Văn hào lưu lạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Văn hào lưu lạc
文豪ストレイドッグス
(Bungō Sutorei Doggusu)
Thể loạiHành động, Bí ẩn, siêu nhiên[1]
Manga
Minh họaSango Harukawa
Nhà xuất bảnKadokawa Shoten
Nhà xuất bản khác
Đối tượngSeinen
Tạp chíYoung Ace
Đăng tải2012 – nay
Số tập15 (danh sách tập)
Light novel
Tác giảKafka Asagiri
Minh họaSango Harukawa
Nhà xuất bảnKadokawa Shoten
Nhà xuất bản khác
Đăng tải1 tháng 4 năm 2014 – nay
Số tập5
Anime truyền hình
Đạo diễnTakuya Igarashi
Kịch bảnYōji Enokido
Âm nhạcTaku Iwasaki
Hãng phimBones
Cấp phép
Kênh gốcTokyo MX, TVS, CTC, tvk, GBS, MTV, SUN, TVQ, BS11
Kênh khác
Phát sóng 7 tháng 4 năm 2016 – nay
Số tập24 + OVA (danh sách tập)
Phim anime
Bungo Stray Dogs: Dead Apple
Đạo diễnTakuya Igarashi
Kịch bản
  • Yōji Enokido
  • Kafka Asagiri
Âm nhạcTaku Iwasaki
Hãng phimBones
Công chiếu3 tháng 3 năm 2018
Chủ đề Anime và manga

Văn hào lưu lạc (Tiếng Nhật: 文豪ストレイドッグス Bungō Sutorei Doggusu, lit. Literary Stray Dogs) hay Bungo Stray Dogs là một bộ truyện tranh Nhật Bản được viết bởi Kafka Asagiri và minh họa bởi Sango Harukawa, được đăng trên tạp chí Young Ace từ năm 2012. Anime cùng tên được chuyển thể bởi Bones phát sóng năm 2016 gồm hai phần: phần đầu tiên phát sóng từ ngày 7 tháng 4 năm 2016 đến 6 năm 2016, phần thứ hai phát sóng từ ngày 6 tháng 10 đến ngày 22 tháng 12 năm 2016. Mùa thứ ba cũng đã được công bố. Tại Việt Nam, truyện đã được IPM mua bản quyền và phát hành từ năm 2017.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Không xửa không xưa, có một câu chuyện kì quặc cực cùng, xảy ra ở một thành phố lạ lùng, với những nhân vật lập dị…

18 tuổi, cao 1m70, nặng 55 kg

22 tuổi, cao 1m81, nặng 67 kg

22 tuổi, cao 1m89, nặng 78 kg

A, có gì lập dị với thanh xuân ngời ngời cùng những chỉ số cân đối như thế?

Có đó, khi mà tất cả đều sở hữu năng lực siêu nhiên, họ tên như các văn hào và sống một cuộc đời làm thót tim những người mơ ổn định.

Mang cái tên một nhà văn đoản mệnh, 18 tuổi lớn lên trong trại trẻ mồ côi. Trại này vẫn hoạt động tươm tất cho đến ngày ruộng vườn bị giày xéo, nhà kho bị phá hoại. Để giảm bớt miệng ăn, trại đuổi 18 tuổi đi. Cậu bé ngơ ngác dạt trôi đến Yokohama, đói quá không ai cho lương thiện nữa, cậu quyết định trấn lột người qua đường để sống sót… thì gặp 22 tuổi, mang cái tên của một nhà văn ám ảnh tự tử, đang trẫm mình dưới nước.

Từ đây, cậu sẽ gặp 22 tuổi khác có tên một tác gia lãng mạn, chuyên kè kè bên mình cuốn cẩm nang nhan đề Lý tưởng, và được họ cứu vớt trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan".

18 tuổi: Nakajma Atsushi, lấy cảm hứng từ nhà văn cùng tên.

22 tuổi: Kunikida DoppoDazai Osamu, lấy cảm hứng từ nhà văn cùng tên.

