Phú Cường, Sóc Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phú Cường, Sóc Sơn
Địa lý
Diện tích 8.9913
Dân số  
 Tổng cộng 12.321 người
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Hà Nội
Huyện Sóc Sơn
Mã hành chính 00442[1]

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Phú Cường nằm ở phía Bắc Thủ đô Hà Nội, phía Tây Nam huyện Sóc Sơn, phía Bắc giáp xã Quang Tiến và sân bay quốc tế Nội Bài, phía Tây giáp xã Thanh Xuân, phía Nam giáp xã Quang Minh (huyện Mê Linh) và xã Bắc Hồng (huyện Đông Anh), ranh giới là đoạn sông Cà Lồ thuộc địa phận xã dài 3.5 km, phía Đông giáp xã Phú Minh, xen kẽ là những thửa ruộng liền bờ giữa hai xã.

Dân số toàn xã tính đến hết năm 2010 là 3024 hộ, với 12321 người. Diện tích đất tự nhiên của xã là 899.13 ha. Cũng như nhiều xã trong huyện, địa hình của Phú Cường thuộc vùng trung du bán sơn địa, đất nghiêng dần theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Trên địa bàn xã có các nút giao thông đường bộ quan trọng của trung ương đi các tỉnh như: đường quốc lộ 2, quốc lộ 18, đường cao tốc Bắc Thăng Long- Nội bài, đường nối Nhật Tân và đặc biệt là cảng hàng không quốc tế Nội Bài.

Lịch sử ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Từ xa xưa đến thập kỷ 50-60 của thế kỷ XX, Phú Cường có nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính.

Năm 544-548, thời vua Lý Nam Đế, gọi là làng Gia Hạ, ở tại Đồng Nẻ. Về sau, làng Gia Hạ chuyển về định cư sát sông Cà Lồ nhằm đảm bảo nguồn nước sinh sống lâu dài.

Năm 557, thời Việt Vương Triệu Quang Phục, làng Gia Hạ đổi tên thành làng Hương Gia.

Năm 1816, thời vua Duy Tân, làng Gia Hạ được chia thành hai làng Hương Gia, Thụy Hương và thuộc các huyện Thiên Đức, Đông Ngàn, Kim Hoa (tỉnh Bắc Ninh).

Năm 1836-1909, Hương Gia là lỵ sở của Huyện Kim Anh.

Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Kim Anh quyết định thành lập xã Tân Hưng và lấy tên mới là xã Việt Cường.

Ngày 20/6/1949, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Kim Anh quyết định hợp nhất hai xã Việt Cường và Phù Xá lấy tên là xã Phú Cường. Khi sát nhập, xã Phú Cường gồm các thôn: Hương Gia, Thụy Hương, Phú Ninh, (thuộc xã Việt Cường) và thôn Đông Bài, Nội Bài, Bùa Hậu, Phù Xá Đoài, Phù Xá Đông (thuộc xã Phù Xá), còn lại hai thôn Thạch Lỗi và Bến Cốc được nhập về xã Minh Tân.

Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, năm 1955, để phù hợp với giai đoạn cách mạng mới, huyện Kim Anh quyết định điều chỉnh lại địa giới hành chính một số thôn, xã. Theo đó, Phú Cường được chia tách thành hai xã Phú Minh và Phú Cường. Xã Phú Cường gồm các thôn: Hương Gia, Thụy Hương, ấp Cầu Đen, Đồng Lều, Tân Phú. Địa giới hành chính và tên gọi xã Phú Cường được giữ nguyên cho đến ngày nay[2]

Những danh hiệu và phần thưởng cao quý Đảng và Nhà nước tặng Đảng bộ và nhân dân xã[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống Pháp được nhà nước tặng 3 huân chương kháng chiến chống Pháp, 26 huy chương hạng nhất và 49 bằng khen.

Trong kháng chiến chống Mỹ được nhà nước tặng 32 huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, 58 huân chương hạng nhì, 95 huân chương hạng ba, 111 huy chương hạng nhất, 192 huy chương hạng nhì.

Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc có 158 liệt sĩ, 5 bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Năm 1967, được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba.

Năm 1997, Nhà nước tặng huân chương chiến công hạng ba.

Năm 2000, Chủ tịch nước tặng danh hiệu "Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân" cho nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã.

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tặng cờ đơn vị dẫn đầu thi đua xuất sắc.

