Cá heo Dall

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá heo Dall[1]
Dalls Porpoise Underwater.JPG
Dall's porpoise size.svg
Kích thước so với một người trung bình
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Cetacea
Họ (familia) Phocoenidae
Chi (genus) Phocoenoides
Loài (species) P. dalli
Danh pháp hai phần
Phocoenoides dalli
(True, 1885)
Phạm vi sinh sống của cá heo Dall
Phạm vi sinh sống của cá heo Dall

Cá heo Dall (danh pháp hai phần: Phocoenoides dalli) là thành viên duy nhất của chi Phocoenoides và cũng là một loài của cá heo chỉ có ở Bắc Thái Bình Dương. Nó được biết đến trên toàn thế giới trong những năm 1970 khi các tàu đánh bắt cá hồi đã giết chết hàng ngàn con cá heo Dall và các loài động vật biển có vú khác mỗi năm. Nó được đặt theo tên sau của nhà tự nhiên học người Mỹ William Healey Dall.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Một con cá heo Dall tại eo biển Shelikof

Cá heo Dall thích sống ở vùng nước lạnh ở độ sâu trên 180 mét (590 ft).[3] Nó được tìm thấy trên các thềm lục địa hoặc gần các sườn núi dưới biển.[4] Trong khi đó, môi trường sống chủ yếu là ở vùng biển xa bờ Bắc Mỹ gần các hẻm núi và nước sâu.

Phạm vi sống của cá heo Dall ở Bắc Thái Bình Dương và các vùng biển lân cận, bao gồm biển Bering, biển Okhotskbiển Nhật Bản. Phạm vi phía phía Tây tới cực Nam là ở Nhật Bản và kéo dài sang phía Đông cực Nam tới California, trong khi cực Bắc là khu vực biển Bering.[5] Chúng không được tìm thấy ở Baja California, kể cả là vào mùa lạnh[6] và thi thoảng cũng thấy ở biển Chukchi, mặc dù là rất hiếm.[5]

Số lượng hiện nay của cá heo Dall vào khoảng 104.000 con ở ngoài khơi Nhật Bản, 554.000 con ở biển Okhotsk, 83.000 con ở ngoài khơi Alaska và 100.000 con ở gần lục địa Hoa Kỳ.[5]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh từ trên cao của một con cá heo Dall

Cá heo Dall có hình dạng cơ thể độc đáo làm cho nó dễ dàng phân biệt được với các loài khác. Màu sắc bên ngoài của chúng khá giống với cá voi sát thủ, nhưng sự phân bố là rõ ràng với mảng trắng trên sườn và bụng còn màu đen ở vùng đầu kéo dài dọc theo lưng tới đuôi. Vây lưng nằm thẳng đứng và ở chính giữa của lưng. Phần trên của vây lưng có màu trắng xám. Cơ thể của một con trưởng thành ở cá heo Dall là lớn hơn so với các loài cá heo khác, với chiều dài lên đến 2,3 mét (7,5 ft) và trọng lượng từ 130 – 220 kg (290 - 490 lb).[3]. So với con cái thì con đực có kích thước lớn hơn, cuống đuôi dài hơn và một cái bướu phát âm thanh ở phía sau hậu môn.[3]. Cá heo con có màu xám tối.

Thức ăn chủ yếu của cá heo Dall là các loài cá nhỏ và mực[5]. Các loài cá như cá trích, cá cơm, cá thu, cá tuyết và các loài cá biển mỏ dài và một số loại cá nhỏ khác [3][5] là những con mồi ưa thích của chúng. Cá heo Dall cũng là những thợ lặn tốt, có thể lao xuống độ sâu khoảng 100 mét.[7]

Mối đe dọa của cá heo Dall ngoài con người thì còn có cá voi sát thủcá mập trắng. Cùng với đó, bệnh tật do các loài ký sinh trùng như sán lá, sán Nastitrema... và tình trạng mắc cạn cũng gây nên cái chết cho cá heo Dall.[5]

Cá heo Dall là loài động vật có tính linh hoạt cao. Chúng thường xuyên bơi ngoằn ngoèo xung quanh với tốc độ lớn hoặc ngay dưới bề mặt nước, tạo ra những sóng nước được gọi là "rooster tail" (đuôi gà trống). Chúng có thể xuất hiện và biến mất một cách đột ngột. Trong các loài động vật biển nhỏ có vú, cá heo Dall là loài di chuyển có tốc độ nhanh nhất, nó có thể bơi với vận tốc lên đến 55 km/h, ngang với loài cá voi sát thủ. Vì vậy, chúng rất thích bơi trước mũi các tàu thuyền di chuyển với tốc độ lớn. Loài cá heo này hiếm khi nhảy lên khỏi mặt nước như những loài cá heo khác.[5]

"Đuôi gà trống" được tạo ra bởi một con cá heo Dall tại Prince William Sound

Cá heo Dall sống thành từng nhóm nhỏ từ 2 đến 12 con.[3] Tuy nhiên, khi săn mồi nó có thể tập hợp lên tới hàng trăm cá thể.[3]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Một con đực có thể giao phối với rất nhiều con cái khác nhau, và nó sẽ bảo vệ "đàn vợ" đông đúc của nó.[8]. Thời gian sinh đẻ thường diễn ra vào mùa hè.[5] Cá heo cái mang thai kéo dài từ 10 - 11 tháng, và thời kỳ cho con bú kéo dài ít nhất thêm 2 tháng nữa.[3] Tùy thuộc vào tình trạng, con cái có thể sinh con mỗi năm một lần hay lâu hơn.[3] Tuổi thọ của cá heo Dall có thể đạt tới 15 năm.