Từ buổi chiều định mệnh ấy, Atsushi đã theo chân họ đến một công ty tập hợp toàn những nhân vật cùng loại: Edogawa Ranpo, Fukuzawa Yukichi, Yosano Akiko,...họ ở trong một công ty mang tên: Công ty Thám tử vũ trang.

Từ đó, Atsushi sẽ bước chân vào thế giới với những cuộc chiến trường kì với Mafia và lũ tội phạm ngoại quốc tại thành phố ngầm Yokohama lúc chập tối, điều mà cậu trước đó có nằm mơ cậu cũng không ngờ tới.

Kì lạ nhất là quanh công ty thám tử cũng không thiếu tên họ các văn hào xưa.

Mafia? Akutagawa Ryunosuke,... có mà.

The Gulid? Edgar Allan Poe,... nhiều lắm.

Lũ chuột trong căn nhà chết? Thiên nhân ngũ suy? Fyodor Mikhailovich Dostoyevsky và đồng bọn vẵn đang bầy mưu kế đấy nhé.

...

Đó là khi văn học trở thành vũ khí, những tác phẩm kinh điển trở thành thứ năng lực siêu nhiên.

Season 1[sửa | sửa mã nguồn]

Phần 1 tập trung chủ yếu vào sự xuất hiện của Atsushi và Izumi Kyoka tới Mafia và Công ty Thám tử vũ trang và mở đầu cuộc chiến với The Guild.

Season 2[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ yếu tập trung vào cuộc chiến với Guild và phần đầu là khi Dazai vẫn còn ở trong Mafia.

Season 3[sửa | sửa mã nguồn]

Kể về cuộc chạm trán đầu tiên giữa Dazai và Chuuya Nakahara và trận đấu của Mafia, Công ty Thám tử với Fyodor Mikhailovich Dostoyevsky và lũ chuôt trong căn nhà chết.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan thám tử vũ trang[sửa | sửa mã nguồn]

Là một công ty thám tử chuyên điều tra về hành tung của Mafia và tội phạm có năng lực siêu nhiên. Hầu hết thành viên trong cơ quan đều có siêu năng lực và được lãnh đạo bởi một vị đại tướng chiến trận.

Dazai Osamu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Miyano Mamoru.

Sinh ngày: 19/ 6. Tuổi: 22( hiện tại), 15, 18( quá khứ).

Tên siêu năng lực: Thất lạc cõi người

Dazai là một trong 2 nhân vật chính của bộ chuyên. Anh thường được miêu tả là một người cao, gầy, có mái tóc nâu đậm bù xù và đôi mắt cùng màu. Trang phục thường thấy của anh là áo somi màu lam, áo vest len và áo choàng dài màu( giống) cát( không thắt đai áo) phối cùng quần dài trắng. Khi còn là Giám đốc Mafia, Dazai khoác áo choàng dài đen và somi trắng cùng với lớp băng cứu thương che đi gần như hoàn toàn phần mặt bên phải.

Được mệnh danh là cái máy dùng băng gạc, Dazai là một kẻ cuồng tự sát. Trước kia, anh thường nghĩ về nó như một cách giải thoát, bây giờ anh chỉ coi nó như một trò tiêu khiển.

Dazai là một người rất thông minh dù anh vẫn giấu nó dưới bộ mặt ngu ngơ thích tán gái và lập dị. Điển hình là nụ cười của anh, nó luôn có vẻ vô hại nếu Dazai không muốn bầy ra bản chất tàn nhẫn của mình.

Phương châm:" Tự tử tinh khiết, vui vẻ, tràn năng lượng"

Nakajima Atsushi[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Yuto Uemura

Sinh ngày: 5/5. Tuổi: 18

Tên siêu năng lực: Mãnh thú dưới trăng.

