Xuân Giang, Sóc Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Xuân Giang là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Xã Xuân Giang là nơi có thành Bình Lỗ nổi tiếng trong Chiến tranh Tống–Việt (981) do Lê Hoàn chỉ huy. Hiện còn di tích thành cổ bên sông Cà Lồ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Xuân Giang là 1 bộ phận của Huyện Sóc Sơn.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Xuân Giang có vị trí chiến lược, từ đây có thể kiểm soát các xã phía đông của huyện Sóc Sơn. Thời Pháp đã xây dựng nhiều đồn bốt để kiểm soát toàn bộ vùng này. Với vị trí quan trọng này khu Thá trở thành trung tâm buôn bán sầm uất của huyện.Phía đông xã giáp xã Việt Long, phía tây giáp hai xã Tân Minh và Đức Hòa, phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp xã Bắc Phú.

Nằm ven sông Cà Lồ là ranh giới của thành phố Hà Nội với tỉnh Bắc Ninh.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xuân Giang có 5 thôn và 1 xóm.

  • Thôn Lai Cách: Nằm ở phía bắc của xã, là thôn có dân số lớn nhất xã Xuân Giang. Phía đông giáp với xã Bắc Phú, Phía tây giáp Thôn Yên Sào và xã Tân Minh, phía Nam giáp Thôn Đại Tảo, Xuân Tảo, Phía đông giáp xã Việt Long.
  • Thôn Xuân Tảo: Là thôn có dân số chiếm thứ nhì xã. Phía đông giáp thôn Ngọc Hà, phía tây giáp thôn Đại Tảo, phía nam giáp sông Cà Lồ, sang bên kia sông là tỉnh Bắc Ninh, phía bắc là thôn Lai Cách.
  • Thôn Đại Tảo: Nằm ở phía nam của xã, là thôn có dân số lớn thứ ba xã Xuân Giang. Phía đông giáp thôn Xuân Tảo, phía tây giáp xóm Thá, phía nam giáp sông Cà Lồ, phía bắc giáp thôn Lai Cách.
  • Thôn Ngọc Hà: Là thôn có dân số chiếm thứ tư xã. Phía đông giáp xã Việt Long, phía tây giáp thôn Xuân Tảo, phía nam giáp sông Cà Lồ, sang bên kia sông là tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp thôn Lai Cách.
  • Thôn Yên Sào: Là thôn bé nằm ở phía tây bắc của xã. Phía đông giáp thôn Lai Cách, phía tây giáp xã Tân Minh và xã Đức Hòa, phía nam giáp xóm Thá và sông Cà Lồ, phía bắc giáp xã Bắc Phú. Có tục rước cỏ voi ở hội đến Sóc vào ngày mùng 6 tháng giêng.
  • Khu Ba Hàng (Xóm Thá): Vốn là 1 dải đất nhỏ ven đường lớn, từng là đất của các thôn Yên Sào, Đại Tảo sau tách ra thành 1 thị tứ. Là một khu nhỏ nằm dải rác ven khu đường phát triển kinh tế mạnh nhất xã. Phía đông giáp thôn Đại Tảo, phía tây giáp xã Đức Hòa, phía nam và phía bắc giáp thôn Yên Sào.

Thành Bình Lỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Bình Lỗ được xây dựng trên một doi đất cao, có tọa độ là 21.236822 vĩ tuyến Bắc và 105.918846  kinh tuyến Đông, ngay bờ Nam sông Cà Lồ, cách ngã ba Xà khoảng 2 km.  Doi đất có hình dạng giống như một chiếc móng chân ngựa, chỗ rộng nhất lên đến trên 700 m, hơn 2/3 chu vi được bao bọc bởi dòng sông Cà Lồ tạo thành con hào thiên nhiên khó vượt qua. Lòng sông Cà Lồ nhỏ hẹp, bề ngang trung bình khoảng 50 m và về mùa cạn mực nước thông thường chỉ dao động từ 1,0 m đến 2,5 m. Với điều kiện như vậy nên xưa kia Lê Hoàn có thể ra lệnh cho quân và dân "thung mộc hạn giang" nghĩa là có thể đóng cọc tre gỗ thẳng xuống lòng sông từ bờ này sang bờ kia để cản giặc.

Toàn bộ khu vực ngã ba Xà, với sông ngòi và rừng rậm thời bấy giờ, dễ dàng cho phép xây dựng ở đây một  trận địa mai phục như vậy. Đặc biệt dải đất với diện tích khoảng 5 km2 này lại được bao bọc bởi 3 khúc sông, một đoạn là hạ lưu sông Cà Lồ khoảng 2 km, một khúc sông Cầu và một nhánh sông nhỏ nối tắt từ sông Cà Lồ đến bến đò Như Nguyệt dài hơn 3 km. Đỉnh giữa của tam giác là ngã ba Xà, cạnh đáy là nhánh sông nhỏ (đến thời Nhà TrầnHậu Lê bịt kín bởi các con đê). Đỉnh bên trái của tam giác là doi đất nhô cao hơn hẳn khu vực xung quanh. Mạng lưới sông ngòi, thuỷ văn ở đây tuy nhỏ nhưng đủ tạo thành một vùng khép kín, liên thông với nhau, dễ dàng phát triển thành một căn cứ thủy binh mạnh khi chiến sự xảy ra.

Doi đất như được thiên nhiên tạo ra để trở thành một pháo đài dễ phòng thủ và khó tấn công. Gần đây nhất là vào cuối thế kỷ 17, một số giáo sĩ phương Tây đầu tiên đã đến nơi này để truyền đạo, họ gom dân và xây dựng trên doi đất này một làng công giáo đông đảo, về sau phát triển thành một Xứ đạo lấy tên là Trung Nghĩa [1]. Tuy ngôi làng chỉ tồn tại đến năm 1954, nhưng qua đó cũng cho thấy người phương Tây coi trọng giá trị quân sự của doi đất này trong việc phòng thủ Hà Nội từ xa trước những mối đe doạ từ phía Bắc.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]