Cá heo Dall bị giết thịt ở Nhật Bản

Một nghiên cứu [9] xác định thông xét nghiệm DNA từ một bào thai được tìm thấy ở vùng biển của British Columbia là một cá thể lai giữa cá heo Dall và cá heo Harbour. Cái này có thể là không phải hiếm gặp nhưng nó có thể là bằng chứng giải thích về những con cá heo Dall có màu sắc khác lạ được phát hiện ngoài khơi bờ biển của đảo Vancouver.

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi năm, có rất nhiều cá heo Dall bị săn bắt bởi lưới đánh cá. Số lượng cá heo bắt mỗi năm tăng lên đáng kể sau khi lệnh cấm săn bắn loài động vật biển có vú lớn được ban hành trong những năm giữa 1980. Nhiều nhất là vào năm 1988, khi hơn 40.000 con đã bị đánh bắt. Sự chú ý của thế giới đến loài cá heo này khi vào năm 1990 Ủy ban quốc tế Whaling (IWC) đã quy định các công ước để giảm thiểu số lượng đánh bắt. Tuy nhiên, vẫn có khoảng 15.000 con bị săn bắt mỗi năm, khiến nó trở thành loài bị săn bắt nhiều nhất trong bộ Cá voi. Việc săn bắt đã nhiều lần bị chỉ trích từ phía IWC và Ủy ban khoa học, gần đây nhất là vào năm 2008.[10] Một hạn ngạch quy đinh mỗi năm không được săn bắt quá 16.000 con đã có hiệu lực. Mặc dù có rất nhiều những mối đe dọa, nhưng cá heo Dall vẫn là một loài khá phổ biến với những người đánh bắt thủy sản. Cá heo Dall được liệt kê trong Phụ lục II [11] của Công ước về Bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư (CMS).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mead, James G.; Brownell, Robert L., Jr. (16 tháng 11 năm 2005). “Order Cetacea (pp. 723-743)”. Trong Wilson, Don E., and Reeder, DeeAnn M., eds. Mammal Species of the World: A Taxonomic and Geographic Reference (ấn bản 3). Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2 tập (2142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Hammond, P.S., Bearzi, G., Bjørge, A., Forney, K., Karczmarski, L., Kasuya, T., Perrin, W.F., Scott, M.D., Wang, J.Y., Wells, R.S. & Wilson, B. (2008). Phocoenoides dalli. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 7 October 2008.Database entry includes a lengthy justification of why this species is of Least Concern
  3. ^ a ă â b c d đ e Bản mẫu:RefAudubonMarineMammals
  4. ^ Hall, J. 1979. A survey of cetaceans of Prince William Sound and adjacent waters - their numbers and seasonal movements. Unpubl. rep. to Alaska Outer Continental Shelf Environmental Assessment Programs. NOAA OCSEAP Juneau Project Office, Juneau, AK. 37 pp.
  5. ^ a ă â b c d đ e Thomas A. Jefferson. "Dall's porpoise Phocoenoides dalli" pp. 296-298 of Encyclopedia of Marine Mammals (edited by William F. Perrin, Bernd Wursig, and J. G.M. Thewissen), Academic Press; 2nd edition, (2008).
  6. ^ Morejohn, GV (1979). The natural history of Dall's porpoise in the North Pacific Ocean. In "Behavior of Marine Animals", Vol. 3, "Cetaceans" (Eds HE Winn and BL Olla) pp. 45-83. Plenum Press, New York
  7. ^ Hanson, M.B., and R.W. Baird. 1998. "Dall’s porpoise reactions to tagging attempts using a remotely-deployed suction-cup attached tag". Marine Technology Society Journal 32(2):18-23.
  8. ^ Willis P. M., Dill L. M. (2007). "Mate Guarding in Male Dall's Porpoises (Phocoenoides dalli)". Ethology 113(6): 587-597.
  9. ^ *An intergenetic breed in the family Phocoenoidae, Canadian Journal of Zoology, Baird, Willis, Guenther, Wilson and White 1998. Vol 76 pages 198-204.
  10. ^ “Report of the Sub-Committee on Small Cetaceans”. 7.6: International Whaling Commission. Tháng 6 năm 2008. tr. 10. Truy cập tháng 3 năm 2010. 
  11. ^ "Appendix II" of the Convention on the Conservation of Migratory Species of Wild Animals (CMS). As amended by the Conference of the Parties in 1985, 1988, 1991, 1994, 1997, 1999, 2002, 2005 and 2008. Effective: 5th March 2009.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]