Cùng với Dazai, Atsushi cũng là nhân vật chính của bộ chuyện. Anh có màu da hơi tái, hơi gầy. Atsushi có mái tóc màu xám nhạt cùng với vệt đen trên mái tóc lệch ngôi: hậu quả mà bọn trẻ bát nạt cậu đã để lại, cùng với đôi mắt bị loạn sắc tố mống mắt có màu vàng và tím chạy dọc theo nhãn cầu. Atsushi trước khi tham gia Cơ quan mặc bộ quần áo rách do trai mồ côi phân phát, khi đã là thành viên của Cơ quan, cậu được Yosano và Kunikida đưa cho 1 cái áo somi với tay áo đẩy đến khuỷu tay, cà vạt đen lỏng lẻo, quần đen, găng tay không ngón và một chiếc đai đen lủng lẳng miêu tả đuôi hổ làm quà gia nhập.

Atsushi là trẻ mồ côi. Theo lời của hiệu trưởng trai mồ côi, cha mẹ cậu đã vứt Atsushi vào thùng rác từ khi câu còn rất nhỏ. Atsushi hoàn toàn không biết mình có dị năng khi còn ở trong trại mồ côi. Câu bị đối sử môt cách bất công, man rợ, hậu quả để lại là lòng tự trong thấp nhưng cũng chính vì thế mà cậu đã được nuôi dậy đúng cách: cậu biết cảm giác của kẻ yếu thế, biết đỡ người khác chỉ vì lời nói của hiệu trưởng: những kẻ không hữu ích không đáng được sống.

Phương châm:" Không có gì tốt hơn được sống"

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn tiểu thuyết trong bộ truyện bao gồm tiểu thuyết spin-off của Yukito AyatsujiNatsuhiko Kyougoku được viết bởi Asagiri và minh họa bởi Harukawa, đã được xuất bản bởi Kadokawa. Vào ngày 8 tháng 7 năm 2018, trong hội đồng quản trị của họ tại Anime Expo, Yen Press đã thông báo cấp phép cho light novel được phát hành.[3]

#Ngày phát hành Tiếng NhậtISBN Tiếng Nhật
1 1 tháng 4 năm 2014[4]ISBN 978-4-04-101312-0
2 1 tháng 8 năm 2014[5]ISBN 978-4-04-101713-5
3 1 tháng 5 năm 2015[6]ISBN 978-4-04-102332-7
Gaiden 30 tháng 1 năm 2016[7]ISBN 978-4-04-103730-0
4 1 tháng 10 năm 2016[8]ISBN 978-4-04-104049-2

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Asagiri Kafka và Harukawa Sango bắt đầu xuất bản bộ truyện tranh trên tờ báo Young Ace của nhà suất bản Kadokawa Shoten vào năm 2012. Kadokawa đã biên soạn một loạt thành mười hai tập tankōbon vào tháng 10 năm 2016. Tập truyện đã được cấp phép phát hành tại Bắc Mỹ bởi Yen Press.

#Tiếng NhậtTiếng Anh
Ngày phát hànhISBNNgày phát hànhISBN
1 4 tháng 4 năm 2013[9]ISBN 978-4-04-120673-720 tháng 12 năm 2016[10]ISBN 978-0-31-655470-1
2 5 tháng 8 năm 2013[11]ISBN 978-4-04-120835-921 tháng 3 năm 2017[12]ISBN 978-0-31-646814-5
3 4 tháng 12 năm 2013[13]ISBN 978-4-04-120952-320 tháng 6 năm 2017[14]ISBN 978-0-31-646815-2
4 4 tháng 4 năm 2014[15]ISBN 978-4-04-121093-219 tháng 9 năm 2017[16]ISBN 978-0-31-646816-9
5 4 tháng 8 năm 2014[17]ISBN 978-4-04-101539-119 tháng 12 năm 2017[18]ISBN 978-0-31-646817-6
6 4 tháng 12 năm 2014[19]ISBN 978-4-04-101540-710 tháng 4 năm 2018[20]ISBN 978-0-31-646818-3
7 2 tháng 5 năm 2015[21]ISBN 978-4-04-102915-226 tháng 6 năm 2018[22]ISBN 978-0-31-646819-0
8 4 tháng 9 năm 2015[23]ISBN 978-4-04-102916-918 tháng 9 năm 2018[24]ISBN 978-0-31-646820-6
9 29 tháng 12 năm 2015[25]ISBN 978-4-04-102917-6
10 4 tháng 6 năm 2016[26]ISBN 978-4-04-104283-0
11 4 tháng 10 năm 2016[27]ISBN 978-4-04-104286-1
12 4 tháng 4 năm 2017[28]ISBN 978-4-04-104287-8
13 4 tháng 8 năm 2017[29]ISBN 978-4-04-105041-5
14 4 tháng 12 năm 2017[30]ISBN 978-4-04-106394-1

