Cá mập trắng lớn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Carcharodon carcharias
Thời điểm hóa thạch: 16–0Ma[1]
Miocene to Recent
Whiteshark-TGoss1.jpg
Great white shark size comparison.svg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Chondrichthyes
Phân lớp (subclass) Elasmobranchii
Bộ (ordo) Lamniformes
Họ (familia) Lamnidae
Chi (genus) Carcharodon
A. Smith, 1838
Loài (species) C. carcharias
Danh pháp hai phần
Carcharodon carcharias
(Linnaeus, 1758)
Phân bổ (màu xanh lam)
Phân bổ (màu xanh lam)

Cá mập trắng lớn, được biết đến với các tên gọi khác như mũi kim trắng, cái chết trắng, cá mập trắng, là một loài cá mập to khác thường được tìm thấy ở miền duyên hải trên khắp các đại dương. Với chiều dài 6 mét (20 ft)[3], nặng hơn 2 tấn (4.400 lb)[4], cá mập trắng lớn chính là loài cá ăn thịt lớn nhất thế giới. Chúng cũng được coi là những sinh vật săn mồi hàng đầu khi chỉ bị đe dọa bởi con ngườicá voi sát thủ (đã có những trường hợp cá mập trắng lớn trưởng thành bị cá voi sát thủ ăn thịt).

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập trắng lớn thường sinh sống ở ven biển và ngoài khơi, nơi có nhiệt độ nước vào khoảng 12 °C đến 30 °C, nhưng tập trung chủ yếu ở ven biển Úc, Nam Phi, California, Trung Địa Trung Hải, biển Adriatic, Hoàng Hải, những vùng phong phú con mồi như hải cẩu, sư tử biển, cá mập nhỏ, cá heo, cá voi... Chúng có thể sống ở độ sâu tới 1280 m, nhưng chủ yếu vẫn là gần mặt biển.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập trắng dài hơn 6 m và nặng đến 3 tấn. Con cái thì lớn hơn con đực. Cá mập trắng có thân hình giúp chúng bơi nhanh hơn. Lưng cá mập trắng có màu xám nhạt. Khi nhìn từ dưới nước bụng chúng có màu trắng và cái lưng màu xanh. Vây lưng cá mập trắng có thể cao hơn 1.5 m. Cái đuôi của chúng có gờ đuôi làm cản sức nước giúp con cá phóng đi như tên bắn.

Do hàm răng là công cụ săn mồi tối quan trọng của cá mập trắng nên chúng có thể thay răng rất nhiều lần. Răng cá mập có thể thay không giới hạn trong suốt cuộc đời chúng. Ngay sau khi một chiếc răng bị gãy, tổn thương... một chiếc mới sẽ thay thế nó trong vòng một thời gian rất ngắn, thậm chí chỉ trong 24 giờ. Chính đặc điểm này giúp cá mập luôn luôn có một hàm răng sắc khỏe, đảm bảo những cuộc săn mồi thành công.

Sự thích nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập trắng có thể thích nghi với môi trường nước ấm và lạnh. Vì chúng có một đặc điểm là chúng có thể chuyển máu lạnh thành máu nóng để giúp chúng thích nghi và săn mồi tốt. Cá mập trắng chỉ thích sống ở các vùng nước ấm không lạnh cũng không nóng.

Con mồi hàng ngày[sửa | sửa mã nguồn]

Con mồi ưa thích của cá mập trắng lớn là các loài thú chân màng như hải cẩu, sư tử biển. Ngoài ra chúng còn ăn cá, các loại cá mập nhỏ hơn, cá voi, cá heo, rùa và xác động vật chết trôi nổi trên biển.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập trắng thường bơi và săn mồi vào ban ngày. Chúng có thể bơi tới 32 km/giờ. Chúng có thể nhảy lên khỏi mặt nước 6 m. Cá mập trắng là loài động vật thông minh, chúng tiếp cận con mồi từ bên dưới mặt nước và tấn công bằng cú táp khủng khiếp. Gặp con mồi ưa thích con cá sẽ đuổi cho bằng được. Nó có thể vừa bơi vừa gậm con hải cẩu, lâu lâu lại dứt một miếng. Có lúc nó có thể thả con mồi ra và lượn lờ xung quanh thỉnh thoảng lao vào đớp một miếng cho đến khi con mồi chết vì mất máu.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập trắng đẻ con. Chúng nuôi con từ những buồng trứng và tiếp chất dinh dưỡng. Cá mập trắng con khi mới sinh đã dài gần 1 m.

Quan hệ với con người[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập có tính rất tò mò. Mỗi khi gặp một thể lạ chúng sẽ bơi lại kiểm tra. Các nhà khoa học cho thấy cá mập trắng rất hay tiếp xúc với con người. Những người thợ lặn đã từng bơi với cá mập trắng, họ còn chạm mũi của chúng điều đó cho thấy cá mập rất hay tiếp xúc với con người.

Tấn công con người[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cá mập tấn công

Cá mập trắng, tuy là loài cá hiếu chiến, nhưng chúng rất ít khi tấn công con người. Ngoài trừ khi chúng lầm tưởng con người là một món ăn thường nhật (hải cẩu, rùa biển...) hoặc lúc chúng quá đói. Bộ phim Jaws (tạm dịch: Hàm cá mập) của đạo diễn Steven Spielberg đã làm cho người ta có phần hiểu sai về loài động vật này. Theo những khảo sát thì số người chết vì bị ong chích, rắn cắn và ngay cả sét đánh cũng còn nhiều hơn cả số người bị cá mập trắng giết hại (tính theo trung bình 1 năm).

Trong tình trạng bị nuôi nhốt[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CA
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên iucn
  3. ^ Viegas, Jennifer. “Largest Great White Shark Don't Outweigh Whales, but They Hold Their Own”. Discovery Channel. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ “Great White Shark”. National Geographic. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]