Điền đã gọi họ đến Phượng Tường và hợp nhất và đội quân của ông, dùng tài sản của mình để úy lạo họ. Khi Hoàng Sào tiếp tục phái bộ tướng Vương Huy (王暉) đến Phượng Tường để thuyết phục Trịnh Điền quy phục, Trịnh Điền liền chém đầu Vương Huy. Sau đó, Đường Hy Tông lại ban cho Trịnh Điền chức Đồng bình chương sự, và Kinh thành tứ diện chư quân hành doanh đô thống.[8]

Vào mùa xuân năm 881, Hoàng Sào khiển bộ tướng Thượng Nhượng và Vương Bá (王播) suất quân tiến công Phượng Tường. Quân Tề xem Trịnh Điền là quan văn không biết gì về việc quân sự, vì thế không đề phòng chặt chẽ. Trịnh Điền phản công cùng đồng minh là Đường Hoằng Phu (唐弘夫), đại thắng quân Tề ở Long Vĩ pha[chú 15]. Sau đó, Trịnh Điền truyền hịch kêu gọi binh lính toàn Đại Đường tiến công Đại Tề. Theo ghi chép thì nhờ tuyên bố của Trịnh Điền mà người dân Đại Đường mới biết rằng Đường Hy Tông vẫn còn sống.[8]

Vào mùa hè năm 881, liên quân Trịnh Điền, Đường Hoằng Phu, Trình Tông Sở (程宗楚), Vương Trọng Vinh, Vương Xử Tồn, và Thác Bạt Tư Cung cùng kéo về Trường An, Hoàng Sào bỏ thành. Tuy nhiên, sau khi quân Đường tiến vào Trường An, họ bắt đầu cướp phá kinh thành, đến nỗi bị sa lầy. Quân Tề sau đó phản công, giết Trình Tông Sở và Đường Hoằng Phu, các đội quân Đường khác tổn thất lớn, và họ buộc phải từ bỏ Trường An, kinh sư lại về tay quân Tề.[8]

Do hậu quả của chiến dịch, các kho của Phượng Tường trở nên cạn kiệt. Đến mùa đông năm 881, Phượng Tường hành quân tư mã Lý Xương Ngôn- đang đóng quân tại Hưng Bình[chú 16], tiến hành kích động các binh lính và dẫn họ về Phượng Tường để tiến công Trịnh Điền. Trịnh Điền không muốn thấy cảnh binh lính Đường chém giết lẫn nhau nên đã đầu hàng và chạy đến Thành Đô. Khi Trịnh Điền đến Phượng châu[chú 17], ông dâng biểu cho Đường Hy Tông để xin từ vị. Đường Hy Tông hạ chiếu bổ nhiệm Lý Xương Ngôn là Phượng Tường tiết độ sứ, cho Trịnh Điền làm Thái tử thiếu phó, văn phòng tại đông đô Lạc Dương.[8]

Đồng bình chương sự lần hai[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa xuân năm 882, Đường Hy Tông triệu Trịnh Điền đến Thành Đô, trao cho Trịnh Điền các chức vụ Tư đồ, Môn hạ thị lang, Đồng bình chương sự.[8] Mặc dù triều đình đang lưu vong, Trịnh Điền vẫn kiên quyết tuân theo nguyên tắc — như vào năm 883, Trịnh Điền đã mắng Tả Thần sách trung úy Điền Lệnh Tư và Tây Xuyên[chú 18] tiết độ sứ Trần Kính Tuyên khi ông từ chối yêu cầu của Điền Lệnh Tư là thăng chức cho thân tín Ngô Viên (吳圓) và Trần Kính Tuyên thì muốn có chức quan cao hơn. Do đó, Điền Lệnh Tư và Trần Kính Tuyên đã xúi giục Lý Xương Ngôn thượng ngôn sẽ không cho Trịnh Điền qua Phượng Tường khi triều đình trở về Trường An, Trịnh Điền đành xin từ vị. Đường Hy Tông giáng Trịnh Điền làm Thái tử thái bảo.[9] Con của ông là Binh bộ thị lang Trịnh Ngưng Tích (鄭凝積) được bổ nhiệm giữ chức Bành châu[chú 19] thứ sử, Trịnh Điền theo đến Bành châu dưỡng bệnh.[1][9] Ông qua đời ngay sau đó.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo liệt truyện về Trịnh Điền trong Cựu Đường thư, quyển 178 và Tân Đường thư, quyển 185 ông qua đời một thời gian ngắn sau khi đến Bành châu để dưỡng bệnh sau khi bị bệnh vào năm 883. Năm 885, Đường Hy Tông truy phong nhiều tước hiệu cho ông. Tân Đường thư, xem quyển 19 hạ. Cựu Đường thư ghi ông thọ 59 tuổi âm còn Tân Đường thư ghi ông thọ 63 tuổi âm.
  2. ^ 滎陽, nay thuộc Trịnh Châu, Hà Nam
  3. ^ 宣武, trị sở nay thuộc Khai Phong, Hà Nam
  4. ^ 渭南, nay thuộc Vị Nam, Thiểm Tây
  5. ^ 桂州, nay thuộc Quế Lâm, Quảng Tây
  6. ^ 河東, trị sở nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây
  7. ^ 梧州, nay thuộc Ngô Châu, Quảng Tây
  8. ^ 郴州, nay thuộc Sâm Châu, Hồ Nam
  9. ^ 絳州, nay thuộc Vận Thành, Sơn Tây
  10. ^ gồm Lĩnh Nam Đông đạo (嶺南東道, trị sở nay thuộc Quảng Châu, Quảng Đông), Lĩnh Nam Tây đạo (嶺南西道, trị sở nay thuộc Nam Ninh, Quảng Tây), và Tĩnh Hải quân (靜海, trị sở nay thuộc Hà Nội, Việt Nam)
  11. ^ 江西, trị sở nay thuộc Nam Xương, Giang Tây
  12. ^ mặc dù khi đó chưa có thái tử
  13. ^ 鳳翔, trị sở nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây
  14. ^ 駱谷, nay thuộc Tây An, Thiểm Tây
  15. ^ 龍尾陂, nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây
  16. ^ 興平, nay thuộc Hàm Dương, Thiểm Tây
  17. ^ 鳳州, nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây
  18. ^ 西川, trị sở nay thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên
  19. ^ 彭州, nay thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Tân Đường thư, quyển 185.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g Cựu Đường thư, quyển 178.
  3. ^ Cựu Đường thư, quyển 19 hạ.
  4. ^ a ă â Tân Đường thư, quyển 75
  5. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 252.
  6. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 253.
  7. ^ Tân Đường thư, quyển 184.
  8. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 254.
  9. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 255.