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tập Tựa đề tiếng Anh[a]
Tựa đề tiếng Nhật[31]
Ngày phát hành [32]
1 "Fortune Is Unpredictable and Mutable"
"Jinsei Banji Saiō ga Tora" (人生万事塞翁が虎) 
7 tháng 4 năm 2016[b]
2 "A Certain Bomb"
"Aru Bakudan" (或る爆弾) 
14 tháng 4 năm 2016
3 "Yokohama Gangster Paradise"
"Yokohama Gyangusuta Paradaisu" (ヨコハマ ギャングスタア パラダヰス) 
21 tháng 4 năm 2016
4 "The Tragedy of the Fatalist"
"Unmeironsha no Himi" (運命論者の悲み) 
28 tháng 4 năm 2016
5 "Murder on D Street"  5 tháng 5 năm 2016
6 "The Azure Messenger"
"Ao no Shito" (蒼の使徒) 
12 tháng 5 năm 2016
7 "Love for the Disease Called Ideals"
"Risō to Iu Yamai wo Aisu" (理想という病を愛す) 
19 tháng 5 năm 2016
8 "Teaching Them To Kill; Then To Die"
"Hito wo Koroshite Shine yo tote" (人を殺して死ねよとて) 
26 tháng 5 năm 2016
9 "The Beauty Is Quiet Like a Stone Statue"
"Utsukushiki Hito wa Sabi to Shite Sekizō no Gotoku" (うつくしき人は寂として石像の如く) 
2 tháng 6 năm 2016
10 "Rashōmon and the Tiger"
"Rashōmon to Tora" (羅生門と虎) 
9 tháng 6 năm 2016
11 "First, an Unsuitable Profession for Her. Second, an Ecstatic Detective Agency"
"Sono Ichi, 'Kanojo ni Mukanai Shokugyō'. Sono Ni, 'Uchōten Tanteisha'" (其の一『彼女には向かない職業』。 其の二『有頂天探偵社』) 
16 tháng 6 năm 2016
12 "Borne Back Ceaselessly into the Past"
"Taemanaku Kako e Oshimodosare nagara" (たえまなく過去へ押し戻されながら) 
23 tháng 6 năm 2016
Season 2[sửa | sửa mã nguồn]
Tập Tựa đề tiếng Anh[c]
Tựa đề tiếng Nhật[33]
Ngày phát hành [34]
13 "The Dark Age"
"Kuro no Jidai" (黒の時代) 
6 tháng 10 năm 2016
14 "Nowhere to Return"
"Modorenai Basho" (戻れない場所) 
13 tháng 10 năm 2016
15 "A Room Where We Can Someday See the Ocean"
"Itsuka Umi no Mieru Heya de" (いつか海の見える部屋で) 
20 tháng 10 năm 2016
16 "Bungo Stray Dogs"
"Bungō Sutorei Doggusu" (文豪ストレイドッグス) 
27 tháng 10 năm 2016
17 "Three Companies Conflict"
"San Shakyōgō" (社競合) 
3 tháng 11 năm 2016
18 "The Strategy of Conflict"
"Funsō no Senryaku" (紛争の戦略) 
10 tháng 11 năm 2016
19 "Will of Tycoon"
"Wiru Obu Taikūn" (ウィル・オブ・タイクーン) 
17 tháng 11 năm 2016
20 "Though the Mind May Be Wrong"
"Atama wa Machigau Koto ga Atte mo" (頭は間違うことがあっても) 
24 tháng 11 năm 2016
21 "Double Black"
"Sōtsu no Kuro" (双つの黒) 
1 tháng 12 năm 2016
22 "Part 1: Poe and Rampo / Part 2: Moby Dick, Swimming in the Sky"
"Sono Ichi: Poo to Ranpo / Sono Ni: Ten no Umi o Yuku Shiro Kujira no Ari te" (其の一『ポオと乱歩』/ 其の二『天の海をゆく白鯨のありて』) 
8 tháng 12 năm 2016
23 "Rashōmon, the Tiger and the Last Emperor"
"Rashōmon to Tora to Saigo no Taikun" (羅生門と虎と最後の大君) 
15 tháng 12 năm 2016
24 "If I May Shed Away My Burden Now"
"Moshi Kyō Kono Nimotsu o Oroshi te Yoi no nara" (若し今日この荷物を降ろして善いのなら) 
22 tháng 12 năm 2016
25 (OVA) "He Walks Alone"
"Hitori Ayumu" (ひとりあゆむ) 
4 tháng 8 năm 2017