Năm 2001, Bộ công an tặng bằng khen cho nhân dân và cán bộ xã Phú Cường. Ủy ban thành phố tằng cờ đơn vị dẫn đầu thi đua xuất sắc.

Năm 2002, Ủy ban thành phố tặng cờ thi đua xuất sắc.

Năm 2003, Thủ tướng tặng bằng khen cho nhân dân và cán bộ. Ủy ban thành phố tặng cờ đơn vị thi đua xuất sắc.

Năm 2004, 2005, 2006 Ủy ban nhân dân thành phố tặng cờ và bằng khen.

Năm 2007, Chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng ba. Bộ trưởng bộ LĐ-TBXH tặng bằng khen, ủy ban nhân dân thành phố tặng bằng khen.

Năm 2008, 2009, 2010 thành phố tặng cờ và bằng khen.

Làng Thụy Hương[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy Hương là một làng cổ thuộc xã Phú cường, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội Phía đông giáp với làng Hương Gia, phía bắc giáp với thôn Điền Xá(Quang Tiến) và sân bay quốc tế Nội Bài và thôn Tân Phú ở phía đông bắc, phía tây và nam giáp với thôn Gia Tân (xã Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội) và khu trung cư Quang Minh ngăn cách với nhau bởi sông Cà Lồ, phía tây bắc giáp với thôn Thạch lỗi (xã Thanh xuân)

Trên địa bàn thôn có các nút giao thông đường bộ quan trọng của trung ương đi các tỉnh như: đường quốc lộ 2, quốc lộ 18, đường cao tốc Bắc Thăng Long- Nội bài.

Trên quốc lộ 18 có 2 cầu vượt mang tên Thụy Hương 1 và Thụy Hương 2 Làng Thụy Hương có 14 xóm (đội) và 1 khu phố, các xóm và khu phố là:

Đội 1: xóm Đình

Đội 2: xóm Huyện

Đội 3: xóm Miếu

Đội 4: xóm Bia

Đội 5: xóm Giữa

Đội 6: xóm Xi

Đội 7: xóm Ngạnh

Đội 8: xóm Chùa

Đội 9: xóm Mảnh

Đội 10: xóm Đường

Đội 11: xóm Đường

Đội 12: xóm Đường

Đội 13: xóm Đường

Đội 14: ấp Cầu Đen,khu tập thể Hàng không - Giáo viên và phố chợ Phú Cường.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Do biến cố lịch sử, lang Thụy Hương có nhiều tên gọi khác nhau Năm 544-548, thời vua Lý Nam Đế, gọi là làng Gia Hạ, ở tại Đồng Nẻ. Về sau, làng Gia Hạ chuyển về định cư sát sông Cà Lồ nhằm đảm bảo nguồn nước sinh sống lâu dài.

Vào thế kỉ thứ 9, làng Thụy Hương có tên là hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc, sau là thôn Đoài, xã Da Hạ, huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà. Năm 1816, thời vua Duy Tân, có tên là Thụy Hương thuộc các huyện Thiên Đức, Đông Ngàn, Kim Hoa (tỉnh Bắc Ninh) Ngày 20/6/1949, Thụy Hương thuộc xã Phú Cường, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phú ngày 5 tháng năm 1977, huyện Kim Anh hợp nhất với huyện Đa Phúc thành huyện Sóc Sơn. Ngày 29/12/1978 huyện Sóc Sơn được chuyển về Hà Nội.

Hiện tại làng Thụy Hương thuộc xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, Hà Nội

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Thụy Hương có tên khác là Linh Quang Tự có hầm của phi công công sản Việt Nam thời chiến tranh chống Mỹ, hiện nay di tích đã được tu bổ khang trang.

Đền thụy Hương đã được phong di sản văn hóa cấp quốc gia, đã có dịp BÁC HỒ đến thăm.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Chân Lưu là cháu đích tôn của Ngô Quyền.ông là một nhà sư được Đinh Tiên Hoàng phong Tăng thống. ông là vị thiền sư được phong Tăng thống đầu tiên của trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bí thư Đảng ủy xã: 'Trần Anh Tuấn'

Chủ tịch xã: Nguyễn Văn Huynh

Phó Chủ tịch xã:. Trần Văn Mưu,nguyễn văn dũng

Trưởng Công an xã: Nguyễn văn Tuấn

kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 2000: chủ yếu sản xuất nông nghiệp.
Sau năm 2000: phát triển buôn bán, thanh niên làm công nhân tại các khu công nghiệp.
  1. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam
  2. ^ Bản đồ hành chính Việt Nam