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bungō Stray Dogs Gets Anime Adaptation at Studio Bones”. Anime News Network. 20 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  2. ^ “Aniplus HD Airs Simulcasts of Kiznaiver, Endride, Bungo Stray Dogs, Big Order”. Anime News Network. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2016. 
  3. ^ Ressler, Karen (8 tháng 7 năm 2018). “Yen Press Licenses Happy Sugar Life, Kakegurui Twins Manga, Penguin Highway, Walk on Girl, Mirai, Dive!! Novels”. Anime News Network. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2018. 
  4. ^ “文豪ストレイドッグス 太宰治の入社試験”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ “文豪ストレイドッグス 太宰治と黒の時代”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  6. ^ “文豪ストレイドッグス 探偵社設立秘話”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  7. ^ “文豪ストレイドッグス外伝 綾辻行人VS.京極夏彦”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016. 
  8. ^ “文豪ストレイドッグス 55Minutes”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016. 
  9. ^ “文豪ストレイドッグス (1)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ “Bungo Stray Dogs, Vol. 1”. Hachette Book Group. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2016. 
  11. ^ “文豪ストレイドッグス (2)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  12. ^ “Bungo Stray Dogs, Vol. 2”. Hachette Book Group. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016. 
  13. ^ “文豪ストレイドッグス (3)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  14. ^ “Bungo Stray Dogs, Vol. 3”. Hachette Book Group. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016. 
  15. ^ “文豪ストレイドッグス (4)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ “Bungo Stray Dogs, Vol. 4”. Hachette Book Group. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017. 
  17. ^ “文豪ストレイドッグス (5)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ “Bungo Stray Dogs Vol.5”. Yen Press. 2 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2017. 
  19. ^ “文豪ストレイドッグス (6)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  20. ^ “Bungo Stray Dogs Vol. 6”. Yen Press. 2 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2017. 
  21. ^ “文豪ストレイドッグス (7)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  22. ^ “Bungo Stray Dogs, Vol. 7”. Yen Press. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2018. 
  23. ^ “文豪ストレイドッグス (8)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  24. ^ “Bungo Stray Dogs, Vol. 8”. Yen Press. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2018. 
  25. ^ “文豪ストレイドッグス (9)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016. 
  26. ^ “文豪ストレイドッグス (10)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  27. ^ “文豪ストレイドッグス (11)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2016. 
  28. ^ “文豪ストレイドッグス (12)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017. 
  29. ^ “文豪ストレイドッグス (13)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017. 
  30. ^ “文豪ストレイドッグス (14)”. Kadokawa Corporation (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017. 
  31. ^ “STORY” (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  32. ^ “文豪ストレイドッグスの放送情報 - アニメ - TOKYO MX” (bằng tiếng Japanese). Tokyo MX. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  33. ^ “STORY” (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  34. ^ “文豪ストレイドッグスの放送情報 - アニメ - TOKYO MX” (bằng tiếng Japanese). Tokyo MX. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016. 
  1. ^ All English titles are taken from Crunchyroll.
  2. ^ The series was listed to premiere at 25:05 on 6 April 2016; this is the same as 1:05 on 7 April.
  3. ^ All English titles are taken from Crunchyroll.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]